Trần Bảo Linh
Giới thiệu về bản thân
Câu 1. (2.0 điểm)
a. Xác định được yêu cầu về hình thức, dung lượng của đoạn văn
- Xác định đúng yêu cầu về hình thức và dung lượng (khoảng 200 chữ) của đoạn văn.
- Thí sinh có thể trình bày theo cách diễn dịch, quy nạp, tổng - phân - hợp, móc xích hoặc song hành.
b. Xác định đúng vấn đề cần nghị luận
Xác định đúng vấn đề cần nghị luận: Sự kiên trì, nỗ lực vươn lên sau mỗi lần vấp ngã.
c. Đề xuất được hệ thống ý phù hợp để làm rõ vấn đề nghị luận
- Xác định được các ý phù hợp để làm rõ vấn đề nghị luận, sau đây là một số gợi ý:
+ Giải thích câu văn “Bí mật của cuộc sống là ngã bảy lần và đứng dậy tám lần.”:
++ “Ngã bảy lần” tượng trưng cho những thất bại, khó khăn mà con người phải đối mặt trong cuộc đời.
++ “Đứng dậy tám lần” thể hiện lòng kiên trì, dám đối mặt với nghịch cảnh và không ngừng vươn lên sau mỗi lần vấp ngã.
=> Câu văn nhấn mạnh ý nghĩa của việc kiên trì, nỗ lực vươn lên sau mỗi lần vấp ngã.
+ Bàn luận về vấn đề:
++ Thất bại là một cơ hội để học hỏi, rèn luyện bản lĩnh và trưởng thành. Do đó, chỉ có những ai kiên trì, không nản lòng trước nghịch cảnh mới có thể từ nghịch cảnh vươn lên, chạm tới thành công.
++ Thất bại là một phần cơ bản, tất yếu của cuộc sống, bởi có thất bại chúng ta mới nhận ra được giá trị thực sự của thành công. Chính những lần vấp ngã làm cho thành công trở nên ý nghĩa và đáng quý hơn.
(HS tìm kiếm bằng chứng để giúp cho bài viết trở nên sâu sắc, thuyết phục hơn.)
++ Tuy nhiên, trong cuộc sống hiện đại, nhiều bạn trẻ dễ dàng nản chí, mất đi động lực sau những lần vấp ngã. Thậm chí, có nhiều bạn rơi vào hố sâu tâm lí sau những lần thất bại, để rồi lựa chọn những cách thức cực đoan nhằm giải thoát cho chính mình. Một trong những nguyên nhân chính của tình trạng này chính là việc các bạn trẻ hiện nay đang phải gồng gánh quá nhiều áp lực từ phía cha mẹ, nhà trường, áp lực đồng trang lứa.
++ Trước tình trạng đó, chúng ta cần chú trọng hơn vào việc định hướng cho giới trẻ cách quản lý cảm xúc và kĩ năng ứng phó với khó khăn; hướng dẫn học sinh cách đặt mục tiêu, chia nhỏ mục tiêu để có được con đường đi đến thành công một cách rõ ràng, cụ thể; khuyến khích cha mẹ nên dành nhiều thời gian chia sẻ, quan tâm đến con cái hơn để tạo cho con động lực cố gắng; mỗi cá nhân nên tự tôi luyện phẩm chất kiên trì trong mọi việc;…
d. Viết đoạn văn đảm bảo các yêu cầu sau
- Lựa chọn được các thao tác lập luận, phương thức biểu đạt phù hợp để triển khai vấn đề nghị luận.
- Trình bày rõ quan điểm và hệ thống các ý.
- Lập luận chặt chẽ, thuyết phục: Lí lẽ xác đáng, bằng chứng tiêu biểu, phù hợp; kết hợp nhuần nhuyễn giữa lí lẽ và bằng chứng.
đ. Diễn đạt
Đảm bảo chuẩn chính tả, dùng từ, ngữ pháp tiếng Việt, liên kết câu trong đoạn văn.
e. Sáng tạo
Thể hiện suy nghĩ sâu sắc về vấn đề nghị luận; có cách diễn đạt mới mẻ.
Câu 2. (4.0 điểm)
a. Xác định được yêu cầu của kiểu bài
Xác định đúng yêu cầu của kiểu bài: Nghị luận văn học.
b. Xác định đúng vấn đề cần nghị luận
Xác định đúng vấn đề cần nghị luận: Phân tích nội dung và nghệ thuật của bài thơ “Bảo kính cảnh giới” (Bài 33).
c. Đề xuất được hệ thống ý phù hợp để làm rõ vấn đề nghị luận
- Xác định được các ý chính của bài viết.
- Sắp xếp được các ý hợp lí theo bố cục 3 phần của bài văn nghị luận:
* Mở bài: Giới thiệu vấn đề nghị luận và nêu khái quát quan điểm của cá nhân về vấn đề.
* Thân bài: Triển khai vấn đề nghị luận:
- Thể hiện quan điểm của người viết, có thể theo một số gợi ý sau:
+ Giới thiệu ngắn gọn về tác giả Nguyễn Trãi, tác phẩm “Bảo kính cảnh giới”.
+ Về nội dung:
++ Hai câu đề khắc họa chốn quan trường nhiều cạm bẫy, qua đó thể hiện sự ngần ngại của Nguyễn Trãi trước vòng xoáy quyền lực và mong muốn giữ gìn tâm thế an nhiên, tự tại của ông.
++ Hai câu thực miêu tả khung cảnh thiên nhiên thanh tịnh, thơ mộng với hương quế thoang thoảng, bóng hoa in trên hiên nhà, đồng thời cho thấy tình yêu thiên nhiên của Nguyễn Trãi thông qua chi tiết “Quét hiên ngày lệ bóng hoa tan” (Quét hiên nhà sợ bóng hoa tan).
++ Hai cậu luận là hai câu thơ bộc bạch của Nguyễn Trãi về hoàn cảnh của bản thân. Ông khát khao muốn được cống hiến cho đất nước nhưng thời thế không thuận lợi nên ông đành chọn noi theo đạo Khổng, Nhan để giữ cuộc đời an nhiên, thanh bạch, tự tại.
++ Hai câu kết khẳng định triết lí sống của Nguyễn Trãi: Coi trọng lối sống an nhiên, giữ cho tâm hồn thanh bạch hơn danh lợi.
+ Về nghệ thuật:
++ Thể thơ thất ngôn bát cú Đường luật có sự chặt chẽ về kết cấu, thanh điệu và sự hàm súc, cô đọng về ngôn ngữ, hình ảnh thơ.
++ Sử dụng điển tích, điển cố giúp cho bài thơ cô đọng, sâu sắc hơn.
(HS có thể khai thác thêm những yếu tố khác dựa trên hiểu biết của bản thân, sao cho có kiến giải hợp lí, thuyết phục.)
* Kết bài: Khái quát vấn đề nghị luận.
d. Viết bài văn đảm bảo các yêu cầu sau
- Lựa chọn được các thao tác lập luận, phương thức biểu đạt phù hợp để triển khai vấn đề nghị luận.
- Trình bày rõ quan điểm và hệ thống các ý.
- Lập luận chặt chẽ, thuyết phục: Lí lẽ xác đáng, bằng chứng tiêu biểu, phù hợp; kết hợp nhuần nhuyễn giữa lí lẽ và bằng chứng.
đ. Diễn đạt
Đảm bảo chuẩn chính tả, dùng từ, ngữ pháp tiếng Việt, liên kết văn bản.
e. Sáng tạo
Thể hiện suy nghĩ sâu sắc về vấn đề nghị luận; có cách diễn đạt mới mẻ.
Câu 1. (0.5 điểm)
Kiểu văn bản: Văn bản thông tin.
Câu 2. (0.5 điểm)
Phương thức biểu đạt chính: Thuyết minh.
Câu 3. (1.0 điểm)
Nhan đề “Phát hiện 4 hành tinh trong hệ sao láng giềng của Trái Đất”:
- Là một nhan đề rõ ràng, thể hiện trực tiếp đối tượng thông tin trong văn bản (4 hành tinh mới trong một hệ sao gần Trái đất) và khái quát được nội dung cốt lõi của bài viết.
- Có tính hấp dẫn, khơi gợi sự tò mò của người đọc khi sử dụng động từ “phát hiện” ở đầu câu và dùng cụm từ “hệ sao láng giềng” thúc đẩy người đọc quan tâm, tìm hiểu về những phát hiện mới mẻ này.
=> Nhan đề ngắn gọn, súc tích, truyền tải chính xác nội dung cốt lõi, đồng thời khơi gợi trí tò mò của người đọc về một khám phá khoa học mới mẻ, hấp dẫn.
Câu 4. (1.0 điểm)
- Phương tiện phi ngôn ngữ: Hình ảnh mô phỏng sao Barnard và các hành tinh của nó.
- Tác dụng: Giúp người đọc hình dung được rõ ràng, chính xác hơn về hệ sao Barnard và những hành tinh mới được phát hiện, đồng thời làm tăng tính trực quan, hấp dẫn cho bài viết.
Câu 5. (1.0 điểm)
Văn bản có tính chính xác và khách quan cao, vì thông tin được trích dẫn từ các nguồn uy tín như chuyên san "The Astrophysical Journal Letters", Đài ABC News và Đại học Chicago. Các báo cáo khoa học, tên công trình nghiên cứu, và các cơ quan, cá nhân tham gia đều được đề cập rõ ràng.
Câu 1.
a. Xác định được yêu cầu về hình thức, dung lượng của đoạn văn:
- Yêu cầu về hình thức: đoạn văn.
- Yêu cầu về dung lượng: 200 chữ.
Học sinh có thể trình bày theo cách diễn dịch, quy nạp, tổng - phân - hợp, móc xích hoặc song hành.
b. Xác định đúng vấn đề cần nghị luận:
Xác định đúng vấn đề cần nghị luận: ý nghĩa của tính sáng tạo đối với thế hệ trẻ hiện nay.
c. Đề xuất được hệ thống ý phù hợp để làm rõ vấn đề nghị luận:
- Gợi ý: Tính sáng tạo có ý nghĩa như sau:
+ Giúp mỗi cá nhân phát huy được thế mạnh của bản thân.
+ Giúp mỗi cá nhân giải quyết vấn đề một cách tốt nhất.
+ Tạo ra những sản phẩm hữu ích cho nhân loại.
+ Góp phần xây dựng xã hội ngày càng phát triển.
- Sắp xếp được hệ thống ý hợp lí theo đặc điểm bố cục của kiểu văn bản.
d. Viết đoạn văn đảm bảo các yêu cầu sau:
- Lựa chọn các thao tác lập luận phù hợp để triển khai vấn đề nghị luận.
- Trình bày rõ quan điểm và hệ thống các ý.
- Lập luận chặt chẽ, thuyết phục: lí lẽ xác đáng; bằng chứng tiêu biểu, phù hợp; kết hợp nhuần nhuyễn giữa lí lẽ và bằng chứng.
đ. Diễn đạt:
Đảm bảo chuẩn chính tả, dùng từ, ngữ pháp tiếng Việt, liên kết trong đoạn.
a. Xác định được yêu cầu về kiểu bài: nghị luận văn học.
b. Xác định đúng yêu cầu của đề: cảm nhận về vẻ đẹp con người Nam Bộ trong truyện Biển người mênh mông qua nhân vật Phi và ông Sáu Đèo.
c. Triển khai vấn đề nghị luận thành các luận điểm:
Gợi ý:
- Giới thiệu ngắn gọn về tác giả, tác phẩm và vấn đề nghị luận.
- Nêu và phân tích cảm nhận về con người Nam Bộ qua nhân vật Phi và ông Sáu Đèo:
+ Những con người nhỏ bé, bất hạnh, lưu lạc:
Phi: không có cha, là kết quả cưỡng bức của tên đồn trưởng với mẹ Phi; không được người mà Phi gọi là cha thừa nhận; năm tuổi rưỡi đã thui thủi ở với bà ngoại; người mẹ vô tâm; chỉ có bà ngoại quan tâm, nhưng rồi bà mất, kể từ đó sống tạm bợ, lôi thôi.
Ông Sáu Đèo: không con cái, làm bạn với con chim bìm bịp; vợ bỏ đi đã lâu; ông Sáu Đèo nay đây mai đó ở tuổi xế chiều.
+ Những con người kiếm tìm, khao khát hạnh phúc:
Phi khao khát tình cảm của cha, mẹ, tình thân. Cuộc đời anh cũng là một hành trình âm thầm tìm kiếm tình thân. Cuộc gặp gỡ với ông Sáu Đèo đã sưởi ấm tâm hồn anh bởi sự quan tâm của ông dành cho Phi.
Ông Sáu Đèo với hành trình tìm kiếm người vợ của mình: ông đã đi tìm vợ suốt gần bốn mươi năm, dời nhà cả thảy ba mươi ba bận, bỏ cả sông nước vốn gắn bó như máu thịt, lên bờ để nói lời xin lỗi vợ.
=> Trên hành trình tìm kiếm khát khao hạnh phúc đó, con người Nam Bộ cho ta thấy tình yêu và sự gắn bó sâu nặng với quê hương xứ sở, tình cảm thủy chung son sắt, tấm lòng yêu thương, vị tha,...
+ Nghệ thuật thể hiện nhân vật con người Nam Bộ trong truyện: cốt truyện đơn giản, không có sự kiện gì đặc biệt; ngôn ngữ đậm chất Nam Bộ; giọng điệu buồn thương, ngậm ngùi,...
- Khái quát chủ đề, ý nghĩa của truyện thông qua hình tượng con người Nam Bộ:
+ Đem đến cho người đọc cảm nhận về những mảnh đời nhỏ bé, bất hạnh, trôi nổi, lưu lạc, những khát khao tìm kiếm hạnh phúc âm thầm, mãnh liệt.
+ Khơi gợi sự đồng cảm của người đọc, cho độc giả cảm nhận được giá trị quý báu của tình thân. Đồng thời cảnh báo về những thờ ơ, hời hợt của con người có thể đang góp phần làm nên cái "biển người mênh mông" trong cuộc sống.
d. Viết bài văn đảm bảo các yêu cầu sau:
- Lựa chọn các thao tác lập luận phù hợp để triển khai vấn đề nghị luận.
- Trình bày rõ quan điểm và hệ thống các ý.
- Lập luận chặt chẽ, thuyết phục: lí lẽ xác đáng; bằng chứng tiêu biểu, phù hợp; kết hợp nhuần nhuyễn giữa lí lẽ và bằng chứng.
đ. Diễn đạt:
Đảm bảo chuẩn chính tả, dùng từ, ngữ pháp tiếng Việt, liên kết trong đoạn.
e. Sáng tạo:
Thể hiện suy nghĩ sâu sắc về vấn đề nghị luận; có cách diễn đạt mới mẻ.
Câu 1. Văn bản thông tin.
Câu 2. Một số hình ảnh, chi tiết cho thấy cách giao thương, mua bán thú vị trên chợ nổi.:
Các ghe bán hàng dạo chế ra cách “bẹo” hàng bằng âm thanh lạ tai của những chiếc kèn: Có kèn bấm bằng tay (loại kèn nhỏ, bằng nhựa), có kèn đạp bằng chân (loại kèn lớn, còn gọi là kèn cóc).
Riêng các cô gái bán đồ ăn thức uống thì thường “bẹo hàng” bằng lời rao: Ai ăn chè đậu đen, nước dừa đường cát hôn...? Ai ăn bánh bò hôn...? Những tiếng rao mời mọc nơi chợ nổi, nghe sao mà lảnh lót, thiết tha!
...Câu 3. Việc sử dụng tên các địa danh giúp thông tin trở nên phong phú, xác thực và sinh động.
Câu 4. Phương tiện giao tiếp phi ngôn ngữ được sử dụng trong văn bản trên giúp tăng tính xác thực và trực quan cho thông tin.
Câu 5. Học sinh nêu được suy nghĩ về vai trò của chợ nổi đối với đời sống của người dân miền Tây.
Gợi ý: Chợ nổi có vai trò về mặt kinh tế và tinh thần đối với đời sống người dân miền Tây:
- Thúc đẩy sự phát triển kinh tế, đảm bảo cuộc sống cho người dân.
- Thể hiện nét đẹp văn hóa đặc trưng của miền Tây.
Như vậy, chợ nổi có vai trò vô cùng quan trọng đối với đời sống của người dân miền Tây.