Hoàng Thị Mầu

Giới thiệu về bản thân

Chào mừng bạn đến với trang cá nhân của Hoàng Thị Mầu
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
(Thường được cập nhật sau 1 giờ!)

Bài 1 Đọc đoạn trích sau: Bà ngoại bị bệnh quên sau khi nhận được tin cậu Út tôi mất. Cái tin này nghe nói bay từ biên giới về vào một buổi sáng rất đẹp trời. Hôm đó cóc nhái kêu rộn mặt ao. Mưa rào vừa xuống rửa sạch đường làng lát gạch đỏ. Nắng lên đứng tha thướt ngoài bờ rặng. Bà ngoại tôi đứng nhìn cái tin trên giấy báo, rồi ngã đánh cạch xuống thềm nhà, cái đầu đập cạch xuống thì đúng hơn. Khi bà ngoại tỉnh dậy, ai hỏi cũng không nhớ gì mấy. May thế, mẹ tôi bảo nhờ vậy mà không phải nhìn thấy bà khóc. Bà ngoại tôi nhận cái giấy như thế là cái thứ ba. Khi nhận cái thứ hai, báo tin cậu thứ hai của tôi, thì ông ngoại tôi không chịu đựng được, nằm xuống luôn dưới đất. Bà ngoại tôi có lên tận trường sĩ quan bảo cậu Út tôi về làng làm ruộng. Nhưng cậu nhất định thích đeo lon sĩ quan, cậu giải thích với bà vậy nên bà đành chịu. Mấy chị em tôi hay phải chạy sang với bà ngoại mỗi khi ăn cơm chiều xong, vì đấy là việc phải làm, không ai tị nạnh ai. Tôi chạy sang hỏi bà: “Bà ngoại ơi bà ăn cơm chưa?” Bà ngoại tôi lúc lắc mái đầu già quá là già, cười cười: “Cháu ra xem ngoài sân có phải gió đã về không?” Tôi chạy ra sân nghe ngóng. Tôi nghe thấy tiếng gì ù ù: “Bà ơi, đúng rồi, gió đã về.” Bà ngoại tôi cười, mặt nhăn quá là nhăn, hàm răng sún sún chỉ còn vài cái như mấy hạt ngô lép. Trong giấc mơ, tôi thấy cả ba cậu của tôi đang cùng ùa vào nhà. Cậu Nhất tôi hiền lành nhất nhà. Cậu Hai thì nghiêm nghị lạnh lạnh. Còn cậu Út lém lỉnh hơi lỏi một tí. Cả ba cậu đều cùng bẹo má tôi. Cậu Nhất hiền lành nên bẹo mà êm êm. Cậu Hai bẹo má tôi mà như đang nặn cục bột. Cậu Út cười ha ha, để cậu bẹo thật kêu nhá. Ái cha, giờ thì tôi biết vì sao bà ngoại nhất định không chịu đi sang nhà tôi ở. Ngoài sân, gió thổi qua hiên nhà. Bà ngoại tôi lại hỏi: “Cháu ơi, gió có phải đã về không?” Tôi cựa mình, ngáp ngáp rồi trả lời bà: “Bà ơi, đúng rồi. Gió đã về rồi.” Ngày nào tôi cũng chuẩn bị nhìn cho kỹ, nghe cho tinh. Tôi chỉ sợ gió về mà không biết để báo cho bà. Bà ngồi chải tóc, những sợi tóc mềm mại lọt qua kẽ tay già ơi là già, rơi rơi theo từng cơn gió. Tôi lên bảy tuổi nên phải đi học. Ở lớp tôi tập tô và nắn nót viết chữ BÀ. Tôi có bà nội nữa, nhưng bà nội tôi đã đi rất xa, từ khi chưa có tôi trên đời. Nên khi viết chữ bà, tim tôi run lên hai tiếng bà ngoại. Tôi ngồi trong lớp tập viết, bên tai cứ nghe tiếng gió thổi luôn. Rồi tôi phân biệt được các loại gió. Khi gió dịu dàng bay về mơn man là lúc các cậu tôi ngủ, đầu gối lên nhau, chân gác lên nhau, theo kiểu gì thì tôi không nhìn ra rõ lắm. Khi gió thổi vù vù là y rằng các cậu đang đùa nghịch giống như lũ trẻ con lớp một lớp hai chúng tôi. Khi gió gừ gừ cắn cảu là lúc các cậu tôi sôi bụng đói. Thật tệ, lúc tôi đói thường cắn răng mà chịu, hoặc chạy ra chum múc nước mưa uống. Nhưng các cậu tôi không uống nước mưa chống đói. Có thể nước mưa không còn thích hợp với các cậu nữa. (Lược một đoạn: Mẹ tôi về thuyết phục bà ngoại đưa mẹ con cô Hồng về. Đứa con của cô là con của cậu Út. Nay cô muốn cho con trai về nhận bà nội.) Bà ngoại tôi thì cứ thầm thì: “Cảm ơn con đã không thành gió, đã sống trên đời này với mẹ...” Mẹ tôi lảng đi, nì nèo: “Thế mẹ đừng quên uống thuốc nữa đấy nhé. Có em Hồng về nhà ở, mẹ đừng quên quên nhớ nhớ nữa đấy...” “Ừ, mẹ sẽ nhớ.” Mẹ tôi đi rồi, bà ngoại tôi bảo: “Bà nói cho cháu biết một bí mật nhé. Khi cậu Út cháu đi, cậu có chạy về bảo với bà: mẹ không được khóc thì con sẽ về thăm mẹ luôn. Khi nào ngoài ngõ có cơn gió về là con với các anh về thăm mẹ đấy. Thực ra bà không điên đâu. Bà chỉ không muốn ông ngoại cháu với các cậu nhìn thấy bà khóc.” Ôi, bà ngoại điên của tôi. [...] (Trích: Gió thổi – Võ Thị Xuân Hà – Truyện ngắn chọn lọc báo Nhân dân – Nhà xuất bản Văn học 2019; Tr.77-81) Thực hiện các yêu cầu: Câu 1 (0,5 điểm): Xác định nhân vật chính của truyện. Câu 2 (0,5 điểm): Chỉ ra lý do bà ngoại bị bệnh quên được đề cập đến trong truyện. Câu 3 (1,0 điểm): Nêu ý nghĩa của những lời thoại mà bà ngoại nói với nhân vật tôi: “... có phải gió đã về không?”, “... gió có phải đã về không?”. Câu 4 (1,0 điểm): Trình bày hiệu quả của việc sử dụng biện pháp tu từ nhân hóa trong câu sau: “Khi gió dịu dàng bay về mơn man là lúc các cậu tôi ngủ, đầu gối lên nhau, chân gác lên nhau, theo kiểu gì thì tôi không nhìn ra rõ lắm.” Câu 5 (1,0 điểm): Từ nội dung của truyện, anh/chị có suy nghĩ gì về những con người từng trải qua mất mát vì chiến tranh? (trình bày khoảng 5 – 7 dòng) Bạn chưa trả lời câu hỏi này. Trả lời câu hỏi này Bài 2 Câu 1 (2,0 điểm): Viết đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) cảm nhận về đức hi sinh của bà ngoại trong văn bản ở phần Đọc hiểuCâu 1: Nghị luận xã hội (200 chữ) về đức hy sinh của bà ngoại Đoạn văn tham khảo: Trong truyện ngắn "Gió thổi", đức hy sinh của bà ngoại hiện lên cao cả, lặng thầm và đầy xót xa. Đó không chỉ là sự hy sinh những đứa con thân yêu cho Tổ quốc mà còn là sự hy sinh chính nỗi đau cá nhân để bảo vệ sự bình yên cho gia đình. Bà ngoại chọn cách "quên" và sống trong trạng thái "điên" như một vỏ bọc để che giấu những dòng lệ. Chi tiết cuối truyện gây xúc động mạnh khi bà thú nhận: "Thực ra bà không điên đâu. Bà chỉ không muốn ông ngoại cháu với các cậu nhìn thấy bà khóc." Bà hy sinh quyền được đau khổ một cách bình thường để linh hồn người chồng và các con được thanh thản. Đức hy sinh của bà còn nằm ở sự nhẫn nại, kiên trì chờ đợi các con trở về qua những cơn gió, tự gánh vác mọi mất mát vào lòng mình để con cháu được sống trong niềm vui. Qua nhân vật bà ngoại, ta thấy được vẻ đẹp truyền thống của người phụ nữ Việt Nam: nhẫn nhịn, vị tha và luôn sống vì người khác cho đến hơi thở cuối cùng. Câu 2: Nghị luận xã hội (600 chữ) về Giới hạn – Chấp nhận hay Phá vỡ? Dàn ý gợi ý: 1. Mở bài: Dẫn dắt: Cuộc đời mỗi người đều được bao quanh bởi những vòng tròn giới hạn (định kiến, khả năng bản thân, hoàn cảnh xã hội). Nêu vấn đề: Đứng trước giới hạn, người trẻ nên chọn cách chấp nhận để bình yên hay phá vỡ để tỏa sáng? 2. Thân bài: Giải thích: Giới hạn: Là những rào cản về năng lực, sức khỏe, đạo đức hoặc những quy chuẩn xã hội. Chấp nhận: Biết đủ, hiểu rõ vị trí của mình, tuân thủ các chuẩn mực. Phá vỡ: Nỗ lực vượt ngưỡng, không cam chịu thực tại, khao khát khẳng định bản thân. Bàn luận: Tại sao cần "Phá vỡ"? (Góc nhìn người trẻ): Tuổi trẻ là tuổi của sự bứt phá. Nếu không phá vỡ những giới hạn tự thân (sự lười biếng, nỗi sợ hãi), ta sẽ mãi dậm chân tại chỗ. Nhiều vĩ nhân thành công nhờ phá vỡ những giới hạn mà xã hội coi là không thể. Tại sao cần "Chấp nhận"?: Có những giới hạn mang tính quy luật (thời gian, quy luật tự nhiên) hoặc giới hạn đạo đức/pháp luật mà chúng ta buộc phải tuân theo để duy trì trật tự xã hội. Chấp nhận không phải là hèn nhát, mà là sự tỉnh táo để biết đâu là điểm dừng. Mối quan hệ: Chấp nhận và phá vỡ không mâu thuẫn. Chấp nhận cái không thể thay đổi để tập trung năng lượng phá vỡ cái có thể thay đổi. Phản biện: Phá vỡ giới hạn không đồng nghĩa với liều lĩnh mù quáng hoặc vi phạm đạo đức. Chấp nhận cũng không phải là cam chịu, buông xuôi. 3. Kết bài: Khẳng định lại quan điểm: Giới hạn sinh ra là để chúng ta định vị bản thân và tìm cách vượt qua chính mình. Bài học: Hãy dũng cảm phá vỡ giới hạn của nỗi sợ nhưng luôn biết chấp nhận những giá trị nhân văn cốt lõi.


Trò chuyện với Gemini

Bạn đã nói

Đề thi tham khảo Sở Giáo dục và Đào tạo Hải DươngBài GV giao

Bài 1


Đọc đoạn trích sau:

Bà ngoại bị bệnh quên sau khi nhận được tin cậu Út tôi mất. Cái tin này nghe nói bay từ biên giới về vào một buổi sáng rất đẹp trời. Hôm đó cóc nhái kêu rộn mặt ao. Mưa rào vừa xuống rửa sạch đường làng lát gạch đỏ. Nắng lên đứng tha thướt ngoài bờ rặng. Bà ngoại tôi đứng nhìn cái tin trên giấy báo, rồi ngã đánh cạch xuống thềm nhà, cái đầu đập cạch xuống thì đúng hơn. Khi bà ngoại tỉnh dậy, ai hỏi cũng không nhớ gì mấy. May thế, mẹ tôi bảo nhờ vậy mà không phải nhìn thấy bà khóc.

Bà ngoại tôi nhận cái giấy như thế là cái thứ ba. Khi nhận cái thứ hai, báo tin cậu thứ hai của tôi, thì ông ngoại tôi không chịu đựng được, nằm xuống luôn dưới đất. Bà ngoại tôi có lên tận trường sĩ quan bảo cậu Út tôi về làng làm ruộng. Nhưng cậu nhất định thích đeo lon sĩ quan, cậu giải thích với bà vậy nên bà đành chịu.

Mấy chị em tôi hay phải chạy sang với bà ngoại mỗi khi ăn cơm chiều xong, vì đấy là việc phải làm, không ai tị nạnh ai.

Tôi chạy sang hỏi bà: “Bà ngoại ơi bà ăn cơm chưa?”

Bà ngoại tôi lúc lắc mái đầu già quá là già, cười cười: “Cháu ra xem ngoài sân có phải gió đã về không?”

Tôi chạy ra sân nghe ngóng. Tôi nghe thấy tiếng gì ù ù: “Bà ơi, đúng rồi, gió đã về.”

Bà ngoại tôi cười, mặt nhăn quá là nhăn, hàm răng sún sún chỉ còn vài cái như mấy hạt ngô lép.

Trong giấc mơ, tôi thấy cả ba cậu của tôi đang cùng ùa vào nhà. Cậu Nhất tôi hiền lành nhất nhà. Cậu Hai thì nghiêm nghị lạnh lạnh. Còn cậu Út lém lỉnh hơi lỏi một tí. Cả ba cậu đều cùng bẹo má tôi. Cậu Nhất hiền lành nên bẹo mà êm êm. Cậu Hai bẹo má tôi mà như đang nặn cục bột. Cậu Út cười ha ha, để cậu bẹo thật kêu nhá. Ái cha, giờ thì tôi biết vì sao bà ngoại nhất định không chịu đi sang nhà tôi ở.

Ngoài sân, gió thổi qua hiên nhà. Bà ngoại tôi lại hỏi: “Cháu ơi, gió có phải đã về không?”

Tôi cựa mình, ngáp ngáp rồi trả lời bà: “Bà ơi, đúng rồi. Gió đã về rồi.”

Ngày nào tôi cũng chuẩn bị nhìn cho kỹ, nghe cho tinh. Tôi chỉ sợ gió về mà không biết để báo cho bà. Bà ngồi chải tóc, những sợi tóc mềm mại lọt qua kẽ tay già ơi là già, rơi rơi theo từng cơn gió.

Tôi lên bảy tuổi nên phải đi học. Ở lớp tôi tập tô và nắn nót viết chữ BÀ. Tôi có bà nội nữa, nhưng bà nội tôi đã đi rất xa, từ khi chưa có tôi trên đời. Nên khi viết chữ bà, tim tôi run lên hai tiếng bà ngoại. Tôi ngồi trong lớp tập viết, bên tai cứ nghe tiếng gió thổi luôn.

Rồi tôi phân biệt được các loại gió.

Khi gió dịu dàng bay về mơn man là lúc các cậu tôi ngủ, đầu gối lên nhau, chân gác lên nhau, theo kiểu gì thì tôi không nhìn ra rõ lắm. Khi gió thổi vù vù là y rằng các cậu đang đùa nghịch giống như lũ trẻ con lớp một lớp hai chúng tôi. Khi gió gừ gừ cắn cảu là lúc các cậu tôi sôi bụng đói. Thật tệ, lúc tôi đói thường cắn răng mà chịu, hoặc chạy ra chum múc nước mưa uống. Nhưng các cậu tôi không uống nước mưa chống đói. Có thể nước mưa không còn thích hợp với các cậu nữa.

(Lược một đoạn: Mẹ tôi về thuyết phục bà ngoại đưa mẹ con cô Hồng về. Đứa con của cô là con của cậu Út. Nay cô muốn cho con trai về nhận bà nội.)

Bà ngoại tôi thì cứ thầm thì: “Cảm ơn con đã không thành gió, đã sống trên đời này với mẹ...”

Mẹ tôi lảng đi, nì nèo: “Thế mẹ đừng quên uống thuốc nữa đấy nhé. Có em Hồng về nhà ở, mẹ đừng quên quên nhớ nhớ nữa đấy...”

“Ừ, mẹ sẽ nhớ.”

Mẹ tôi đi rồi, bà ngoại tôi bảo:

“Bà nói cho cháu biết một bí mật nhé. Khi cậu Út cháu đi, cậu có chạy về bảo với bà: mẹ không được khóc thì con sẽ về thăm mẹ luôn. Khi nào ngoài ngõ có cơn gió về là con với các anh về thăm mẹ đấy. Thực ra bà không điên đâu. Bà chỉ không muốn ông ngoại cháu với các cậu nhìn thấy bà khóc.”

Ôi, bà ngoại điên của tôi. [...]

(Trích: Gió thổi – Võ Thị Xuân Hà – Truyện ngắn chọn lọc báo Nhân dân – Nhà xuất bản Văn học 2019; Tr.77-81)

Thực hiện các yêu cầu:

Câu 1 (0,5 điểm): Xác định nhân vật chính của truyện.

Câu 2 (0,5 điểm): Chỉ ra lý do bà ngoại bị bệnh quên được đề cập đến trong truyện.

Câu 3 (1,0 điểm): Nêu ý nghĩa của những lời thoại mà bà ngoại nói với nhân vật tôi: “... có phải gió đã về không?”, “... gió có phải đã về không?”.

Câu 4 (1,0 điểm): Trình bày hiệu quả của việc sử dụng biện pháp tu từ nhân hóa trong câu sau: “Khi gió dịu dàng bay về mơn man là lúc các cậu tôi ngủ, đầu gối lên nhau, chân gác lên nhau, theo kiểu gì thì tôi không nhìn ra rõ lắm.”

Câu 5 (1,0 điểm): Từ nội dung của truyện, anh/chị có suy nghĩ gì về những con người từng trải qua mất mát vì chiến tranh? (trình bày khoảng 5 – 7 dòng)

Bạn chưa trả lời câu hỏi này. Trả lời câu hỏi này

Bài 2


Câu 1 (2,0 điểm):

Viết đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) cảm nhận về đức hi sinh của bà ngoại trong văn bản ở phần Đọc hiểu.

Câu 2 (4,0 điểm):

Giới hạn – chấp nhận hay phá vỡ?

Từ góc nhìn của người trẻ, anh/chị hãy viết bài văn nghị luận (khoảng 600 chữ) bày tỏ quan điểm về vấn đề trên.

Gemini đã nói

Chào bạn, đây là gợi ý giải chi tiết cho đề thi tham khảo của Sở GD&ĐT Hải Dương dựa trên tác phẩm "Gió thổi" của nhà văn Võ Thị Xuân Hà. Hy vọng những phân tích này sẽ giúp bạn hoàn thành bài tập một cách tốt nhất!


BÀI 1: ĐỌC HIỂU

Câu 1 (0,5 điểm):
Nhân vật chính của truyện là: Bà ngoại.

Câu 2 (0,5 điểm):
Lý do bà ngoại bị "bệnh quên" được đề cập trong truyện là: Do bà phải chịu đựng cú sốc quá lớn sau khi nhận tin cậu Út hy sinh (đứa con thứ ba tử trận). Sự mất mát liên tiếp khiến tâm trí bà không chịu đựng nổi, dẫn đến trạng thái quên quên nhớ nhớ.

Câu 3 (1,0 điểm):
Ý nghĩa của những lời thoại:

  • Về tâm linh/tình cảm: Thể hiện niềm tin ngây thơ nhưng mãnh liệt của bà rằng các con (những người lính đã hy sinh) sẽ trở về theo những cơn gió.
  • Về tâm trạng: Cho thấy nỗi nhớ thương khôn nguôi, đau đáu hướng về các con. Bà luôn chờ đợi, ngóng trông một dấu hiệu dù là nhỏ nhất từ thế giới bên kia.
  • Về sự lựa chọn: Đó là cách bà xoa dịu nỗi đau, tự tạo ra một thế giới riêng để được gần gũi với các con mình.

Câu 4 (1,0 điểm):
Hiệu quả của biện pháp tu từ nhân hóa (gió - dịu dàng, mơn man, ngủ, đầu gối lên nhau, chân gác lên nhau):

  • Làm cho hình ảnh gió trở nên sinh động, có hồn: Gió không còn là hiện tượng tự nhiên mà trở thành hiện thân của những người cậu.
  • Xóa nhòa ranh giới giữa sự sống và cái chết: Gợi lên một không gian ấm áp, bình yên, nơi những người lính hy sinh vẫn đang sống một cuộc đời giản dị, gần gũi.
  • Thể hiện cái nhìn đầy yêu thương và trí tưởng tượng phong phú của nhân vật "tôi": Phản chiếu sự gắn kết tình cảm giữa người sống và người đã khuất.

Câu 5 (1,0 điểm):
Gợi ý đoạn văn (5 - 7 dòng):
Chiến tranh đã đi qua nhưng những vết sẹo trong lòng người ở lại vẫn chưa bao giờ thực sự khép miệng. Những con người bước ra từ mất mát (như bà ngoại trong truyện) sở hữu một sức mạnh chịu đựng phi thường nhưng cũng mang một tâm hồn đầy rẫy những khoảng trống. Họ chọn cách đối diện với nỗi đau bằng sự bao dung, bằng những niềm tin riêng biệt để tiếp tục sống. Chúng ta cần có cái nhìn thấu cảm, trân trọng và biết ơn sâu sắc đối với những hy sinh thầm lặng của họ – những người đã hiến dâng cả gia đình cho hòa bình dân tộc.


Câu 1: Nhân vật trữ tình trong bài thơ là người cháu (đang bày tỏ nỗi lòng, sự hoài niệm và hối tiếc về người bà và quê hương). Câu 2: Những câu thơ miêu tả dáng hình, trạng thái của "cái ngõ xoan nhà bà" là: Lối rất quanh co, đường vàng rơm rạ Cái ngõ xoan / Sáng nay rưng rức Câu 3: * Biện pháp nhân hóa: Gán cho các loại cây trồng (ngô, khoai, lạc, rau khúc) trạng thái tâm hồn của con người qua từ "ngả buồn". Ý nghĩa: * Làm cho cảnh vật trở nên có linh hồn, nhuốm màu tâm trạng. Thể hiện sự đồng điệu giữa thiên nhiên và con người: dường như cỏ cây cũng đang bày tỏ lòng thành kính, sự tiếc thương trước sự ra đi của bà. Tăng sức biểu cảm cho vần thơ, gợi không gian trầm buồn, lặng lẽ. Câu 4: Hai chữ "chùng chình" ở đây có thể hiểu là: Sự do dự, ngập ngừng hoặc bị sa đà, cuốn vào những cám dỗ, hào nhoáng của cuộc sống hiện đại (đám đông, cuộc vui). Thái độ thiếu dứt khoát, để mặc bản thân bị chi phối bởi những thứ phù phiếm mà quên đi những giá trị cốt lõi, giản dị nhưng thiêng liêng là "con đường quê" và "lối cỏ" tuổi thơ. Câu 5: Để tuổi trẻ trôi đi không nuối tiếc, chúng ta cần sống có mục đích và biết trân trọng những giá trị hiện tại. Trước hết, hãy can đảm theo đuổi đam mê và nỗ lực hết mình cho ước mơ để không phải nói lời "giá như". Quan trọng hơn, cần biết cân bằng giữa sự nghiệp và tình cảm, dành thời gian quan tâm, chăm sóc những người thân yêu khi họ còn ở bên ta. Cuối cùng, đừng bao giờ quên đi cội nguồn, bởi đó chính là điểm tựa tinh thần vững chắc nhất giúp ta không bị lạc lối giữa dòng đời xô bồ. PHẦN II: LÀM VĂN Câu 1: Phân tích tình cảm của nhân vật trữ tình đối với người bà (Đoạn in đậm) Đoạn thơ in đậm là những nốt lặng đầy đau xót và ân hận của người cháu khi đối diện với sự ra đi mãi mãi của bà. Tình cảm của người cháu trước hết thể hiện qua sự thấu hiểu và xót xa cho cuộc đời tần tảo của bà qua hình ảnh "ngủ thảnh thơi trên cánh đồng vừa thu hoạch xong". Bà cả đời gắn bó với bùn đất, nay trở về với đất mẹ như một sự nghỉ ngơi sau bao nhọc nhằn. Tiếp đó, tình cảm ấy kết tinh thành nỗi hối hận muộn màng. Điệp ngữ "chưa đi hết", "chưa từng học" cho thấy sự thức tỉnh cay đắng: khi cháu mải mê với những chuyến đi xa ("vòng tròn đất nước"), cháu đã vô tình quên mất "con đường làng" gần gũi và những bài học giản đơn từ bà. Hình ảnh "rau khúc đã già" đối lập với sự chưa trưởng thành trong tâm hồn người cháu tạo nên một khoảng trống không thể lấp đầy. Đoạn thơ không chỉ là lời tiễn biệt mà còn là sự tự vấn lương tâm, thể hiện lòng hiếu thảo và sự trân trọng sâu sắc đối với những kỷ niệm bên bà. Câu 2: Ý nghĩa của bản sắc văn hóa dân tộc đối với tuổi trẻ (Khoảng 600 chữ) Dàn ý gợi ý: 1. Mở bài: Dẫn dắt từ hình ảnh "con đường làng" trong thơ Nguyễn Thị Việt Hà để thấy rằng: Dù đi xa đến đâu, bản sắc văn hóa vẫn là sợi dây kết nối chúng ta với cội nguồn. Nêu vấn đề: Ý nghĩa của bản sắc văn hóa dân tộc đối với tuổi trẻ ngày nay. 2. Thân bài: Giải thích: Bản sắc văn hóa dân tộc là những giá trị vật chất và tinh thần đặc trưng, bền vững (ngôn ngữ, phong tục, nghệ thuật, lối sống...) phân biệt dân tộc này với dân tộc khác. Ý nghĩa đối với tuổi trẻ: Là "tấm hộ chiếu" định danh: Giữa thế giới phẳng, bản sắc giúp người trẻ không bị hòa tan, giúp họ tự tin khẳng định: "Tôi là ai?" khi bước ra quốc tế. Là điểm tựa tinh thần: Văn hóa nuôi dưỡng tâm hồn, dạy ta cách đối nhân xử thế (lòng hiếu thảo, sự nhân ái) giúp người trẻ giữ vững đạo đức trước những biến đổi xã hội. Nguồn cảm hứng sáng tạo: Nhiều bạn trẻ hiện nay đã khởi nghiệp thành công nhờ khai thác chất liệu văn hóa dân tộc (thời trang bền vững, âm nhạc hiện đại pha trộn dân gian...). Phản biện: Một bộ phận người trẻ đang chạy theo xu hướng "ngoại lai", sùng bái văn hóa nước ngoài mà xem nhẹ giá trị truyền thống (quên tiếng mẹ đẻ, bỏ qua lễ tiết...). Hành động: Tuổi trẻ cần "hòa nhập nhưng không hòa tan". Học hỏi tinh hoa nhân loại nhưng phải trên nền tảng hiểu rõ và tôn vinh văn hóa nước nhà. 3. Kết bài: Khẳng định lại vấn đề: Bản sắc văn hóa không phải là cái gì đó cũ kỹ, nó là sức sống của dân tộc. Liên hệ bản thân: Hãy bắt đầu từ việc yêu "con đường làng" và những chiếc "bánh khúc" của bà trước khi chinh phục thế giới. Bạn có muốn mình giúp lập dàn ý chi tiết hơn cho bài văn 600 chữ hoặc gợi ý thêm các dẫn chứng thực tế về người trẻ đang gìn giữ bản sắc không?

Câu 1. Thể thơ: Thơ tự do, có vần, nhịp điệu linh hoạt (không theo một thể cố định như lục bát hay bảy chữ). Câu 2. Từ ngữ tiêu biểu: Biển đảo: Biển mùa này sóng dữ, Hoàng Sa, bám biển, màu cờ nước Việt, giữ biển. Đất nước: Máu, chương sử đỏ, Tổ quốc, máu ấm, bài ca giữ nước. Câu 3. Biện pháp tu từ (so sánh): Đoạn thơ: "Mẹ Tổ quốc vẫn luôn ở bên ta / Như máu ấm trong màu cờ nước Việt". Tác dụng: So sánh tình yêu Tổ quốc với "máu ấm", giúp hình dung được sự thiêng liêng, gắn bó, nguồn sống dồi dào, tinh thần bất diệt mà Tổ quốc mang lại, làm nổi bật tình cảm thiết tha, sâu nặng. Câu 4. Tình cảm nhà thơ: Yêu biển đảo thiết tha, tự hào về đất nước, trân trọng sự hy sinh của người dân biển, ý thức sâu sắc về chủ quyền và trách nhiệm bảo vệ biển đảo. Câu 5. Trách nhiệm bản thân: (Đoạn văn ngắn) Từ đoạn trích, em nhận thức sâu sắc trách nhiệm bảo vệ biển đảo quê hương: học tập tốt, rèn luyện sức khỏe, tìm hiểu về biển đảo, lên án hành động xâm phạm chủ quyền, sẵn sàng tham gia các hoạt động bảo vệ Tổ quốc khi cần, góp phần giữ gìn biển đảo thiêng liêng.

Câu 1. Thể thơ: Thơ tự do, có vần, nhịp điệu linh hoạt (không theo một thể cố định như lục bát hay bảy chữ). Câu 2. Từ ngữ tiêu biểu: Biển đảo: Biển mùa này sóng dữ, Hoàng Sa, bám biển, màu cờ nước Việt, giữ biển. Đất nước: Máu, chương sử đỏ, Tổ quốc, máu ấm, bài ca giữ nước. Câu 3. Biện pháp tu từ (so sánh): Đoạn thơ: "Mẹ Tổ quốc vẫn luôn ở bên ta / Như máu ấm trong màu cờ nước Việt". Tác dụng: So sánh tình yêu Tổ quốc với "máu ấm", giúp hình dung được sự thiêng liêng, gắn bó, nguồn sống dồi dào, tinh thần bất diệt mà Tổ quốc mang lại, làm nổi bật tình cảm thiết tha, sâu nặng. Câu 4. Tình cảm nhà thơ: Yêu biển đảo thiết tha, tự hào về đất nước, trân trọng sự hy sinh của người dân biển, ý thức sâu sắc về chủ quyền và trách nhiệm bảo vệ biển đảo. Câu 5. Trách nhiệm bản thân: (Đoạn văn ngắn) Từ đoạn trích, em nhận thức sâu sắc trách nhiệm bảo vệ biển đảo quê hương: học tập tốt, rèn luyện sức khỏe, tìm hiểu về biển đảo, lên án hành động xâm phạm chủ quyền, sẵn sàng tham gia các hoạt động bảo vệ Tổ quốc khi cần, góp phần giữ gìn biển đảo thiêng liêng.


Con người là nhân tố để cấu thành nên xã hội, mỗi nhân tố đều có ảnh hưởng tích cực và tiêu cực đến xã hội. Ý thức trách nhiệm thể hiện lối sống lành mạnh, văn minh, hiện đại giúp đất nước phát triển. Thế nào là sống trách nhiệm? con người sống có trách nhiệm chính là chịu trách nhiệm trong mọi việc từ bản thân, gia đình và trong xã hội. Trong học tập, công việc nếu thiếu đi tinh thần trách nhiệm sẽ để lại nhiều hậu quả khác nhau, đồng thời xóa mòn niềm tin của con người với nhau. Chúng ta có thể thấy rõ ràng biểu hiện đó là trong học tập học sinh ham học hỏi, về nhà làm bài tập, thực hiện các yêu cầu của giáo viên giao phó đó là sự trách nhiệm. Trong công việc, nhân viên làm việc chăm chỉ, tỉ mỉ, cẩn thận hạn chế sai sót xảy ra nhất là trong các công việc kỹ thuật điều này giúp giảm thiểu rủi ro, đó cũng là tinh thần trách nhiệm. Hay như lên xe buýt bạn bắt gặp một tên trộm đang móc túi người đi xe buýt, thay vì im lặng hãy lên tiếng và cùng mọi người ngăn cản hành động sai trái đó. Ra đường, thấy hành vi vứt rác bừa bãi hãy lên tiếng để bảo vệ môi trường sống. Tất cả đều là hành vi có trách nhiệm thể hiện hành động đẹp, lối sống văn minh. Để trở thành con người có trách nhiệm, mỗi cá nhân nên xác định chuẩn mực mà mình hướng đến và phấn đấu để đạt được chuẩn mực con người. Rèn luyện đạo đức, lối sống, ý thức rõ ràng những hành động đúng sai trong cuộc sống, từ đó biết nhìn nhận vấn đề và dừng chân trước những cám dỗ xấu xa. Mỗi chúng ta đều phải biết đối nhân xử thế, con cái phải có nghĩa vụ yêu thương, phụng dưỡng cha mẹ vô điều kiện. Anh chị em trong một nhà phải biết yêu thương lẫn nhau, sẵn sàng tương trợ khi hoạn nạn khi cần. Trong công việc mỗi chúng ta phải nỗ lực hoàn thành công việc được giao phó, tự chịu trách nhiệm hậu quả khi làm sai. Đối với học sinh còn ngồi trên ghế nhà trường cần phải học hỏi kiến thức, hoàn thành tốt các yêu cầu của giáo viên đó cũng thể hiện tinh thần trách nhiệm. Tinh thần trách nhiệm cũng chính là dám làm dám chịu, dám nhận lỗi khi làm sai. Những cá nhân khi làm sai để lại hậu quả nghiêm trọng thì chối bỏ, đổ lỗi cho người khác, hay bác sỹ tắc trách khám chữa bệnh hời hợt, vô cảm những con người như vậy cần phải được trừng phạt một cách nghiêm khắc. Sống có trách nhiệm giúp cho xã hội văn minh, tiến bộ đất nước phát triển. Mỗi người nên tự ý thức hành động của bản thân để biết ứng xử cho đúng đắn, hợp lý trong các môi trường khác nhau của xã hội.

Câu 1 (0,5 điểm): Phương thức biểu đạt chính của văn bản là: Biểu cảm. Câu 2 (0,5 điểm): Nhân vật trữ tình trong văn bản là người chiến sĩ (hiện thân qua đại từ "anh"). Đó là người lính đang trực tiếp thực hiện nhiệm vụ cắt hàng rào dây thép gai của địch để mở đường cho quân ta tiến công. Câu 3 (1,0 điểm): Nhận xét về hình thức của văn bản: Thể thơ: Thơ tự do (các dòng thơ có độ dài ngắn khác nhau, linh hoạt theo cảm xúc). Cấu trúc: Văn bản được chia làm hai phần đánh số I và II rõ rệt, tương ứng với sự chuyển biến từ trạng thái quan sát, suy tưởng sang hành động cụ thể. Hình ảnh: Sử dụng những hình ảnh biểu tượng, giàu sức gợi (dây thép gai, cánh cò, dòng sông, nhịp cầu) tạo nên sự đối lập giữa chiến tranh tàn phá và khát vọng hòa bình. Ngôn ngữ: Giọng điệu thiết tha, tâm tình nhưng cũng đầy mạnh mẽ, quyết liệt ở đoạn kết. Câu 4 (1,0 điểm): Mạch cảm xúc của văn bản phát triển theo trình tự hành động và tâm trạng của người chiến sĩ: Khởi đầu: Là nỗi đau xót, nhức nhối trước cảnh quê hương bị chia cắt, tàn phá bởi chiến tranh (hình ảnh dây thép gai ngăn cản cánh cò, dòng sông gãy, nhịp cầu gãy). Phát triển: Sự thôi thúc của tình yêu quê hương và tình yêu đôi lứa đã biến thành hành động cụ thể. Mỗi hàng rào dây thép gai được cắt đi là một bước hồi sinh của sự sống (cỏ hát, nhựa chảy, cầu liền, sông chảy). Kết thúc: Cảm xúc bùng nổ thành niềm say mê, hào hùng khi hàng rào cuối cùng bị phá bỏ, mở đường cho sự thống nhất đất nước và khát vọng tự do. Câu 5 (1,0 điểm): Thông điệp ý nghĩa nhất: Khát vọng về sự hòa bình, thống nhất và sức mạnh của tình yêu thương trong việc hàn gắn những vết thương chiến tranh. Giải thích: Văn bản cho thấy hành động cầm súng, cắt dây thép gai không chỉ là nhiệm vụ chiến đấu mà còn là sứ mệnh nối lại những đứt gãy của tình cảm gia đình, tình yêu đôi lứa và sự sống của thiên nhiên. Nó nhắc nhở chúng ta rằng cái giá của hòa bình hôm nay được đổi bằng ý chí và sự hy sinh của những người đi trước để "đất nước sông núi mình... liền lại".

Câu 1 (0,5 điểm): Phương thức biểu đạt chính của văn bản là: Biểu cảm. Câu 2 (0,5 điểm): Nhân vật trữ tình trong văn bản là người chiến sĩ (hiện thân qua đại từ "anh"). Đó là người lính đang trực tiếp thực hiện nhiệm vụ cắt hàng rào dây thép gai của địch để mở đường cho quân ta tiến công. Câu 3 (1,0 điểm): Nhận xét về hình thức của văn bản: Thể thơ: Thơ tự do (các dòng thơ có độ dài ngắn khác nhau, linh hoạt theo cảm xúc). Cấu trúc: Văn bản được chia làm hai phần đánh số I và II rõ rệt, tương ứng với sự chuyển biến từ trạng thái quan sát, suy tưởng sang hành động cụ thể. Hình ảnh: Sử dụng những hình ảnh biểu tượng, giàu sức gợi (dây thép gai, cánh cò, dòng sông, nhịp cầu) tạo nên sự đối lập giữa chiến tranh tàn phá và khát vọng hòa bình. Ngôn ngữ: Giọng điệu thiết tha, tâm tình nhưng cũng đầy mạnh mẽ, quyết liệt ở đoạn kết. Câu 4 (1,0 điểm): Mạch cảm xúc của văn bản phát triển theo trình tự hành động và tâm trạng của người chiến sĩ: Khởi đầu: Là nỗi đau xót, nhức nhối trước cảnh quê hương bị chia cắt, tàn phá bởi chiến tranh (hình ảnh dây thép gai ngăn cản cánh cò, dòng sông gãy, nhịp cầu gãy). Phát triển: Sự thôi thúc của tình yêu quê hương và tình yêu đôi lứa đã biến thành hành động cụ thể. Mỗi hàng rào dây thép gai được cắt đi là một bước hồi sinh của sự sống (cỏ hát, nhựa chảy, cầu liền, sông chảy). Kết thúc: Cảm xúc bùng nổ thành niềm say mê, hào hùng khi hàng rào cuối cùng bị phá bỏ, mở đường cho sự thống nhất đất nước và khát vọng tự do. Câu 5 (1,0 điểm): Thông điệp ý nghĩa nhất: Khát vọng về sự hòa bình, thống nhất và sức mạnh của tình yêu thương trong việc hàn gắn những vết thương chiến tranh. Giải thích: Văn bản cho thấy hành động cầm súng, cắt dây thép gai không chỉ là nhiệm vụ chiến đấu mà còn là sứ mệnh nối lại những đứt gãy của tình cảm gia đình, tình yêu đôi lứa và sự sống của thiên nhiên. Nó nhắc nhở chúng ta rằng cái giá của hòa bình hôm nay được đổi bằng ý chí và sự hy sinh của những người đi trước để "đất nước sông núi mình... liền lại".

Câu 1 (0,5 điểm): Phương thức biểu đạt chính của văn bản là: Biểu cảm. Câu 2 (0,5 điểm): Nhân vật trữ tình trong văn bản là người chiến sĩ (hiện thân qua đại từ "anh"). Đó là người lính đang trực tiếp thực hiện nhiệm vụ cắt hàng rào dây thép gai của địch để mở đường cho quân ta tiến công. Câu 3 (1,0 điểm): Nhận xét về hình thức của văn bản: Thể thơ: Thơ tự do (các dòng thơ có độ dài ngắn khác nhau, linh hoạt theo cảm xúc). Cấu trúc: Văn bản được chia làm hai phần đánh số I và II rõ rệt, tương ứng với sự chuyển biến từ trạng thái quan sát, suy tưởng sang hành động cụ thể. Hình ảnh: Sử dụng những hình ảnh biểu tượng, giàu sức gợi (dây thép gai, cánh cò, dòng sông, nhịp cầu) tạo nên sự đối lập giữa chiến tranh tàn phá và khát vọng hòa bình. Ngôn ngữ: Giọng điệu thiết tha, tâm tình nhưng cũng đầy mạnh mẽ, quyết liệt ở đoạn kết. Câu 4 (1,0 điểm): Mạch cảm xúc của văn bản phát triển theo trình tự hành động và tâm trạng của người chiến sĩ: Khởi đầu: Là nỗi đau xót, nhức nhối trước cảnh quê hương bị chia cắt, tàn phá bởi chiến tranh (hình ảnh dây thép gai ngăn cản cánh cò, dòng sông gãy, nhịp cầu gãy). Phát triển: Sự thôi thúc của tình yêu quê hương và tình yêu đôi lứa đã biến thành hành động cụ thể. Mỗi hàng rào dây thép gai được cắt đi là một bước hồi sinh của sự sống (cỏ hát, nhựa chảy, cầu liền, sông chảy). Kết thúc: Cảm xúc bùng nổ thành niềm say mê, hào hùng khi hàng rào cuối cùng bị phá bỏ, mở đường cho sự thống nhất đất nước và khát vọng tự do. Câu 5 (1,0 điểm): Thông điệp ý nghĩa nhất: Khát vọng về sự hòa bình, thống nhất và sức mạnh của tình yêu thương trong việc hàn gắn những vết thương chiến tranh. Giải thích: Văn bản cho thấy hành động cầm súng, cắt dây thép gai không chỉ là nhiệm vụ chiến đấu mà còn là sứ mệnh nối lại những đứt gãy của tình cảm gia đình, tình yêu đôi lứa và sự sống của thiên nhiên. Nó nhắc nhở chúng ta rằng cái giá của hòa bình hôm nay được đổi bằng ý chí và sự hy sinh của những người đi trước để "đất nước sông núi mình... liền lại".

Câu 1 (0,5 điểm):
Phương thức biểu đạt chính của văn bản là: Biểu cảm.
Câu 2 (0,5 điểm):
Nhân vật trữ tình trong văn bản là người chiến sĩ (hiện thân qua đại từ "anh"). Đó là người lính đang trực tiếp thực hiện nhiệm vụ cắt hàng rào dây thép gai của địch để mở đường cho quân ta tiến công.
Câu 3 (1,0 điểm):
Nhận xét về hình thức của văn bản:
  • Thể thơ: Thơ tự do (các dòng thơ có độ dài ngắn khác nhau, linh hoạt theo cảm xúc).
  • Cấu trúc: Văn bản được chia làm hai phần đánh số I và II rõ rệt, tương ứng với sự chuyển biến từ trạng thái quan sát, suy tưởng sang hành động cụ thể.
  • Hình ảnh: Sử dụng những hình ảnh biểu tượng, giàu sức gợi (dây thép gai, cánh cò, dòng sông, nhịp cầu) tạo nên sự đối lập giữa chiến tranh tàn phá và khát vọng hòa bình.
  • Ngôn ngữ: Giọng điệu thiết tha, tâm tình nhưng cũng đầy mạnh mẽ, quyết liệt ở đoạn kết.
Câu 4 (1,0 điểm):
Mạch cảm xúc của văn bản phát triển theo trình tự hành động và tâm trạng của người chiến sĩ:
  • Khởi đầu: Là nỗi đau xót, nhức nhối trước cảnh quê hương bị chia cắt, tàn phá bởi chiến tranh (hình ảnh dây thép gai ngăn cản cánh cò, dòng sông gãy, nhịp cầu gãy).
  • Phát triển: Sự thôi thúc của tình yêu quê hương và tình yêu đôi lứa đã biến thành hành động cụ thể. Mỗi hàng rào dây thép gai được cắt đi là một bước hồi sinh của sự sống (cỏ hát, nhựa chảy, cầu liền, sông chảy).
  • Kết thúc: Cảm xúc bùng nổ thành niềm say mê, hào hùng khi hàng rào cuối cùng bị phá bỏ, mở đường cho sự thống nhất đất nước và khát vọng tự do.
Câu 5 (1,0 điểm):
Thông điệp ý nghĩa nhất: Khát vọng về sự hòa bình, thống nhất và sức mạnh của tình yêu thương trong việc hàn gắn những vết thương chiến tranh.
Giải thích: Văn bản cho thấy hành động cầm súng, cắt dây thép gai không chỉ là nhiệm vụ chiến đấu mà còn là sứ mệnh nối lại những đứt gãy của tình cảm gia đình, tình yêu đôi lứa và sự sống của thiên nhiên. Nó nhắc nhở chúng ta rằng cái giá của hòa bình hôm nay được đổi bằng ý chí và sự hy sinh của những người đi trước để "đất nước sông núi mình... liền lại".