Đinh Viết Mạnh
Giới thiệu về bản thân
Câu 1 :
Ba khổ thơ cuối của bài thơ "Chim thêu" là tiếng lòng đầy xúc động của người cha dành cho đứa con nơi phương xa trong những năm tháng đất nước chia cắt. Mở đầu bằng hành động ôm tấm áo xanh giữa ngực, người cha như đang cố gắng cảm nhận nhịp đập trái tim và ánh mắt "đen tròn" của con qua từng sợi vải. Hình ảnh ẩn dụ "tiếng chim non gọi đàn" vừa gợi tả âm thanh trong trẻo của trẻ thơ, vừa bộc lộ nỗi khát khao đoàn tụ cháy bỏng của một gia đình đang bị ngăn cách bởi "mỏ quạ đen" của chiến tranh. Dù hiện tại chiếc áo thêu chim trắng chưa thể gửi về miền Nam, người cha vẫn trân trọng treo nó bên bàn làm việc như một lời thề nguyền sắt son về ngày mai thống nhất. Khổ kết khép lại bằng một viễn cảnh tươi sáng khi "nước non một khối", nơi những đứa trẻ được tự do vui chơi và khoác trên mình chiếc áo hòa bình. Với thể thơ song thất lục bát uyển chuyển, Nguyễn Bính đã khắc họa thành công tình phụ tử thiêng liêng, biến một kỷ vật giản dị thành biểu tượng của niềm tin và hy vọng mãnh liệt vào ngày đất nước trọn niềm vui.Câu 2 Trong hành trình trưởng thành của mỗi người, tình yêu thương của cha mẹ chính là dòng sữa mát lành nuôi dưỡng tâm hồn. Tuy nhiên, có một thực tế đầy mâu thuẫn rằng: tình thương ấy đôi khi vừa là đôi cánh giúp con bay cao, nhưng cũng có lúc lại trở thành xiềng xích nặng nề. Từ góc độ của một người con, em nhận thấy ranh giới giữa "động lực" và "áp lực" trong tình thương vốn rất mong manh.
Trước hết, không ai có thể phủ định tình yêu thương là động lực lớn lao nhất. Khi cha mẹ tin tưởng, khích lệ và đồng hành, con cái sẽ có thêm sức mạnh để vượt qua mọi nghịch cảnh. Sự thấu hiểu và ủng hộ từ gia đình chính là "tấm lưới bảo hiểm" giúp ta tự tin dấn thân, vì biết rằng dù thất bại vẫn luôn có một nơi ấm áp để trở về. Động lực ấy không đến từ những lời thúc ép, mà đến từ ánh mắt tự hào và sự hy sinh thầm lặng của cha mẹ, khiến ta tự nhủ phải sống tốt hơn, thành công hơn để đền đáp công ơn ấy. Tuy nhiên, khi tình yêu thương đi kèm với sự kỳ vọng quá mức hoặc sự kiểm soát tuyệt đối, nó vô tình biến thành áp lực đè nặng. Nhiều bậc cha mẹ vì quá thương con, muốn con có tương lai tươi sáng nên đã vô tình ép con vào những khuôn mẫu mình mong muốn mà quên mất sở thích hay năng lực thực sự của trẻ. Câu nói "Bố mẹ làm tất cả cũng chỉ vì con" đôi khi trở thành một thứ "gông cùm tâm lý", khiến con cái sống trong nỗi sợ hãi làm cha mẹ thất vọng. Áp lực phải giỏi giang, phải hoàn hảo để xứng đáng với sự hy sinh của cha mẹ có thể dẫn đến những tổn thương tinh thần sâu sắc, khiến mối quan hệ giữa hai thế hệ trở nên xa cách. Để tình thương thực sự là động lực, chìa khóa quan trọng nhất chính là sự thấu hiểu và tôn trọng. Cha mẹ cần lắng nghe thay vì áp đặt, còn con cái cũng nên học cách chia sẻ những áp lực mình đang gánh chịu. Tình yêu thương đúng nghĩa không phải là nhào nặn con cái thành một phiên bản mà cha mẹ ao ước, mà là giúp con trở thành phiên bản tốt nhất của chính mình. Tóm lại, tình yêu thương của cha mẹ luôn là điều thiêng liêng nhất. Nhưng để tình thương ấy không trở thành gánh nặng, nó cần được dẫn dắt bởi sự tỉnh táo và bao dung. Một tình yêu thương "vừa vặn" sẽ là bệ phóng vững chắc nhất đưa con đến bến bờ hạnh phúc.Câu 1: thể thơ tự do
Câu 2 : người cha hoặc người bố
Câu 3 :- Đề tài: Tình cảm gia đình (tình phụ tử), nỗi nhớ thương và hy vọng vào ngày mai hòa bình.
- Chủ đề: Ca ngợi tình cảm sâu sắc, thiêng liêng của người cha dành cho con, đồng thời thể hiện khát vọng hòa bình, sum họp gia đình trong hoàn cảnh đất nước bị chia cắt.
- Câu 4:
- Biện pháp tu từ: Đảo ngữ ("Bâng khuâng cặp mắt đen tròn") và Ẩn dụ chuyển đổi cảm giác ("Chắt chiu vẳng tiếng chim non gọi đàn").
- Tác dụng:
- Đảo ngữ nhấn mạnh trạng thái cảm xúc "bâng khuâng" (lưu luyến, xao xuyến) của nhân vật trữ tình (người cha) khi nhìn vào mắt con, thể hiện sự lo âu, trăn trở về tương lai.
- Ẩn dụ chuyển đổi cảm giác biến âm thanh tiếng chim non thành hành động "chắt chiu" (góp nhặt, dành dụm), thể hiện sự trân trọng, nâng niu từng khoảnh khắc bình yên bên con và khao khát mãnh liệt về một cuộc sống hòa bình, đoàn tụ gia đình.
- Câu 5:
- Tình yêu thương vô bờ bến: Người cha dành sự quan tâm đặc biệt đến từng cử chỉ, ánh mắt của con.
- Nỗi niềm lo âu, trăn trở: Sự "bâng khuâng" trong mắt cha cho thấy những suy tư, lo lắng về tương lai của con trong bối cảnh chiến tranh, đất nước chia cắt.
- Khát vọng mãnh liệt về hạnh phúc gia đình: Tình cảm của người cha gắn liền với ước mong về một ngày mai hòa bình, khi gia đình được đoàn tụ, sum vầy.
- Sự trân trọng những khoảnh khắc bình yên: Cha "chắt chiu" từng âm thanh, hình ảnh giản dị của cuộc sống, thể hiện sự nâng niu hạnh phúc hiện tại dù còn nhiều khó khăn.
Câu 1: Trong đoạn trích của nhà văn Thanh Quế, nhân vật "tôi" hiện lên không phải với những chiến tích vẻ vang, mà là một tâm hồn đầy trăn trở và lòng hối lỗi. Trước hết, nhân vật "tôi" là người có lương tâm thức tỉnh. Dù thời gian đã trôi qua, dù bà Bảy Nhiêu không còn nữa, nhưng nhân vật vẫn không nguôi ám ảnh về lỗi lầm cũ. Hành động "mỗi lần về quê" đều rủ bạn ra thăm mả bà, đứng lặng và "lầm rầm cầu mong bà tha thứ" cho thấy một sự hối hận chân thành, sâu sắc. "Tôi" không trốn tránh quá khứ mà đối diện với nó bằng tất cả sự thành tâm. Qua dòng suy ngẫm: "Trong đời, có những điều ta đã lầm lỡ, không bao giờ còn có dịp để sửa chữa được nữa", ta thấy ở nhân vật một sự trưởng thành trong nhận thức. Đó là cái nhìn thấu đáo về cuộc đời, về sự hữu hạn của cơ hội và sức nặng của sự tử tế. Nhân vật "tôi" chính là hiện thân cho bài học về đạo đức: con người không tránh khỏi sai lầm, nhưng quan trọng là biết nhìn lại, biết đau đớn trước tổn thương mình gây ra cho người khác. Bằng ngôi kể thứ nhất giàu cảm xúc, tác giả đã khắc họa thành công một nhân vật "tôi" đầy nhân văn, gợi lên trong lòng người đọc sự đồng cảm và ý thức sống trách nhiệm hơn với những người xung quanh.
Câu 2 :
Trong cuộc sống, nếu coi nhân cách con người là một tòa lâu đài thì sự trung thực chính là nền móng vững chắc nhất để xây dựng nên tòa lâu đài đó. Đặc biệt trong xã hội hiện nay, khi những giá trị ảo lên ngôi, lòng trung thực càng trở nên quý giá hơn bao giờ hết. Trung thực được hiểu là sự chân thật, ngay thẳng, không gian dối. Người trung thực luôn tôn trọng sự thật, tôn trọng lẽ phải, sống đúng với lương tâm mình và dám chịu trách nhiệm về những gì mình đã làm. Sức mạnh của lòng trung thực trước hết nằm ở việc tạo dựng niềm tin. Trong các mối quan hệ, sự thật thà là sợi dây gắn kết bền chặt nhất giữa người với người. Một nhân viên trung thực sẽ được cấp trên tin tưởng; một học sinh trung thực sẽ được thầy cô, bạn bè quý mến. Như đại văn hào William Shakespeare từng nói: "Không có di sản nào quý giá bằng lòng trung thực". Khi ta sống thật, tâm hồn ta sẽ luôn thanh thản, nhẹ nhõm, không phải lo sợ hay che đậy bằng những lời nói dối quanh co. Tuy nhiên, thực tế hiện nay cho thấy sự trung thực đang bị thách thức nghiêm trọng. Trong giáo dục, đó là vấn nạn gian lận thi cử; trong kinh doanh, đó là hàng giả, thực phẩm bẩn; trong đời sống, đó là sự giả dối để trục lợi cá nhân. Những hành vi này không chỉ làm băng hoại đạo đức mà còn kìm hãm sự phát triển của xã hội. Nếu ai cũng chọn lối sống dối trá, xã hội sẽ rơi vào khủng hoảng lòng tin trầm trọng. Dù vậy, trung thực không đồng nghĩa với sự thật thà khờ khạo hay thô lỗ. Đôi khi, chúng ta cần những "lời nói dối trắng tử tế" (white lies) – như cách bác sĩ giấu bệnh tình của bệnh nhân hiểm nghèo để tiếp thêm cho họ nghị lực sống. Đó là sự trung thực được soi sáng bởi lòng nhân ái. Tóm lại, trung thực là một lựa chọn đầy bản lĩnh. Mỗi chúng ta, đặc biệt là thế hệ trẻ, cần rèn luyện đức tính này từ những việc nhỏ nhất: không quay cóp, không nói sai sự thật và dũng cảm nhận lỗi khi sai phạm. Hãy nhớ rằng: "Một nửa cái bánh mì vẫn là bánh mì, nhưng một nửa sự thật thì không còn là sự thật nữa". Bạn có muốn tôi giúp bạn lập dàn ý chi tiết hoặc tìm thêm những dẫn chứng thực tế tiêu biểu về lòng trung thực để bài viết thêm thuyết phục không?- Câu 1 (0,5 điểm): Thể loại của văn bản là truyện ngắn.
- Câu 2 (0,5 điểm): Ngôi kể thứ nhất (người kể chuyện xưng "tôi").
- Câu 3 (1,0 điểm): Cốt truyện đơn giản, tập trung vào tình huống tâm lý/hồi tưởng. Nó xoay quanh một sai lầm trong quá khứ khi còn nhỏ, tạo nên một nỗi ăn năn, day dứt muộn màng kéo dài, qua đó thể hiện sâu sắc tâm tư nhân vật.
- Câu 4 (1,0 điểm): Nội dung văn bản: Phản ánh nỗi ân hận, day dứt của nhân vật "tôi" và Bá về hành động sai trái với bà Bảy Nhiêu trong quá khứ, qua đó thể hiện bài học về lòng trung thực, sự bao dung và những điều lầm lỡ không thể sửa chữa.
- Câu 5 (1,0 điểm):
- Câu văn thể hiện sự ân hận sâu sắc về những sai lầm trong quá khứ.
- Khẳng định quy luật: Thời gian là tuyến tính, những gì đã xảy rađặc biệt là lỗi lầm gây đau thương cho người khác (nhất là khi họ đã mất), sẽ không thể sửa chữa hay bù đắp được nữa.
- Nhắc nhở con người cần sống đúng đắn, trung thực và biết bao dung ngay từ hôm nay để không phải hối tiếc về sau.
Xét \(\Delta A B C\) vuông tại \(B\), ta có:
\(tan \hat{B A C} = \frac{B C}{A B} = \frac{2}{2 , 5} = 0 , 8\) (tỉ số lượng giác của góc nhọn)
Suy ra \(\hat{B A C} \approx 38 , 7^{\circ}\)
Ta có: \(\hat{B A D} = \hat{B A C} + \hat{C A D} = 38 , 7^{\circ} + 2 0^{\circ} = 58 , 7^{\circ}\)
Xét \(\Delta A B D\) vuông tại \(B\), ta có:
\(tan \hat{B A D} = \frac{B D}{A B}\) (tỉ số lượng giác của góc nhọn)
Suy ra \(B D = A B . tan \hat{B A D} = 2 , 5. tan 58 , 7^{\circ} \approx 4 , 1\) m.
\(C D = B D - B C = 4 , 1 - 2 = 2 , 1\) m.
Vậy độ dài vùng được chiếu sáng trên mặt đất là \(2 , 1\) m.
Xét \(\Delta A B C\) vuông tại \(B\), ta có:
\(tan \hat{B A C} = \frac{B C}{A B} = \frac{2}{2 , 5} = 0 , 8\) (tỉ số lượng giác của góc nhọn)
Suy ra \(\hat{B A C} \approx 38 , 7^{\circ}\)
Ta có: \(\hat{B A D} = \hat{B A C} + \hat{C A D} = 38 , 7^{\circ} + 2 0^{\circ} = 58 , 7^{\circ}\)
Xét \(\Delta A B D\) vuông tại \(B\), ta có:
\(tan \hat{B A D} = \frac{B D}{A B}\) (tỉ số lượng giác của góc nhọn)
Suy ra \(B D = A B . tan \hat{B A D} = 2 , 5. tan 58 , 7^{\circ} \approx 4 , 1\) m.
\(C D = B D - B C = 4 , 1 - 2 = 2 , 1\) m.
Vậy độ dài vùng được chiếu sáng trên mặt đất là \(2 , 1\) m.