Chẩu Văn Thương

Giới thiệu về bản thân

Chào mừng bạn đến với trang cá nhân của Chẩu Văn Thương
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
(Thường được cập nhật sau 1 giờ!)
Văn tế thập loại chúng sinh” còn được gọi là Văn chiêu hồn hay Văn tế chiêu hồn, hiện nay vẫn chưa rõ thời điểm sáng tác. Theo các tài liệu đã có, như văn bản do Đàm Quang Thiện hiệu chú, dẫn lại ý của ông Trần Thanh Mại trên “Đông Dương tuần báo” năm 1939, Nguyễn Du viết bài văn tế này sau một mùa dịch khủng khiếp làm hàng triệu người chết, khắp non sông đất nước âm khí nặng nề; ở khắp các chùa, người ta đều lập đàn giải thoát để cầu siêu cho họ. Tuy nhiên, Giáo sư (GS.) Hoàng Xuân Hãn lại cho rằng, có lẽ Nguyễn Du viết tác phẩm này trước cả “Truyện Kiều”, tức khi ông còn làm cai bạ ở Quảng Bình.   Sách “Từ điển văn học” (bộ mới) cho biết, người đầu tiên phát hiện bài văn tại chùa Diệc ở TP. Vinh, tỉnh Nghệ An là GS. Lê Thước. Nhưng cổ nhất là bản khắc ván năm 1895 của nhà sư Chính Đại (nên được gọi là bản Chính Đại), được tàng trữ ở chùa Hưng Phúc, xã Xuân Lôi, huyện Võ Giàng, tỉnh Bắc Ninh. Từ hai bản này, GS. Hoàng Xuân Hãn đã khảo chứng, hiệu đính kỹ lưỡng và đã đưa ra một văn bản khác có độ tin cậy cao Văn tế là một thể loại văn học được lưu truyền từ Trung Quốc sang Việt Nam. Thời xưa, trong thủ tục tế lễ trời đất, núi sông thường có bài văn cầu chúc. Loại văn đó có tên gọi là tế văn, kỳ văn hoặc chúc văn. Về sau, khi chôn cất người thân, người ta cũng dùng văn tế để tưởng nhớ người đã mất. Văn tế nói chung là loại văn đọc khi tế cúng người đã khuất, bởi vậy nói có hình thức tế-hưởng. Chẳng hạn: Mở đầu bằng năm, tháng, ngày, kính mời vong linh người nào đó; kết thúc bằng ô hô, ai tai (Hỡi ơi! đau đớn thay!). Về hình thức viết văn tế người ta có thể dùng văn vần, tản văn, biền văn và phải tuân thủ theo quy định của thể văn đó.   Một bài văn tế thường có các phần: Lung khởi (cảm tưởng khái quát về người chết), thích thực (hồi tưởng công đức của người chết), ai vãn (than tiếc người chết), kết (nêu lên ý nghĩ và lời mời của người đứng tế đối với linh hồn người chết).      Trong rất nhiều tác phẩm văn tế nổi tiếng bằng chữ Hán hay chữ Nôm từ xưa đến nay, các tác giả đa số thường sử dụng lối văn “biền ngẫu” rất khắt khe về niêm, luật, đối, vận. Trong đó, mỗi câu văn gồm hai vế đối nhau, được kết thúc bằng vần trắc và cả bài văn tế chỉ sử dụng một vần. Có thể dẫn ra đây bài “Văn tế Nghĩa sĩ Cần Giuộc” rất quen thuộc của cụ Nguyễn Đình Chiểu: “Hỡi ôi! Súng giặc đất rền; lòng dân trời tỏ/Mười năm công vỡ ruộng, chưa ắt còn danh nổi như phao; một trận nghĩa đánh Tây, tuy là mất tiếng vang như mõ…”. Trong đó lối văn biền ngẫu như đã nói trên, cũng như thể thức văn tế được thể hiện rất triệt để.   Nói hơi kỹ về thể loại văn tế, để biết rằng với “Văn tế thập loại chúng sinh” cụ Nguyễn Du đã không viết theo thể loại biền ngẫu và nguyên tắc văn tế “nghiêm ngặt” nói trên, mà cụ dùng thể thơ dân tộc, bình dân là “song thất lục bát”. Một thể thơ có nhiều người không biết chữ vẫn có thể ứng tác và rất dễ thuộc, dễ nhớ, dễ lưu truyền. Ngôn ngữ, hình ảnh được sử dụng trong bài cũng rất gần gũi với đời sống cần lao ngay khi vào bài: “Tiết tháng bảy mưa dầm sùi sụt/Toát hơi may lạnh buốt xương khô/Não người thay buổi chiều thu/Ngàn lau nhuốm bạc, lá ngô rụng vàng…”. Như vậy, có thể thấy cụ Nguyễn Du đã xuất phát từ nhu cầu thực tế đời sống tâm linh quần chúng để sáng tạo ra bài văn tế này, giúp cho bất cứ ai cũng có thể tự mình tế lễ, bày tỏ công đức, thành kính với những linh hồn cô quạnh mà không cần đến thầy cúng, thầy chùa với những thủ tục cao siêu, tốn kém. Qua đó, chúng ta cũng nhận thấy sự nhân hậu, nhân văn, của trái tim Đại thi hào Nguyễn Du.

câu2

Thế hệ Gen Z (sinh từ khoảng 1997 đến 2012) là thế hệ đầu tiên lớn lên cùng sự bùng nổ của công nghệ số, internet và mạng xã hội. Điều này định hình nên một thế hệ năng động, sáng tạo và đầy tiềm năng. Tuy nhiên, đi kèm với sự phát triển ấy là vô vàn những nhãn mác, những định kiến tiêu cực mà xã hội gán cho chúng tôi: "ảo tưởng sức mạnh", "ngại va chạm", "làm việc hời hợt", "sống gấp", "ích kỷ"... Từ góc nhìn của một người trẻ thuộc thế hệ này, tôi tin rằng đã đến lúc cần nhìn nhận lại bức chân dung Gen Z một cách công bằng và thấu đáo hơn. Đầu tiên, hãy nói về định kiến "ngại va chạm" hay "yếu đuối". Nhiều người cho rằng Gen Z không chịu được áp lực, dễ dàng từ bỏ khi gặp khó khăn. Sự thật là thế hệ chúng tôi dám lên tiếng về các vấn đề sức khỏe tinh thần (mental health) vốn bị xem nhẹ trước đây. Chúng tôi nhận ra rằng một môi trường làm việc độc hại không phải là nơi để "cống hiến". Việc chúng tôi lựa chọn rời bỏ công ty không phải vì chúng tôi yếu đuối, mà vì chúng tôi ý thức được giá trị bản thân và tìm kiếm sự cân bằng, sự tôn trọng xứng đáng. Chúng tôi không ngại va chạm, chúng tôi chỉ từ chối sự chịu đựng vô lý. Tiếp theo là định kiến về thái độ làm việc "hời hợt", "nhảy việc liên tục". Trong mắt thế hệ trước, sự gắn bó lâu dài với một tổ chức là thước đo của lòng trung thành. Gen Z, ngược lại, coi trọng cơ hội phát triển cá nhân và sự phù hợp về văn hóa doanh nghiệp hơn. Với khả năng tiếp cận thông tin vô tận, chúng tôi hiểu rõ thị trường lao động đang vận hành ra sao. Việc chúng tôi thay đổi công việc nhanh chóng thường xuất phát từ mong muốn học hỏi đa kỹ năng, tìm kiếm mức lương tốt hơn và sự thăng tiến nhanh chóng, chứ không phải sự thiếu trách nhiệm. Sự linh hoạt này thực tế lại là một thế mạnh trong thế giới VUCA (biến động, không chắc chắn, phức tạp, mơ hồ) ngày nay. Về lối sống "sống ảo", "chỉ biết hưởng thụ", đây có lẽ là định kiến phổ biến nhất. Đúng là chúng tôi dành nhiều thời gian trên mạng xã hội, nhưng đó không chỉ là nơi giải trí. Đó là công cụ học tập, kết nối, xây dựng thương hiệu cá nhân và thậm chí là kiếm tiền (thông qua các công việc sáng tạo nội dung, kinh doanh online). Chúng tôi biết tận hưởng cuộc sống, nhưng điều đó không đồng nghĩa với việc chúng tôi lười biếng. Chúng tôi làm việc thông minh hơn, hiệu quả hơn để có thời gian cân bằng giữa công việc và cuộc sống (work-life balance) - một khái niệm mà nhiều thế hệ trước đã phải hy sinh. Những định kiến này, phần lớn đến từ sự khác biệt về bối cảnh lịch sử, công nghệ và giá trị sống giữa các thế hệ. Thế hệ đi trước lớn lên trong thời kỳ khó khăn hơn, đề cao sự ổn định và hy sinh cá nhân. Gen Z lớn lên trong thời kỳ hòa bình, kinh tế phát triển và sự đề cao chủ nghĩa cá nhân, tự do ngôn luận. Thay vì nhìn vào những điểm khác biệt đó như những khuyết điểm, chúng ta nên thấy tiềm năng to lớn của Gen Z: một thế hệ dám nghĩ, dám làm, có tư duy phản biện sắc bén, khả năng thích nghi công nghệ vượt trội và ý thức mạnh mẽ về các vấn đề xã hội, môi trường. Để kết luận, Gen Z không phải là một thế hệ hoàn hảo, nhưng chúng tôi cũng không tồi tệ như những định kiến đang bủa vây. Mỗi thế hệ đều có những ưu và nhược điểm riêng. Điều quan trọng là sự thấu hiểu, đối thoại và hợp tác giữa các thế hệ để cùng nhau xây dựng một xã hội tốt đẹp hơn, nơi mà sự đa dạng trong cách sống và cách làm việc được tôn trọng.

câu 1

Phương thức biểu đạt chính là tự sự và nghị luận, kết hợp với miêu tả và biểu cảm

câu 2

Đoạn trích giới thiệu nhiều kiếp người bất hạnh, từ những người lính, phụ nữ yếu đuối đến kẻ hành khất, người chết yểu, những người ở tầng lớp trên bỗng chốc sa cơ thất thế


câu 3

Các từ láy "lập lòe" và "văng vẳng" có hiệu quả cao trong việc gợi hình, gợi cảm, giúp người đọc hình dung rõ nét khung cảnh u ám, rợn người nơi cõi âm. "Lập lòe" mô tả ánh lửa ma trơi yếu ớt, chập chờn, còn "văng vẳng" tái hiện âm thanh tiếng oan vọng lại từ xa, tạo nên không gian rùng rợn, từ đó khơi gợi lòng thương cảm sâu sắc của người đọc, người nghe đối với các linh hồn bất hạnh. 

câu4

Chủ đề của đoạn trích là sự bi thương và bất công của số phận con người trong xã hội cũ.Cảm hứng chủ đạo là lòng nhân đạo sâu sắc, sự cảm thông và chia sẻ của tác giả Nguyễn Du đối với những số phận bất hạnh, đồng thời là lời cảnh tỉnh cho người đang sống về lẽ vô thường của cuộc đời. 

câu5

: Đoạn trích là minh chứng sống động cho truyền thống nhân đạo cao đẹp của dân tộc ta, thể hiện qua tấm lòng bao dung, trắc ẩn, luôn biết yêu thương, đùm bọc những người gặp hoạn nạn, bất hạnh. Truyền thống này không chỉ dừng lại ở sự đồng cảm mà còn thôi thúc hành động giúp đỡ, dù chỉ là nén nhang bát cháo, thể hiện tinh thần "thương người như thể thương thân". Tấm lòng nhân đạo ấy vượt qua ranh giới cõi âm dương, hướng đến sự giải thoát khổ đau cho mọi chúng sinh, là giá trị văn hóa tinh thần cốt lõi cần được gìn giữ và phát huy trong mọi thời đại.