Nguyễn Hải Yến
Giới thiệu về bản thân
Câu 1.
Văn bản trên thuộc thể loại truyện thơ Nôm, được viết theo thể thơ lục bát. Đây là đoạn trích trong tác phẩm Truyện Kiều của Nguyễn Du.
Câu 2.
Văn bản chủ yếu là lời của người kể chuyện ở ngôi thứ ba. Trong đoạn có xen lời của hàng xóm và lời của ông bà Vương, nhưng phần lớn vẫn là lời trần thuật của tác giả.
Câu 3.
Sau nửa năm chịu tang, Kim Trọng trở lại vườn Thúy thì thấy cảnh vật hoang tàn, vắng lặng, không còn bóng người. Chàng hỏi thăm hàng xóm và biết gia đình Kiều gặp biến cố, Thúy Kiều đã bán mình chuộc cha, gia đình sa sút phải dời đi nơi khác. Kim Trọng tìm đến nơi ở mới của gia đình Kiều. Ông bà Vương kể lại sự việc Kiều bán mình và nhờ Thúy Vân thay lời hẹn ước. Nghe xong, Kim Trọng vô cùng đau đớn, tuyệt vọng.
Câu 4.
Hình ảnh “Hoa đào năm ngoái còn cười gió đông” gợi cảnh hoa đào vẫn nở tươi như năm trước, vẫn “cười” trước gió đông, trong khi con người xưa đã không còn ở đó. Cảnh vật dường như không thay đổi, nhưng con người đã đổi thay. Hình ảnh này thể hiện nỗi tiếc nuối, bâng khuâng và đau xót của Kim Trọng trước sự mất mát trong tình yêu.
Câu 5.
Biện pháp tả cảnh ngụ tình trong đoạn thơ làm nổi bật không gian hoang vắng, tiêu điều của vườn Thúy. Hình ảnh lầu không, cỏ mọc, rêu phong, lối cũ phủ đầy gai góc cho thấy nơi đây đã lâu không có người qua lại. Cảnh vật ấy phản chiếu tâm trạng buồn bã, hụt hẫng và đau đớn của Kim Trọng khi trở lại chốn xưa. Qua đó, tác giả làm tăng giá trị biểu cảm của đoạn thơ và khắc sâu bi kịch tình yêu dang dở.
1.Những phương thức biểu đạt được sử dụng trong văn bản gồm:tự sự, thuyết minh, biểu cảm, nghị luận. 2.Văn bản kể về quá trình người chiến sĩ nuôi quân Hoàng Cầm sáng tạo ra bếp Hoàng Cầm. 3.Cảm hứng chủ đạo của văn bản là ca ngợi tinh thần sáng tạo, trách nhiệm và lòng yêu nước thầm lặng của người lính trong chiến tranh, đồng thời bày tỏ niềm tự hào về một sáng kiến góp phần vào thắng lợi của dân tộc. 4.Văn bản tái hiện quá trình trăn trở, tìm tòi, thử nghiệm đầy kiên trì của Hoàng Cầm để sáng chế ra chiếc bếp không khói. 5.Em ấn tượng nhất với chi tiết Hoàng Cầm miệt mài đào hàng chục cái bếp khác nhau trong rừng để thử nghiệm, dù phải giấu kín mọi người và chịu nhiều vất vả. Chi tiết này cho thấy tinh thần trách nhiệm cao, sự kiên trì và quyết tâm tìm ra giải pháp để bảo vệ đồng đội.
Đoạn trích trong Truyện Kiều thể hiện nhiều đặc sắc nghệ thuật tiêu biểu cho tài năng của Nguyễn Du. Trước hết, tác giả đã khắc họa thành công hình tượng nhân vật bằng bút pháp lí tưởng hóa. Từ Hải hiện lên với tầm vóc phi thường qua những hình ảnh ước lệ như “đội trời đạp đất”, “gươm đàn nửa gánh non sông một chèo”, tạo nên tư thế hiên ngang, hào sảng của bậc anh hùng. Trong khi đó, Thúy Kiều được khắc họa tinh tế qua ngôn ngữ đối thoại mềm mại, khiêm nhường mà sâu sắc, thể hiện vẻ đẹp trí tuệ và tâm hồn. Nghệ thuật xây dựng đối thoại đặc biệt đặc sắc: lời nói của hai nhân vật vừa trang trọng, vừa giàu cảm xúc, cho thấy sự đồng điệu “ý hợp tâm đầu”. Bên cạnh đó, Nguyễn Du sử dụng nhiều điển tích, điển cố như “Bình Nguyên Quân”, “Tấn Dương”, làm tăng tính trang trọng và chiều sâu văn hóa cho đoạn thơ. Thể thơ lục bát truyền thống với nhịp điệu linh hoạt, ngôn ngữ giàu hình ảnh cũng góp phần tạo nên âm hưởng trang trọng mà vẫn trữ tình.Nhờ những thủ pháp nghệ thuật đặc sắc ấy, đoạn trích đã góp phần khắc sâu vẻ đẹp lí tưởng của hình tượng anh hùng và giai nhân trong tác phẩm.
1.Văn bản được viết theo thể thơ lục bát. 2.Từ Hải và Thúy Kiều gặp nhau ở lầu hồng. 3.Qua những câu thơ,em có nhận xét về Thúy Kiều: -Khiêm nhường, tự ý thức về thân phận. -Thông minh, khéo léo trong lời nói. -Biết trân trọng anh hùng. 4.Qua đoạn trích, Từ Hải hiện lên là: -Người anh hùng có chí khí lớn -Tài năng xuất chúng -Phóng khoáng, ngang tàng -Trân trọng tài sắc và tri kỷ -Trọng nghĩa khinh tài 5.Đoạn trích gợi trong em: -Sự cảm phục trước hình tượng Từ Hải – người anh hùng nghĩa khí. -Niềm thương cảm và trân trọng đối với Thúy Kiều – người phụ nữ tài sắc nhưng số phận long đong. -Niềm tin vào sự gặp gỡ của tri kỉ.