Hoàng Nhật Vy
Giới thiệu về bản thân
Câu 9:
Biện pháp tu từ so sánh: hình ảnh được so sánh " lời ru là tấm chăn", " Lời ru thành giấc mộng".
Tác dụng:
- Tăng sức gợi hình, gợi cảm cho câu thơ trở nên sinh động hấp dẫn hơn.
- Lời ru được ví như " tấm chăn" mang lại sự ấm áp, che chở, và "giấc mộng" mang lại sự êm dịu an lành, bình yên trong tâm hồn trẻ con
- Phải có một trái tim nhân hậu thì tác giả, giàu tình yêu thương thì tác giả mới phát hiện và ghi lại cảm xúc một cách chân thành và sâu sắc đến thế.
Câu 10:
- Thông điệp chung từ các dòng thơ trên là
+ Tình mẫu tử là vĩnh hằng, bất diệt, luôn tìm thấy trong cuộc đoiè mỗi người. Dẫu con lớn khôn thì mẹ vẫn không xa vắng, vẫn ở bên chia ngọt sẻ bùi, che chở con, dõi theo từng bước đi của con.
+ Biết yêu thương mẹ, trân trọng và biết ơn mẹ.
Câu 1: Phương thức biểu đạt chính : thuyết minh
Câu 2: Theo tác giả việc đặt tên của các quán phở gồm những quy luật sau:
- Dùng tên cúng cơm của người chủ hoặc người con để đặt cho tên gánh, tên hiệu. VD: phở Phúc, phở Thọ, phở Lộc....
- Lấy một đặc điểm tật nguyền trên cơ thể người bán phở để đặt cho tên gánh, tên hiệu. VD: phở Gù, phở Lắp, phở Sứt,...
Câu 3:
- Tác giả đã nói về phở dựa trên những phương diện sau:
+ Thời điểm thích hợp để ăn phở: phở ăn bất cứ vào thời điểm nào cũng điều thấy trôi cả. Sớm, trưa, chiều, tối, khuya, lúc nào cũng ăn được.
+ Những quy luật trong việc đặt tên cho quán phở: Tên người bán phở thường chỉ dùng một tiếng,... người sành.
+ Sự mai một của tiếng rao bán phở trong đời sống hiện nay: Tại sao, bây giờ Hà Nội vẫn có phở, mà tiếng rao lại vắng hẳn.
- Cái nhìn của tác giả về phở: Cái nhìn trân trọng, yêu quý và cũng xen chút tiếc nuối vì trong đời sống của người Việt, đặc biệt là người Hà Nội, yếu tố bình dị, đặc trưng của nó.
Câu 4:
-Đề tài: phở
- Chủ đề : Ca ngợi món phở - một món ăn truyền thống, gắn bó sâu sắc với con người Việt Nam, đặc biệt là người Hà Nội.
Câu 5:
- Tình cảm của tác giả đối với phở là:
+ Nguyễn Tuân đã thể hiện sự yêu mến, trân trọng, thân thuộc với món phở.
+ Tác giả cũng thể hiện sự tự hào, hoài niệm, thân thuộc gần gũi về món ăn này.
Câu 1: Thể loại của văn bản trên là : bút ký
Câu 2: Theo tác giả, điều làm nên " nghệ thuật " ăn quà của người Hà Nội là :
-Nghệ thuật ăn quà của người Hà được thể hiện ở sự tinh tế, biết thưởng thức không chỉ bằng miệng mà còn bằng mắt.
- Còn thể hiện qua việc " ăn đúng cái giờ ấy và chọn người bán ấy", tức là chọn thời điểm ăn và chọn người bán món quà đúng mới thể hiện được mình là người sành ăn.
Câu 3:
-Biện pháp tu từ so sánh.
- Tác dụng :
+ Làm nổi bật sự sắc bén của con dao " sáng như nước ", và cảm giác ngọt lịm, êm ái khi thức quà được cắt ra " ngọt như đường ".
+ Làm tăng sức gợi hình, gợi cảm cho câu văn thêm sinh động hơn.
Câu 4: Chủ đề của văn bản là: miêu tả cái hay, cái ngon của các thức quà Hà Nội, ca ngợi những nét văn hóa ẩm thức tinh tế, độc đáo và nếp sống thanh lịch của người Hà Nội xưa.
Câu 5: Nhận xét về cái tôi trữ tình của tác giả được thể hiện trong văn bản trên là : được thể hiện rất tinh tế , giàu tình yêu và sự gắn bó sâu sắc với văn hóa, nếp sống thanh lịch của người Hà Nội xưa, ông thể hiện sự quan sát tỉ mỉ, trân trọng những điều bình dị, dân dã của đời sống, và sự am hiểu về ẩm thực Hà Nội.
Câu 6: Em có suy nghĩ sự gắn bó của mỗi người về quê hương là:
- Quê hương là cội nguồn, là những hình ảnh thân thuộc của mọi người, sự gắn bó có thể là niềm tự hào, tình yêu về quê hương. Mỗi người điều có quê hương của riêng mình, khi nhắc đến 2 từ " quê hương" trong lòng em lại dậy lên hình ảnh quê hương, hình ảnh mùa đông nơi mọi người cùng nhau quây quần bên bếp lửa, sự gắn bó nâng đỡ nhau trong cuộc sống mang lại một cảm giác ấm lòng đến lạ thường.
Bài làm
Truyện ngắn " Bí mật của Na và mẹ" của nhà văn Trần Tùng Chinh đã để lại ấn tượng sâu sắc trong em qua hình tượng nhân vật cô bé Na. Na hiện lên với tấm lòng nhân hậu, tình yêu thương sâu sắc cho cá loài động vật nhỏ bé, mang lại bài học ý nghĩa về sự tử tế.
Na là nhân vật chính trong truyện, một cô bé cùng mẹ và anh hai. Cô bé phải đối mặt với hành động vô tâm của anh hai- người thường dùng đồ chơi tự ché để làm hại các loài dộng vật nhỏ. Na hiện lên với tấm lòng nhân hậu, biết trân trọng và yêu thương những sinh linh bé nhỏ. Na đã bí mật giấu chiếc ná thun của anh hai để bảo vệ "lũ chim sẻ trên cây mận sau nhà" khỏi bị bắn. Cô bé cất luôn cả những viên "đận bằng giấy cứng" mà anh hai dùng để " bắt thằn lằn". Những hành động này cho thấy tình yêu thương của Na không chỉ là cảm xúc thoáng qua mà đã trở thành hành động quyết liệt. Na không chỉ buồn khi thấy các con vật bị làm hại, mà còn chủ động tìm cách bảo vệ chúng. Điều đó cho thấy một tâm hồn trong sáng , giàu lòng trắc ẩn và tử tế sâu sắc.
Bên cạnh lòng nhân hậu, Na còn là một cô bé can đảm dám làm điều mình cho là đúng dù phải nói dối. Khi thấy anh hai hỏi, Na trả lời "tỉnh queo" rằng mình không thấy, dù biết rõ chiếc ná thun ở đâu.Cô bé không hề giật mình hay lo lắng nhưng những lần trước, cho thấy sự quyết tâm bảo vệ các con vật. Khi mẹ phát hiện ra chiếc hộp, dù lo sợ, Na đã " vừa thút thít vừa nói cho mẹ nghe toàn bộ sự thật". Lời nói dối của Na không xuất phát từ sự gian trá mà từ mục đích tốt đẹp, đó là một lời nói dối nhân văn để bảo vệ sự sống. Việc Na dám thú nhận mọi chuyện với mẹ cho thấy sự trung thực và lòng dũng cảm.
Tác giả Trần Tùng Chinh đẫ khéo léo xây dựng nhân vật Na chủ yếu qua hành động ( hành động bí mật giấu đồ chơi của anh hai ) và dòng suy nghĩ nội tâm, giúp nhân vật hiện lên một cách sống động và chân thực. Tình huống truyện độc đáo ( mẹ phát hiện chiếc hộp bí mật) đã trở thành nút thắt để tính cách của Na được bộc lộ rõ nét nhất. Ngôi kể thứ ba nhưng tập chung chủ yếu vào góc nhìn của Na cững góp phần khắc họa rõ nét nội tâm nhân vật. Tác giả đẫ sáng tạo chi tiết có giá trị biểu hiện đặc sắc " chiếc hộp bí mật" đã làm sáng rõ tấm lòng nhân hậu và sự can đảm thầm lặng của Na. Chiếc hộp vừa là nơi cất giấu "vũ khí" của anh hai vừa là nơi chứa đựng tình yêu thương của cô bé. Ngôn ngữ kể chuyện trong sáng, giản dị, giàu cảm xúc, góp phần thể hiện vẻ đẹp tâm hồn nhân vật.
Qua nhân vật Na, tác giả gửi gắm chủ đề về tầm quan trọng của lòng nhân ái, sự đồng cảm và trách nghiệm bảo vệ thế giới tự nhiên, dù là những sinh vật nhỏ bé nhất. Câu chuyện là bài học quý giá về tình yêu thương vạn vật, đầy thấu hiểu và yêu thương của người mẹ, người đã biến lỗi lầm của con thành '' bí mật của hai mẹ con'', qua đó nuôi dưỡng lòng nhân hậu trong con.
Khép lại trang truyện, hình ảnh cô bé Na với chiếc hộp bí mật và tấm lòng nhân hậu vẫn còn động lại trong tâm trí người đọc. Hình tượng nhân vật Na đã khơi dậy trong mỗi chúng ta tình yêu thương đối với thế giới tự nhiên. Câu truyện tiếp thêm động lực để sống tử tế, biết trân trọng và can đảm bảo vệ những sinh linh bé nhỏ.