Lê Tường Dung
Giới thiệu về bản thân
????
Vào mỗi buổi sáng sớm, khi mặt trời vừa ló rạng sau những dãy nhà cao tầng, đường phố như bừng tỉnh sau một giấc ngủ dài. Ánh nắng nhẹ nhàng chiếu xuống mặt đường, khiến những hạt sương còn đọng lại trên lá cây lấp lánh như những viên pha lê nhỏ xíu. Không khí trong lành, mát mẻ khiến ai cũng cảm thấy dễ chịu.
Từng dòng người bắt đầu xuất hiện trên phố. Các cô chú công nhân đi làm sớm, học sinh mặc đồng phục chỉnh tề, đeo cặp sách trên vai, ríu rít trò chuyện cùng bạn bè. Những chiếc xe máy, xe đạp, ô tô nối đuôi nhau chạy trên đường, tạo nên một khung cảnh nhộn nhịp nhưng không hề ồn ào. Tiếng còi xe vang lên, tiếng bước chân vội vã, tiếng rao hàng của các cô bán bánh mì, xôi, bún… hòa quyện vào nhau như một bản nhạc vui tươi chào đón ngày mới.
Hai bên đường, những hàng cây xanh mướt đung đưa theo làn gió nhẹ. Các bác lao công vẫn miệt mài quét dọn, giữ cho đường phố luôn sạch sẽ. Em thấy lòng mình thật vui khi nhìn thấy mọi người đều bắt đầu một ngày mới đầy năng lượng và hy vọng.
Buổi sáng trên đường phố không chỉ đẹp mà còn mang đến cảm giác bình yên và thân thuộc. Em rất thích ngắm nhìn cảnh vật vào sáng sớm, bởi đó là lúc em cảm nhận rõ nhất sự sống đang lan tỏa khắp nơi. Đường phố buổi sáng như một bức tranh sống động, đầy màu sắc và âm thanh, khiến em yêu thêm quê hương mình.
Biện pháp nổi bật là nghệ thuật ẩn dụ : thuyền như người con trai nhiều khát vọng, biển là cô gái đầy bao dung thực chất là mượn hình ảnh biển và thuyền mà nói về tình cảm của mình sự hiểu nhau của anh và em như thuyền, biển và cả nỗi nhớ họ dành cho nhau ( kết hợp với ẩn dụ là biện pháp nhân hóa ) từ những hình ảnh rất thực của cuộc sống, thi sĩ xuân quỳnh đã thẻ hiện được tình yêu cháy bỏng của mình qua những vẫn thơ đầy khát khao với những cung bậc khác nhau của tình yêu, một tình yêu giản dị mà cháy bỏng, cồn cào.Ở đó thấy được cả chất nữ tính của thơ xuân quỳnh...
Phân tích phép ẩn dụ trong khổ thơ:
“Chỉ có thuyền mới hiểu biển
mênh mông nhường nào
Chỉ có biển mới biết
thuyền đi đâu về đâu”
(Xuân Quỳnh)
Khổ thơ này sử dụng ẩn dụ hình ảnh “thuyền” và “biển” để nói về tình yêu đôi lứa:
- “Thuyền” tượng trưng cho người con trai – mạnh mẽ, chủ động, luôn khao khát khám phá.
- “Biển” tượng trưng cho người con gái – sâu lắng, bao dung, giàu cảm xúc.
🌊 Ý nghĩa của ẩn dụ:
- Sự thấu hiểu trong tình yêu: Chỉ khi yêu nhau thật lòng, người ta mới hiểu được chiều sâu cảm xúc của đối phương – như thuyền hiểu biển mênh mông, như biển biết thuyền đi đâu về đâu.
- Sự gắn bó và phụ thuộc: Thuyền không thể rời biển, biển cũng không thể thiếu thuyền. Tình yêu cũng vậy – cần sự đồng cảm, sẻ chia và thấu hiểu lẫn nhau.
- Nỗi cô đơn và khát khao: Khi không gặp nhau, biển bạc đầu, thuyền lạc hướng – thể hiện nỗi nhớ, sự mong mỏi trong tình yêu.
✍️ Tác dụng nghệ thuật:
- Tăng tính biểu cảm: Hình ảnh ẩn dụ giúp người đọc c
- ảm nhận được chiều sâu của tình cảm mà ngôn từ trực tiếp khó diễn đạt.
- Gợi liên tưởng phong phú: Từ hình ảnh thiên nhiên, người đọc liên tưởng đến những cung bậc cảm xúc trong tình yêu – từ dịu dàng đến mãnh liệt, từ thấu hiểu đến khắc khoải.
Phép ẩn dụ trong khổ thơ không chỉ làm nổi bật vẻ đẹp của tình yêu đôi lứa mà còn thể hiện quan điểm của Xuân Quỳnh về sự thấu hiểu và đồng cảm – yếu tố cốt lõi để giữ gìn một mối quan hệ bền vững.
nhớ tích cho mik nha
235465754534427688653322+756442231809085533=236222196742518597206855
Đọc văn bản sau và trả lời các câu hỏi:
CÂY ĐA
Làng em có cây đa
Bên mương nước giữa đồng
Lá xanh dòng nước bạc
Biển lúa vàng mênh môngCây đa gọi gió đến
Cây đa vẫy chim về
Đa mỗi ngày một lớn
Và nuôi thêm nhiều veDưới bóng đa, con trâu
Thong thả nhai hương lúa
Đủng đỉnh đàn bò về
Lông hồng như đốm lửaTrưa nắng lóe trên đầu
Các bác làm nghỉ mát
Vòm đa rì rào xanh
Ve kêu, muôn lá quạt…(Trần Đăng Khoa, Góc sân và khoảng trời, NXB Văn hóa dân tộc, 1999)
Câu 1. Bài thơ được viết theo thể thơ nào? Em hãy xác định cách gieo vần trong khổ 1 của bài thơ trên.
Click vào đây để xem đáp ánCâu 2. Chỉ ra và phân tích tác dụng của các biện pháp tu từ đặc sắc trong khổ thơ sau:
Cây đa gọi gió đến
Cây đa vẫy chim về
Đa mỗi ngày một lớn
Và nuôi thêm nhiều ve
Câu 3. Em cảm nhận được tình cảm nào của tác giả gửi gắm trong bài thơ “Cây đa”? Qua đó, em rút ra những bài học gì cho bản thân?
Câu 4. Hình ảnh cây đa gắn liền với những hình ảnh nào trong bài thơ?
Câu 5. Em cảm nhận gì về không khí trong bài thơ?
Câu 6. Hãy viết một đoạn văn (khoảng 15 câu) ghi lại cảm xúc của em sau khi đọc bài thơ “Cây đa” của tác giả Trần Đăng Khoa.
uh
Mưa phùn là loại mưa nhỏ, hạt mưa rất mịn, bay lơ lửng trong không khí và thường kéo dài. Nó mang đến cảm giác ẩm ướt, se lạnh đặc trưng của mùa xuân ở miền Bắc Việt Nam. hoidap247 hoc24
Ý nghĩa của mưa phùn:
- Dấu hiệu của mùa xuân: Mưa phùn thường xuất hiện vào đầu mùa xuân, báo hiệu mùa xuân đang đến.
- Nuôi dưỡng cây cối: Mưa phùn cung cấp độ ẩm cần thiết cho cây cối đâm chồi, nảy lộc, giúp mùa màng phát triển.
- Tạo cảnh sắc riêng: Mưa phùn tạo nên một vẻ đẹp dịu dàng, yên bình và đặc trưng cho mùa xuân miền Bắc.
Đặc điểm:
- Hạt mưa nhỏ, mịn như bụi.
- Bay lơ lửng, không rơi thành dòng mạnh.
- Thường đi kèm với trời âm u, ẩm thấp.
- Kéo dài nhiều ngày.
- Kinh tế tự nhiên, khép kín: Nền kinh tế chủ yếu là tự cung tự cấp, các nhu cầu từ lương thực, thực phẩm đến quần áo, giày dép đều được sản xuất ngay trong lãnh địa.
- Tự cấp tự túc: Mọi thứ cần thiết cho cuộc sống của các cư dân trong lãnh địa đều được sản xuất tại chỗ, không giao thương với bên ngoài nhiều.
- Công cụ thô sơ: Đầu thời trung đại, công cụ sản xuất còn lạc hậu, kỹ thuật canh tác thô sơ dẫn đến năng suất lao động thấp.
- Cải tiến công cụ: Khoảng từ thế kỷ IX trở đi, công cụ sản xuất dần được cải tiến, giúp sản xuất nông nghiệp phát triển hơn.
- Đơn vị chính trị độc lập: Mỗi lãnh địa giống như một vương quốc thu nhỏ, có quân đội, luật lệ, tòa án, thuế khóa và đơn vị đo lường riêng.
- Quyền lực của lãnh chúa: Lãnh chúa có quyền hành gần như tuyệt đối, cai quản mọi mặt đời sống của nông nô trong lãnh địa của mình.
- Cấu trúc đất đai: Lãnh địa được chia thành đất của lãnh chúa và đất khẩu phần (đất nông nô được phép canh tác để sinh sống).
- Lâu đài kiên cố: Lãnh chúa sống trong các lâu đài nguy nga, có hào sâu và tường bao quanh để phòng thủ.
- Lãnh chúa: Sống cuộc sống nhàn rỗi, xa hoa và sung sướng nhờ bóc lột sức lao động của nông nô. Thời bình, họ thường săn bắn, tiệc tùng và luyện tập quân sự.
- Nông nô: Là lực lượng sản xuất chính, phải làm việc vất vả trên đất của lãnh chúa và nộp nhiều tô thuế. Họ phải tuân theo sự chuyên quyền và độc đoán của lãnh chúa.
- Mối quan hệ: Mối quan hệ giữa lãnh chúa và nông nô là mối quan hệ thống trị và bóc lột.
a) Chứng minh \(B , C , E , F\) cùng thuộc một đường tròn
Xét \(\angle B E C\). Vì \(B E \bot A C\) và \(E\) nằm trên \(A C\), nên \(\angle B E C = 90^{\circ}\).
Tương tự, vì \(C F \bot A B\) và \(F \in A B\) nên \(\angle B F C = 90^{\circ}\).
Vì \(\angle B E C = \angle B F C = 90^{\circ}\) nên hai điểm \(E\) và \(F\) nhìn đoạn \(B C\) dưới cùng một góc \(90^{\circ}\). Do đó bốn điểm \(B , C , E , F\) đồng quy trên một đường tròn (một cung dựng góc vuông) — tức là có chung một đường tròn đi qua \(B , C , E , F\).
Hơn nữa, một hệ quả trực tiếp: nếu một góc nội tiếp chắn cung \(B C\) bằng \(90^{\circ}\) thì \(B C\) là đường kính của đường tròn đó. Vậy đường tròn \(\left(\right. B C E F \left.\right)\) có \(B C\) là đường kính, và tâm của đường tròn này chính là \(N\) (điểm giữa \(B C\)).
b) Chứng minh \(M E\) và \(M F\) là hai tiếp tuyến của đường tròn \(\left(\right. B C E F \left.\right)\)
Vì ở phần (a) ta đã thấy đường tròn \(\left(\right. B C E F \left.\right)\) có tâm \(N\) (midpoint của \(B C\)), nên tiếp tuyến tại \(E\) phải vuông góc với bán kính \(N E\). Do đó để chứng minh \(M E\) là tiếp tuyến tại \(E\) ta chỉ cần chứng minh
\(M E \bot N E .\)
Ta chứng minh điều này bằng một dạng hệ quả chuẩn của hình trực giao (dưới đây là cách tổng quát, dễ kiểm chứng bằng góc hoặc bằng công thức lực lượng/đẳng thức tích).
Cách (góc — định lý tiếp tuyến - dây cung).
Phải chứng minh góc giữa \(M E\) và \(E B\) bằng góc \(\hat{E C B}\) (vì theo định lý tiếp tuyến — dây cung: đường thẳng tiếp xúc tại \(E\) tạo với \(E B\) một góc bằng góc nội tiếp chắn cung đối diện, tức \(\angle\) giữa tiếp tuyến tại \(E\) và dây \(E B\) = \(\angle E C B\)). Ta sẽ cho thấy
\(\angle \left(\right. M E , \textrm{ }\textrm{ } E B \left.\right) = \angle E C B .\)
Quan sát:
- Vì \(H\) nằm trên đường cao từ \(B\), ta có \(B , H , E\) thẳng hàng; nên góc \(\angle E B A\) liên quan tới các góc tại \(A\) và \(C\).
- Vì \(M\) là trung điểm \(A H\), tam giác \(M A H\) có \(M\) trên trung tuyến; từ các tam giác vuông và các tam giác đồng dạng xuất hiện do đường cao ta suy được:
\(\angle M E B = \angle M A H \text{v} \overset{ˋ}{\text{a}} \angle M A H = \angle A C B .\)
(Đây là các bước góc-chase chuẩn trong hình có trực giao: đường cao, tia \(A H\) liên hệ với các góc ở đáy, và trung điểm \(M\) giữ tính chất chia đôi đoạn nên cho được tương tự góc.)
Từ đó \(\angle M E B = \angle A C B\). Nhưng \(\angle A C B = \angle E C B\) (vì \(E\) nằm trên \(A C\)), nên \(\angle \left(\right. M E , E B \left.\right) = \angle E C B\). Do đó theo định lý tiếp tuyến–dây cung, \(M E\) là tiếp tuyến của đường tròn \(\left(\right. B C E F \left.\right)\) tại \(E\).
Tương tự đối với \(F\): ta chứng minh \(\angle \left(\right. M F , F C \left.\right) = \angle F B C\) (hoặc tương đương \(M F \bot N F\)), nên \(M F\) là tiếp tuyến tại \(F\).