Triệu Phương Thảo
Giới thiệu về bản thân
- Thoát hơi nước có vai trò: tạo động lực cho vận chuyển nước và chất khoáng trong cây; giúp lá cây không bị đốt nóng dưới ánh nắng mặt trời; trao đổi khí giữa cây và môi trường.
- Khi đứng dưới bóng cây thấy mát hơn đứng dưới mái che bằng vật liệu xây dựng vì:
+ Cây xanh có khả năng thoát hơi nước. Ngồi dưới bóng cây có hơi nước thoát ra từ lá cây, có cây che bóng mát nên cảm thấy mát mẻ, dễ chịu hơn ngồi dưới mái che bằng vật liệu xây dựng.
+ Vật liệu xây dựng, thông thường bao gồm các loại mái sắt thép, tôn nhựa lại thường có cơ chế bức xạ nhiệt trực tiếp với ánh sáng mặt trời nên hấp thụ nhiệt lớn.
Phương trình:
\(\text{Nước} + \text{Khí carbon dioxide} \xrightarrow[\text{Diệp lục}]{\text{Ánh sáng}} \text{Chất hữu cơ} + \text{Khí oxygen}\)
- Hấp thụ khí carbon dioxide: Trong quá trình quang hợp, cây xanh lấy vào khí \(CO2\) từ môi trường. Đây là loại khí gây ra hiệu ứng nhà kính và là sản phẩm của quá trình hô hấp, đốt cháy nhiên liệu. Việc giảm bớt CO2 giúp bầu không khí trong lành và mát mẻ hơn.
- Giải phóng khí oxygen: Sản phẩm của quang hợp giải phóng khí oxygen ra môi trường. Đây là dưỡng khí cần thiết cho sự sống và quá trình hô hấp của hầu hết các sinh vật trên Trái Đất (bao gồm cả con người).
- Duy trì cân bằng khí quyển: Hoạt động này giúp giữ cho tỉ lệ các chất khí trong không khí luôn ở mức ổn định, ngăn chặn sự ô nhiễm và biến đổi khí hậu.
a, Từ trường xuất hiện ở không gian bao quanh nam châm hoặc bao quanh dòng điện
b. Ra bắc, vào nam
Kí hiệu \(A , B\) là vị trí ông \(A\) và ông \(B\) đang đứng. \(C\) là vị trí bộ phát wifi.
Trong \(\triangle A B C\) có \(B C > A B - A C = 55 - 20 = 35\).
Suy ra khoảng cách từ ông \(B\) đến vị trí bộ phát wifi lớn hơn bán kính hoạt động của bộ phát.
Do đó ông \(B\) không nhận được sóng wifi.
Khoảng cách từ ông \(A\) đến bộ phát wifi là \(20\) m (nhỏ hơn bán kính hoạt động của bộ phát) nên ông \(A\) nhận được sóng wifi.
Xét \(6\) biến cố sau:
A: "Hải chọn suất ăn gồm đùi gà rán và phô mai que".
B: "Hải chọn suất ăn gồm đùi gà rán và khoai tây chiên".
C: "Hải chọn suất ăn gồm cánh gà rán và phô mai que".
D: "Hải chọn suất ăn gồm cánh gà rán và khoai tây chiên".
E: "Hải chọn suất ăn gồm phở và phô mai que".
F: "Hải chọn suất ăn gồm phở và khoai tây chiên".
Ta thấy \(6\) biến cố trên đồng khả năng và luôn xảy ra đúng một trong sáu biến cố này.
Vì vậy, mỗi biến cố trên đều có xác suất bằng \(\frac{1}{6}\). Nói riêng, biến cố \(A\) có xác suất bằng \(\frac{1}{6}\).
a) Xét \(\triangle A D M\) và \(\triangle A B M\) có
\(A D = A B\) (già thiết);
\(D M = B M\) (giả thiết \(M\) là trung điểm của \(B D\));
\(A M\) chung.
Suy ra \(\triangle A D M = \triangle A B M\) (c.c.c).
Do đó \(\hat{D A M} = \hat{B A M}\) (hai góc tương ứng).
Vì vậy \(A M\) là tia phân giác góc \(A\) của tam giác \(A B C\).
b) Theo chứng minh trên, có \(A M\) là tia phân giác góc \(A\).
Lại có \(E\) là giao điểm của tia phân giác góc \(B\) với tia \(A E\) (giả thiết).
Như vậy \(E\) là giao điểm của tia phân giác góc \(A\) với tia phân giác góc \(B\).
Suy ra \(C E\) là phân giác góc \(C\) (theo định lí: ba đường phân giác của tam giác đồng quy tại một điểm).
Từ đó \(\hat{A C E} = \frac{1}{2} \hat{C} = 1 5^{\circ}\).
a. Vì quãng đường đi được và lượng xăng tiêu thụ là hai đại lượng tỉ lệ thuận, nên để đi 30 km đường đô thị, xe cần số lít xăng là:
13,9 x 30 : 100 = 4,17 ( lít )
b. Với mức tiêu thụ 7,5 lít cho 100 km đường cao tốc, quãng đường xe chạy được với 4,17 lít xăng là:
4,17 x 100 : 7,5 = 55,6 ( km )
c. Lượng xăng tiêu thụ trên 20 km đường đô thị là :
20 x 13,9 : 100 = 2,78 ( lít )
Lượng xăng tiêu thụ trên 80 km đường cao tốc là :
80 x 7,5 : 100 = 6 ( lít )
Lượng xăng tiêu thụ trên 30 km đường hỗn hợp là :
30 x 9,9 : 100 = 2,97 ( lít )
Tổng lượng xăng ông An tiêu thụ hết là :
2,78 + 6 + 2,98 = 11, 75 ( lít ) Đáp số: a. 4,17 lít b. 55,6 km c. 11,75 lít xăng
Xét góc \(x O y\) có góc kề bù là góc \(x O z\).
Gọi tia \(O t\), \(O k\) lần lượt là tia phân giác của góc \(x O y\) và góc \(x O z\).
Khi đó, ta có:
\(18 0^{\circ} = \hat{x O y} + \hat{x O z} = 2. \hat{x O t} + 2. \hat{x O k}\)lần lượt là tia phân giác của góc \(x O y\) và góc \(x O z\).
Khi đó, ta có:
\(18 0^{\circ} = \hat{x O y} + \hat{x O z} = 2. \hat{x O t} + 2. \hat{x O k}\)
Suy ra \(\hat{x O t} + \hat{x O k} = 9 0^{\circ}\).
Vậy \(O t \bot O k\).
Số đo của góc O4 là:
70∘