Lê Bá Đạt

Giới thiệu về bản thân

Chào mừng bạn đến với trang cá nhân của Lê Bá Đạt
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
(Thường được cập nhật sau 1 giờ!)

Dưới đây là bảng phân biệt tế bào nhân sơ và tế bào nhân thực theo các tiêu chí đã cho:

Tiêu chí

Tế bào nhân sơ

Tế bào nhân thực

Kích thước

Nhỏ (1–10 µm)

Lớn (10–100 µm)

Nhân

Chưa có nhân hoàn chỉnh (không có màng nhân)

Có nhân hoàn chỉnh, có màng nhân

Vật chất di truyền

ADN dạng vòng, trần, nằm trong vùng nhân

ADN dạng thẳng, kết hợp với protein histon, nằm trong nhân

Hệ thống nội màng

Chưa có

Có (lưới nội chất, bộ máy Golgi, màng nhân…)

Bào quan

Không có bào quan có màng (chỉ có ribôxôm)

Có nhiều bào quan có màng và không màng

Đại diện

Vi khuẩn, vi khuẩn lam (tảo lam)

Thực vật, động vật, nấm, tảo

Dưới đây là bảng phân biệt tế bào nhân sơ và tế bào nhân thực theo các tiêu chí đã cho:

Tiêu chí

Tế bào nhân sơ

Tế bào nhân thực

Kích thước

Nhỏ (1–10 µm)

Lớn (10–100 µm)

Nhân

Chưa có nhân hoàn chỉnh (không có màng nhân)

Có nhân hoàn chỉnh, có màng nhân

Vật chất di truyền

ADN dạng vòng, trần, nằm trong vùng nhân

ADN dạng thẳng, kết hợp với protein histon, nằm trong nhân

Hệ thống nội màng

Chưa có

Có (lưới nội chất, bộ máy Golgi, màng nhân…)

Bào quan

Không có bào quan có màng (chỉ có ribôxôm)

Có nhiều bào quan có màng và không màng

Đại diện

Vi khuẩn, vi khuẩn lam (tảo lam)

Thực vật, động vật, nấm, tảo

Dưới đây là bảng phân biệt tế bào nhân sơ và tế bào nhân thực theo các tiêu chí đã cho:

Tiêu chí

Tế bào nhân sơ

Tế bào nhân thực

Kích thước

Nhỏ (1–10 µm)

Lớn (10–100 µm)

Nhân

Chưa có nhân hoàn chỉnh (không có màng nhân)

Có nhân hoàn chỉnh, có màng nhân

Vật chất di truyền

ADN dạng vòng, trần, nằm trong vùng nhân

ADN dạng thẳng, kết hợp với protein histon, nằm trong nhân

Hệ thống nội màng

Chưa có

Có (lưới nội chất, bộ máy Golgi, màng nhân…)

Bào quan

Không có bào quan có màng (chỉ có ribôxôm)

Có nhiều bào quan có màng và không màng

Đại diện

Vi khuẩn, vi khuẩn lam (tảo lam)

Thực vật, động vật, nấm, tảo

Câu 1: Các trích dẫn sân khấu trong đoạn trích gồm:
- (Đế): Lời nói chêm của khán giả/ diễn viên ngoài sân khấu

- (Hát điệu con gà rừng):Diễn tả nỗi đắng cay, bực tức (dùng để than thân trách phận).

-(Tiếng trống nhịp nổi lên, múa điệu bắt nhện, xe tơ, rệt cửi):Hành động mô phỏng công việc dệt vải, thể hiện cảnh sống cô đơn, chờ chồng.

-(Hát điệu sa lệch):Diễn tả tâm trạng lưu luyến, ai oán.

Câu 2:

-Trong lời xưng danh, Xuý Vân kể về tên tuổi của mình, tài hát hay nổi tiếng, hoàn cảnh “phụ Kim Nham, say đắm Trần Phương” và tình trạng điên dại hiện tại.

-Qua đoạn xưng danh có thể thấy đặc điểm của sân khấu chèo: nhân vật tự giới thiệu trực tiếp với khán giả; ngôn ngữ mang tính ước lệ, trữ tình xen tự sự; kết hợp chặt chẽ giữa hát, nói, múa và các làn điệu dân gian.

Câu 3:

Hai câu hát cho thấy ước mơ về một cuộc sống gia đình bình dị, hạnh phúc, vợ chồng gắn bó, cùng lao động và chăm sóc cho nhau.

Câu 4:

-Thực tế cuộc sống của Xuý Vân trong gia đình chồng là cô đơn, buồn tủi, thiếu hạnh phúc vì phải xa chồng, sống trong cảnh chờ đợi mỏi mòn, trong vô vọng.

-Những câu hát diễn tả điều đó là:
“Con gà rừng ăn lẫn với công,
Đắng cay chẳng có chịu được, ức!”

Câu 5:

Nguyên nhân Xuý Vân "Phụ Kim Nham, say đắm Trần Phương". Vì cuộc hôn nhân do cha mẹ sắp đặt không đem lại hạnh phúc, Kim Nham đi học xa lâu ngày khiến nàng cô đơn, trống trải, cảm tháy tuổi xuân lãng phí; thêm vào đó là sự tán tỉnh, dụ dỗ của Trần Phương (giàu có phong tình) và khát khao được yêu thương, sẻ chia.

Câu 6:

Xúy Vân vừa vừa đáng thương (là nạn nhân của hôn nhân ép đặt và xã hội phong kiến, cô đơn, khao khát hạnh phúc) vừa đáng trách (vì ham mê nhất thời, thiếu suy xét, bị lừa gạt). Nàng đại diện cho bi kịch người phụ nữ bị trói buộc. 

Câu 7:

Nếu sống ở thời hiện đại, Xuý Vân có thể lựa chọn cách giải thoát bằng việc thẳng thắn đối thoại với chồng, tự quyết định hôn nhân của mình hoặc chấm dứt cuộc hôn nhân không hạnh phúc bằng ly hôn. Nàng cũng có thể tìm sự hỗ trợ từ gia đình, pháp luật và xã hội để bảo vệ quyền sống, quyền được yêu thương của bản thân, thay vì phải giả điên để trốn chạy bi kịch.


a. Dấu hiệu cho thấy lỗi mạch lạc là ý chuyển đột ngột thiếu thống nhất: đoạn nói về thói quen đọc sách nhưng lại chuyển sang "nó" (chỉ điện thoại) mà không rõ đối tượng, làm mạch ý bị ngắt.

b. Lỗi liên kết:

Đại từ "nó" dùng không rõ ràng, không xác định được là chỉ sách hay điện thoại.

Các câu chưa có từ nối hộp lí giữa phần nói về việc bỏ đọc sách và tác hại của điện thoại.

c. Cách sửa:

Làm rõ đối tượng và thêm từ nối để mạch văn liền mạch hơn, ví dụ:Thay vì cầm một cuốn sách để đọc, nhiều người bây giờ chỉ biết cầm trên tay một chiếc điện thoại thông minh. Không ít người nhận thức rất mơ hồ về ích lợi của việc đọc sách trong bồi dưỡng tâm hồn, phát huy trí tưởng tượng và rèn luyện cách suy nghĩ. Chính chiếc điện thoại ấy, tuy tiện lợi trong cuộc sống hiện đại, nhưng lại khiến con người khó tìm được sự yên tĩnh, lắng sâu trong tâm hồn.

→ Khi đó, đoạn văn mạch lạc và kiên kết chặt chẽ.

a. Đoạn văn rời rạc vì tuy có lặp từ "hiền tài", nhưng ý các câu chưa gắn kết chặt chẽ mỗi câu nói một khía cạnh riêng lẻ, không phát triển hay làm rõ cho ý trước.

b. Đoạn văn mắc lỗi mạch mạch lạc về trình tự và liên kết ý dothiếu sự sắp xếp logic và câu sau không triển khai, giải thích cho câu trước, khiến chủ đề chưa thống nhất, mạch ý bị ngắt quãng.

a. Dấu hiệu cho thấy lỗi mạch lạc là ý chuyển đột ngột thiếu thống nhất: đoạn nói về thói quen đọc sách nhưng lại chuyển sang "nó" (chỉ điện thoại) mà không rõ đối tượng, làm mạch ý bị ngắt.

b. Lỗi liên kết:

Đại từ "nó" dùng không rõ ràng, không xác định được là chỉ sách hay điện thoại.

Các câu chưa có từ nối hộp lí giữa phần nói về việc bỏ đọc sách và tác hại của điện thoại.

c. Cách sửa:

Làm rõ đối tượng và thêm từ nối để mạch văn liền mạch hơn, ví dụ:Thay vì cầm một cuốn sách để đọc, nhiều người bây giờ chỉ biết cầm trên tay một chiếc điện thoại thông minh. Không ít người nhận thức rất mơ hồ về ích lợi của việc đọc sách trong bồi dưỡng tâm hồn, phát huy trí tưởng tượng và rèn luyện cách suy nghĩ. Chính chiếc điện thoại ấy, tuy tiện lợi trong cuộc sống hiện đại, nhưng lại khiến con người khó tìm được sự yên tĩnh, lắng sâu trong tâm hồn.

→ Khi đó, đoạn văn mạch lạc và kiên kết chặt chẽ.

a. Dấu hiệu cho thấy lỗi mạch lạc là ý chuyển đột ngột thiếu thống nhất: đoạn nói về thói quen đọc sách nhưng lại chuyển sang "nó" (chỉ điện thoại) mà không rõ đối tượng, làm mạch ý bị ngắt.

b. Lỗi liên kết:

Đại từ "nó" dùng không rõ ràng, không xác định được là chỉ sách hay điện thoại.

Các câu chưa có từ nối hộp lí giữa phần nói về việc bỏ đọc sách và tác hại của điện thoại.

c. Cách sửa:

Làm rõ đối tượng và thêm từ nối để mạch văn liền mạch hơn, ví dụ:Thay vì cầm một cuốn sách để đọc, nhiều người bây giờ chỉ biết cầm trên tay một chiếc điện thoại thông minh. Không ít người nhận thức rất mơ hồ về ích lợi của việc đọc sách trong bồi dưỡng tâm hồn, phát huy trí tưởng tượng và rèn luyện cách suy nghĩ. Chính chiếc điện thoại ấy, tuy tiện lợi trong cuộc sống hiện đại, nhưng lại khiến con người khó tìm được sự yên tĩnh, lắng sâu trong tâm hồn.

→ Khi đó, đoạn văn mạch lạc và kiên kết chặt chẽ.