Hà Phương Linh
Giới thiệu về bản thân
Câu 1.
Thể loại: Truyện trinh thám.
Câu 2.
Ngôi kể: Ngôi thứ ba.
Câu 3.
– HS chỉ ra được kiểu câu ghép: Câu ghép đẳng lập.
– HS xác định được quan hệ ý nghĩa giữa các vế của câu ghép:
+ Vế 1: Tôi bắt đầu xem xét đoạn đường dẫn đến ngôi nhà.
+ Vế 2: tôi thấy rõ những vệt bánh xe, loại xe nhỏ hai chỗ chở thuê.
+ Vế 3: tôi biết chắc là xe này đã đậu ở đấy đêm trước.
=> Các vế câu được nối với nhau bởi kết từ và, thể hiện quan hệ bổ sung giữa các vế câu.
Câu 4.
Vụ án này được coi là một vụ án nan giải, hóc búa vì:
– Trên thi thể của nạn nhân không hề có vết thương nào nhưng trong căn phòng lại có nhiều vết máu.
– Tại hiện trường vụ án có nhiều điểm đáng ngờ như chiếc nhẫn cưới, chữ viết “Rache” trên mé tường tối tăm và dưới thi thể của nạn nhân thứ hai.
– Hai vụ án xảy ra liên tiếp khiến cho các điều tra viên phải đau đầu vì khó mà xác định được nghi phạm và động cơ gây án thực sự.
Câu 5.
– HS dựa vào cách lập luận của Holmes trong văn bản để đưa ra nhận xét khái quát.
– Ví dụ: Holmes là một thám tử tài ba vì ông có cách lập luận vô cùng chặt chẽ, giàu sức thuyết phục:
+ Trước một vụ án nan giải, ông đã tư duy ngược để tìm ra hung thủ thực sự dựa trên cái nhìn khách quan, công bằng.
+ Ông còn tận dụng được triệt để các manh mối, dù là manh mối nhỏ nhất bị cảnh sát bỏ qua để xác lập nên các giả thiết, thu hẹp các khả năng để từ đó tìm ra hung thủ.
- Bảng giá trị của \(y\) tương ứng với giá trị của \(x\) như sau:
\(x\) |
\(- 2\)
|
\(- 1\)
|
\(0\)
|
\(1\)
|
\(2\)
|
\(y = x^{2}\)
| \(4\) | \(1\) | \(0\) | \(1\) | \(4\) |
- Vẽ các điểm \(A \left(\right. - 2 ; 4 \left.\right) , B \left(\right. - 1 ; 1 \left.\right) , O \left(\right. 0 ; 0 \left.\right) , C \left(\right. 1 ; 1 \left.\right) , D \left(\right. 2 ; 4 \left.\right)\) thuộc đồ thị hàm số \(y = x^{2}\) trong mặt phẳng \(O x y\).
- Vẽ đường parabol đi qua các điểm trên, ta nhận được đồ thị của hàm số \(y = x^{2}\).

b) Gọi \(C\) là điểm thuộc \(\left(\right. P \left.\right)\) có tung độ bằng \(16\).
Ta có: \(y_{C} = 16\) hay \(\left(\right. x_{C} \left.\right)^{2} = 16\) suy ra \(x_{C} = \pm 4\).
Vậy \(C \left(\right. 4 ; 16 \left.\right)\) hoặc \(C \left(\right. - 4 ; 16 \left.\right)\).
c) Gọi \(D\) là điểm thuộc \(\left(\right. P \left.\right)\) cách đều hai trục tọa độ.
Ta có: \(d \left(\right. D , O x \left.\right) = \mid y_{D} \mid = x_{D}^{2} ;\)
\(d \left(\right. D , O y \left.\right) = \mid x_{D} \&\text{nbsp}; \mid\).
Theo giả thiết ta có: \(x_{D}^{2} = \mid x_{D} \mid\) suy ra \(\mid x_{D} \mid = 0\) (loại) hoặc \(\mid x_{D} \mid = 1\).
Vậy \(D \left(\right. 1 ; 1 \left.\right)\) hoặc \(D \left(\right. - 1 ; 1 \left.\right)\).
- Bảng giá trị của \(y\) tương ứng với giá trị của \(x\) như sau:
\(x\) |
\(- 4\)
|
\(- 2\)
|
\(0\)
|
\(2\)
|
\(4\)
|
\(y = \frac{1}{2} x^{2}\)
| \(8\) | \(2\) | \(0\) | \(2\) | \(8\) |
- Vẽ các điểm \(A \left(\right. - 4 ; 8 \left.\right) , B \left(\right. - 2 ; 2 \left.\right) , O \left(\right. 0 ; 0 \left.\right) , C \left(\right. 2 ; 2 \left.\right) , D \left(\right. 4 ; 8 \left.\right)\) thuộc đồ thị hàm số \(y = \frac{1}{2} x^{2}\) trong mặt phẳng \(O x y\).
- Vẽ đường parabol đi qua các điểm trên, ta nhận được đồ thị của hàm số \(y = \frac{1}{2} x^{2}\).

b)
- Thay \(x = - 5\) vào đồ thị của hàm số \(y = \frac{1}{2} x^{2}\) ta được: \(y = \frac{1}{2} . \left(\right. - 5 \left.\right)^{2} = \frac{25}{2} \neq - \frac{25}{2}\),
Do đó điểm \(M \left(\right. - 5 ; - \frac{25}{2} \left.\right)\) không thuộc đồ thị hàm số đã cho.
- Thay \(x = - \frac{3}{2}\) vào đồ thị của hàm số \(y = \frac{1}{2} x^{2}\) ta được: \(y = \frac{1}{2} . \left(\right. - \frac{3}{2} \left.\right)^{2} = \frac{9}{8}\),
Do đó điểm \(N \left(\right. - \frac{3}{2} ; \frac{9}{8} \left.\right)\) thuộc đồ thị hàm số đã cho.
- Thay \(x = \frac{1}{2}\) vào đồ thị của hàm số \(y = \frac{1}{2} x^{2}\) ta được: \(y = \frac{1}{2} . \left(\right. \frac{1}{2} \left.\right)^{2} = \frac{1}{8} \neq 2\),
Do đó điểm \(Q \left(\right. \frac{1}{2} ; 2 \left.\right)\) không thuộc đồ thị hàm số đã cho.
Bảng giá trị của \(y\) tương ứng với giá trị của \(x\) như sau:
\(x\)
|
\(- 4\)
|
\(- 2\)
|
\(0\)
|
\(2\)
|
\(4\)
|
\(y = - \frac{1}{4} x^{2}\)
| \(- 4\) | \(- 1\) | \(0\) | \(- 1\) | \(- 4\) |
Vẽ các điểm \(A \left(\right. - 4 ; - 4 \left.\right) ,\) \(B \left(\right. - 2 ; - 1 \left.\right)\), \(O \left(\right. 0 ; 0 \left.\right) ,\) \(C \left(\right. 2 ; - 1 \left.\right) ,\) \(D \left(\right. 4 ; - 4 \left.\right)\) thuộc đồ thị hàm số \(y = - \frac{1}{4} x^{2}\) trong mặt phẳng \(O x y\).
Vẽ đường parabol đi qua các điểm trên, ta nhận được đồ thị của hàm số \(y = - \frac{1}{4} x^{2}\).

b)
- Thay \(x = - 8\) vào đồ thị của hàm số \(y = - \frac{1}{4} x^{2}\) ta được: \(y = - \frac{1}{4} \left(\right. - 8 \left.\right)^{2} = - 16\),
Do đó điểm \(E \left(\right. - 8 ; - 16 \left.\right)\) thuộc đồ thị hàm số đã cho.
- Thay \(x = - \frac{1}{3}\) vào đồ thị của hàm số \(y = - \frac{1}{4} x^{2}\) ta được: \(y = - \frac{1}{4} \left(\right. - \frac{1}{3} \left.\right)^{2} = - \frac{1}{36}\),
Do đó điểm \(F \left(\right. - \frac{1}{3} ; - \frac{1}{36} \left.\right)\) thuộc đồ thị hàm số đã cho.
- Thay \(x = \frac{2}{5}\) vào đồ thị của hàm số \(y = - \frac{1}{4} x^{2}\) ta được: \(y = - \frac{1}{4} \left(\right. \frac{2}{5} \left.\right)^{2} = - \frac{4}{100} \neq \frac{4}{100}\),
Do đó điểm \(Q \left(\right. \frac{2}{5} ; \frac{4}{100} \left.\right)\) không thuộc đồ thị hàm số đã cho.
Bảng giá trị của \(y\) tương ứng với giá trị của \(x\) như sau:
\(x\) |
\(- 2\)
|
\(- 1\)
|
\(0\)
|
\(1\)
|
\(2\)
|
\(y = 2 x^{2}\)
| \(8\) | \(2\) | \(0\) | \(2\) | \(8\) |
Vẽ các điểm \(A \left(\right. - 2 ; 8 \&\text{nbsp}; \left.\right)\), \(B \left(\right. - 1 ; 2 \&\text{nbsp}; \left.\right)\), \(O \left(\right. 0 ; 0 \&\text{nbsp}; \left.\right)\), \(C \left(\right. 1 ; 2 \&\text{nbsp}; \left.\right)\), \(D \left(\right. 2 ; 8 \&\text{nbsp}; \left.\right)\) thuộc đồ thị hàm số \(y = 2 x^{2}\) trong mặt phẳng \(O x y\).
Vẽ đường parabol đi qua các điểm trên, ta nhận được đồ thị của hàm số \(y = 2 x^{2}\).

b)
+ Thay \(x = - 4\) vào đồ thị của hàm số \(y = 2 x^{2}\) ta được: \(y = 2. \left(\right. - 4 \left.\right)^{2} = 32\),
Do đó điểm \(M \left(\right. - 4 ; 32 \left.\right)\) thuộc đồ thị hàm số đã cho.
+ Thay \(x = - \frac{1}{2}\) vào đồ thị của hàm số \(y = 2 x^{2}\) ta được: \(y = 2. \left(\right. - \frac{1}{2} \left.\right)^{2} = \frac{1}{2}\),
Do đó điểm \(N \left(\right. - \frac{1}{2} ; \frac{1}{2} \left.\right)\) thuộc đồ thị hàm số đã cho.
+ Thay \(x = \frac{3}{4}\) vào đồ thị của hàm số \(y = 2 x^{2}\) ta được: \(y = 2. \left(\right. \frac{3}{4} \left.\right)^{2} = \frac{9}{8} \neq \frac{9}{16}\),
Do đó điểm \(Q \left(\right. \frac{3}{4} ; \frac{9}{16} \left.\right)\) không thuộc đồ thị hàm số đã cho.
Câu 1:
Trong đoạn trích Đọc hiểu, nhân vật Đạm Tiên hiện lên qua lăng kính đồng cảm của Thúy Kiều tại khu mộ vô chủ, tạo nên một ấn tượng mạnh mẽ về bi kịch "hồng nhan bạc mệnh". Đạm Tiên là hiện thân tiêu biểu cho số phận oan nghiệt của những người phụ nữ tài hoa trong xã hội cũ: "Chữ tài liền với chữ tai một vần". Nàng là "người tri âm" đầu tiên mà Kiều gặp gỡ trên hành trình lưu lạc, là bóng hình định mệnh báo trước những nỗi đau đớn tột cùng. Chi tiết mộ nàng không người thăm viếng, không bia đá đề tên, nhấn mạnh sự cô đơn, lạc lõng và cái chết oan khiên, gợi lên sự xót xa khôn nguôi. Kiều không chỉ thương xót cho Đạm Tiên mà còn nhìn thấy chính mình trong cái kết cục bi thảm ấy. Sự đồng điệu tâm linh này cho thấy Nguyễn Du đã gửi gắm một cái nhìn nhân đạo sâu sắc, lên án xã hội tàn nhẫn đã vùi dập những tài năng cao quý. Đạm Tiên trở thành tiếng chuông cảnh tỉnh, gieo vào lòng Kiều nỗi ám ảnh về con đường phía trước.
Câu 2:
Trong thời đại khoa học – công nghệ phát triển mạnh mẽ, mạng xã hội đã trở thành một phương tiện quen thuộc và gần gũi với con người, đặc biệt là đối với học sinh. Chỉ với một chiếc điện thoại thông minh hoặc máy tính có kết nối Internet, chúng ta có thể dễ dàng trao đổi thông tin, kết nối bạn bè và tiếp cận kho tri thức rộng lớn của nhân loại. Tuy nhiên, bên cạnh những lợi ích không thể phủ nhận, việc sử dụng mạng xã hội thiếu kiểm soát đang dẫn đến nhiều hệ lụy tiêu cực như sao nhãng học tập, giảm khả năng tập trung, lối sống ỷ lại và thiếu trách nhiệm. Vì vậy, vấn đề đặt ra là làm thế nào để sử dụng mạng xã hội một cách lành mạnh và hiệu quả.
Trước hết, để sử dụng mạng xã hội hợp lí, mỗi học sinh cần biết làm chủ thời gian của bản thân. Thực tế cho thấy, không ít học sinh dành quá nhiều thời gian cho việc lướt mạng, xem video giải trí hay trò chuyện trực tuyến mà quên đi nhiệm vụ học tập và các hoạt động sinh hoạt cần thiết. Điều này không chỉ khiến kết quả học tập sa sút mà còn ảnh hưởng đến sức khỏe thể chất và tinh thần. Do đó, học sinh cần xây dựng thời gian biểu khoa học, ưu tiên việc học, chỉ sử dụng mạng xã hội vào những khoảng thời gian hợp lí và coi đó như một hình thức giải trí có kiểm soát.
Bên cạnh việc quản lí thời gian, học sinh cần chủ động chọn lọc nội dung thông tin khi sử dụng mạng xã hội. Mạng xã hội là môi trường mở, nơi tồn tại song song những thông tin bổ ích và những nội dung tiêu cực, sai lệch. Nếu thiếu hiểu biết và bản lĩnh, học sinh rất dễ bị cuốn theo những trào lưu vô bổ, thậm chí tiếp nhận thông tin không chính xác. Vì vậy, chúng ta cần có ý thức tiếp cận những trang thông tin mang tính giáo dục, khoa học, phục vụ cho học tập và rèn luyện kĩ năng sống, đồng thời tránh xa các nội dung độc hại, phản cảm.
Ngoài ra, sử dụng mạng xã hội hiệu quả còn thể hiện ở văn hóa ứng xử trên không gian mạng. Mỗi học sinh cần có thái độ giao tiếp văn minh, tôn trọng người khác, không dùng lời lẽ xúc phạm, không phát tán tin giả hay tham gia vào các hành vi bắt nạt trên mạng. Ứng xử đúng mực không chỉ góp phần xây dựng môi trường mạng lành mạnh mà còn thể hiện nhân cách, đạo đức và trách nhiệm công dân của mỗi người trong xã hội hiện đại.
Bên cạnh nỗ lực của bản thân học sinh, vai trò của gia đình và nhà trường cũng vô cùng quan trọng. Sự quan tâm, định hướng và giáo dục kịp thời từ cha mẹ, thầy cô sẽ giúp học sinh nhận thức rõ lợi ích và tác hại của mạng xã hội, từ đó hình thành thói quen sử dụng mạng xã hội đúng đắn, biết tự bảo vệ mình trước những nguy cơ tiềm ẩn.
Tóm lại, mạng xã hội là một thành tựu của thời đại số, mang lại nhiều cơ hội học tập và giao tiếp nếu được sử dụng đúng cách. Việc sử dụng mạng xã hội lành mạnh và hiệu quả không chỉ giúp học sinh nâng cao kết quả học tập, mở rộng hiểu biết mà còn góp phần hình thành lối sống tích cực, có trách nhiệm với bản thân, gia đình và xã hội. Mỗi học sinh cần ý thức rõ vai trò của mình, chủ động làm chủ công nghệ, biến mạng xã hội thành người bạn đồng hành hữu ích trên con đường học tập và trưởng thành, thay vì để nó chi phối và ảnh hưởng tiêu cực đến tương lai của chính mình.
Câu 1.
Văn bản “Quê hương” được viết theo thể thơ tự do.
Câu 2.
Đề tài của văn bản “Áo Tết” là tình cảm gia đình, tình bạn và những ước mơ hồn nhiên, giản dị của tuổi thơ trong ngày Tết. Tác giả đã khắc họa tình cảm ấm áp, sự quan tâm của các thành viên trong gia đình và bạn bè dành cho nhau, đồng thời gửi gắm những ước mơ nhỏ bé nhưng giàu ý nghĩa của trẻ thơ.
Câu 3.
Ước mơ của những người lính trong đoạn thơ được thể hiện rất mộc mạc, giản dị nhưng vô cùng tha thiết. Họ không mong ước điều gì to tát mà chỉ ước một ngày thật hòa bình, có thể thoải mái nằm nghỉ trên con đường rộng mà không lo chiến tranh, bom đạn. Điều đó cho thấy khát vọng hòa bình cháy bỏng của những người lính, đồng thời bộc lộ tình yêu tha thiết với cuộc sống bình yên, giản dị – điều tưởng chừng nhỏ bé nhưng lại quý giá vô cùng trong chiến tranh.
Câu 4.
Chi tiết chiếc áo đầm hồng là chi tiết tiêu biểu, mang ý nghĩa quan trọng trong việc khắc họa nhân vật và chủ đề của văn bản. Chiếc áo không chỉ gợi lên ước mơ hồn nhiên, trong sáng của bé gái, mà còn phản ánh khát vọng được yêu thương, được sống trong niềm vui giản dị của trẻ em. Qua chi tiết này, ta thấy được sự ngây thơ, hồn nhiên nhưng cũng rất giàu tình cảm, biết quan tâm và chia sẻ của các nhân vật. Nó góp phần thể hiện tình bạn trong sáng, chân thành, giàu yêu thương – một tình cảm đẹp và đáng trân trọng.
Câu 5.
Qua câu chuyện giữa bé Em và bé Bích, em rút ra bài học sâu sắc về tình bạn và sự sẻ chia. Trong cuộc sống, tình bạn thật sự quý giá khi mỗi người biết quan tâm, nhường nhịn và nghĩ cho nhau. Một món quà, một lời động viên hay một sự quan tâm nhỏ bé cũng đủ khiến tình bạn thêm gắn bó và ý nghĩa. Khi ta biết sống vì bạn bè, niềm vui của bạn cũng trở thành niềm vui của chính mình, nỗi buồn của bạn cũng khiến ta trăn trở, cảm thông. Tình bạn đẹp giúp con người sống nhân ái, vị tha hơn, đồng thời trở thành nguồn động lực để vượt qua khó khăn. Nhờ có sự sẻ chia, tình bạn càng trong sáng, bền chặt và trở thành hành trang tinh thần quý giá trong suốt cuộc đời mỗi người.

a. \(\mid O I - O K \mid < I K < O I + O K\) suy ra \(\left(\right. I \left.\right)\) và \(\left(\right. K \left.\right)\) luôn cắt nhau
b. Do \(O I = N K\); \(O K = I M\) suy ra \(O M = O N\),
Mà \(O M C N\) là hình chữ nhật nên \(O M C N\) là hình vuông.
c. Gọi \(L\) là giao điểm của \(K B\) và \(M C\); \(P\) là giao điểm của \(I B\) và \(N C\)
Suy ra \(O B K I\) là hình chữ nhật và \(B L M I\) là hình vuông nên \(\Delta B L C = \Delta K I O\)
Suy ra \(\hat{L B C} = \hat{O K I} = \hat{B I K}\)
Mà \(\hat{B I K} + \hat{I B A} = 9 0^{\circ}\) suy ra \(\hat{L B C} + \hat{I B A} = 9 0^{\circ}\)
Do đó, \(\hat{L B C} + \hat{L B I} + \hat{I B A} = 18 0^{\circ}\).
d. Có \(O M C N\) là hình vuông cạnh \(a\) cố định nên \(C\) cố định và \(A B\) luôn đi qua \(C\).

a. Kẻ \(O H ⊥ A M\); \(O^{'} K ⊥ M B\) suy ra \(O H\) // \(O^{'} K\).
Tứ giác \(H K O O^{'}\) là hình thang, \(M I ⊥ A B\) suy ra \(M I\) // \(O H\) và \(I O\) // \(I O^{'}\)
Suy ra \(M H = M K\).
Mà \(O H ⊥ A M\) suy ra \(H A = H M = M K = K B\) (đpcm).
b. Ta có \(M E\) là đường trung bình của hình thang \(A B Q P\)
Suy ra \(E P = E Q\).
c. Xét \(\Delta H I K\), có \(I M\) là đường trung tuyến đồng thời là đường cao.
Suy ra \(\Delta H I K\) cân tại \(I\) (đpcm).

a) \(\Delta B C D\) có \(O O^{'}\) là đường trung bình suy ra \(O O^{'}\) // \(C D\) (1)
\(\Delta A B C\) có \(O I\) là đường trung bình suy ra \(O O^{'}\) // \(C A\) (2)
Từ (1) và (2) suy ra \(C\), \(A\), \(D\) thẳng hàng.
b) Ta có: \(\Delta O B O^{'}\) vuông tại \(B\) suy ra \(\Delta B C D\) vuông tại \(B\)
Suy ra \(S_{B C D} = \frac{1}{2} . B C . B D = \frac{1}{2} . 8.6 = 24\) (cm\(^{2}\)).