Nguyễn Thị Phương Anh
Giới thiệu về bản thân
Câu 1
Câu nói của Mark Twain là lời thức tỉnh mạnh mẽ về thái độ sống dấn thân: “Hai mươi năm sau bạn sẽ hối hận vì những gì bạn đã không làm, hơn là những gì bạn đã làm. Vậy nên hãy tháo dây, nhổ neo và ra khỏi bến đỗ an toàn.” Hình ảnh "nhổ neo" biểu trưng cho lòng dũng cảm, dám từ bỏ sự ổn định để đối mặt với thử thách. Thực tế, rào cản lớn nhất của con người chính là nỗi sợ thất bại. Tuy nhiên, sai lầm khi hành động sẽ mang lại bài học, còn sự trì trệ chỉ để lại nỗi tiếc nuối muộn màng. Minh chứng tiêu biểu là J.K. Rowling; dù nghèo khổ và bị 12 nhà xuất bản từ chối, bà vẫn không chọn một "bến đỗ" bình lặng mà kiên trì viết nên Harry Potter. Nếu không dũng cảm "nhổ neo" năm ấy, bà đã không thể trở thành huyền thoại. Mỗi chúng ta cần hiểu rằng vùng an toàn là nơi ấm áp nhưng không có gì lớn lên ở đó cả. Đừng để tuổi trẻ trôi qua trong sự đứng yên, hãy dám bước đi để khám phá đại dương của chính mình. Bởi suy cho cùng, vết sẹo từ sự dấn thân luôn giá trị hơn sự hối hận vì đã không bắt đầu.
câu 2
Trong dòng chảy của văn học hiện thực, hình ảnh người phụ nữ Việt Nam luôn hiện lên với vẻ đẹp của sự tần tảo và đức hy sinh. Đoạn trích "Trở về" của Thạch Lam đã khắc họa thành công nhân vật người mẹ - một biểu tượng của tình mẫu tử bao la, đối lập hoàn toàn với sự lạnh lùng, vô cảm của Tâm – đứa con trai duy nhất. Người mẹ hiện lên trước hết với dáng vẻ già nua, khắc khổ. Sau sáu năm xa cách, trong mắt Tâm, bà "đã già đi nhiều", vẫn mặc bộ áo cũ kỹ và bước đi với tiếng guốc "thong thả và chậm hơn trước". Sự cũ kỹ của bộ quần áo và ngôi nhà "mái gianh xơ xác" là minh chứng cho cuộc đời nghèo khó, chắt chiu, dành dụm tất cả để nuôi con ăn học thành tài. Dẫu con đã ở thành phố giàu sang, bà vẫn chọn lối sống giản dị nơi quê nhà, lặng lẽ chịu đựng sự cô đơn. Vẻ đẹp lớn nhất của người mẹ chính là tình yêu thương và sự bao dung vô điều kiện. Khi gặp lại con, bà không một lời trách móc dù sáu năm qua Tâm biệt tích, không một bức thư hỏi han. Thay vào đó là giọt nước mắt hạnh phúc: "Con đã về đấy ư?". Bà quan tâm đến sức khỏe của con bằng tất cả sự lo lắng: "Năm ngoái... bảo cậu ốm, tôi lo quá". Những câu hỏi săn sóc, những lời mời cơm khẩn khoản cho thấy bà vẫn luôn coi Tâm là đứa con bé bỏng cần được chở che, dù thực tế Tâm đã là một người xa lạ về tâm hồn. Sự đối lập giữa hai nhân vật làm nổi bật nỗi đau của người mẹ. Khi Tâm đưa tiền bằng thái độ kiêu ngạo và "làm xong bổn phận", người mẹ lại "run run đỡ lấy... rơm rớm nước mắt". Giọt nước mắt ấy không phải vì xúc động trước món tiền, mà vì xót xa cho sự cách biệt quá lớn giữa hai mẹ con. Bà yêu con bằng trái tim, còn con lại trả nghĩa bằng vật chất vô hồn. Bằng ngòi bút thấm đẫm tinh thần nhân văn, Thạch Lam đã xây dựng nhân vật người mẹ với tâm hồn đôn hậu và lòng vị tha cao cả. Qua đó, tác giả không chỉ ngợi ca tình mẫu tử mà còn thức tỉnh chúng ta về đạo làm con: đừng để sự thực dụng và ích kỷ che mờ đi nguồn cội, để rồi làm tổn thương những trái tim yêu thương mình nhất.
câu1: phương thức biểu đạt chính được sử dụng trong văn bản trên là nghị luận
câu 2: hai lối sống mà tác giả nêu trong đoạn trích là
- Lối sống thụ động ,trì trệ
- Lối sống khát vọng
Câu 3:
-Biện pháp tu từ: nhân hoá
- Tác dụng
+ Nội dung:Nhấn mạnh quy luật tất yếu của cuộc sống và tuổi trẻ là phải vận động, dấn thân và khát khao vươn ra thế giới lớn lao ("biển rộng") thay vì đứng yên một chỗ. Từ đó, khích lệ thái độ sống tích cực, chủ động.
+Nghệ thuật:làm cho câu văn sinh động hấp dẫn , gợi hình gợi cảm.
+Qua đó, tác giả đã bộc lộ thái độ trân trọng đối với sự vận động và những nỗ lực vươn lên không ngừng của con người.
câu 4
-Tiếng gọi của khát vọng: Là lời thúc giục từ bên trong tâm hồn, nhắc nhở con người không được dừng lại hay bằng lòng với thực tại.
-Sứ mệnh của sự vận động: Khẳng định bản chất của cuộc sống là sự trôi chảy, thay đổi không ngừng. Con người cần sống chủ động, bước đi để khám phá và hòa nhập vào dòng chảy chung của cuộc đời.
Câu 5
-Bài học: Cần sống có mục tiêu, luôn chủ động vận động và không ngừng vươn lên.
-Vì sao: Bởi vì cuộc sống luôn thay đổi, nếu ta đứng yên đồng nghĩa với việc lạc hậu và lụi tàn. Chỉ khi vận động và dấn thân, ta mới khám phá được năng lực của bản thân và đóng góp giá trị cho xã hội, giống như dòng sông chỉ thực sự có ý nghĩa khi chảy ra biển rộng.
Lời của Héc-to: Phu nhân khốn khổ của ta ơi! Nàng đùng dằn vặt lòng mình quá thế! Một người trần mắt thịt không thể bất chấp số phận mà bắt ta xuống địa phủ của thần Ha-đét (Hades) được. Và đã sinh ra trên mặt đất này, chẳng một ai, dù quả cảm hay rụt rè, có thể trốn chạy được số phận. Nàng hãy về nhà chăm lo công việc của mình, quay xa kéo sợi, dệt vải, sai bảo nữ tì chăm chỉ. Chiến tranh là bổn phận của mỗi người đàn ông sinh ra tại thành I-li-ông này, nhất là ta => Với con trai, với vợ, Héc-to là người chồng, người cha tràn đầy tình yêu thương, âu yếm, chăm chút, lo lắng, xót thương hết lòng nhưng đã gạt tình riêng để làm tròn bổn phận, trách nhiệm của người đàn ông, người chủ soái đối với cộng đồng. - Ăng-đrô-mác dù đau đớn tan nát nhưng vẫn mỉm cười trong nước mắt, từ biệt chồng. Nàng là người vợ dịu hiền, hết lòng yêu chồng nhưng cũng hiểu rất rõ về tầm vóc, phẩm cách của người anh hùng. Van nài khẩn cầu chồng đừng ra trận nhưng nàng vẫn gắng làm yên lòng chồng lúc chia tay. Người vợ cũng là một biểu tượng cho tinh thần anh hùng sử thi.
. Ăng-đrô-mác: - Ôi, chàng thật tệ! Lòng can đảm của chàng sẽ huỷ hoại chàng! Chàng chẳng biết thương cả con trai thơ dại, cả người mẹ thiểu não này. Ra trận, bọn A-kê-en nhất loạt xông lên sẽ tức khắc hạ sát chàng, chẳng mấy nữa thiếp thành goá phụ. Thiếp nguyện xuống mồ sâu còn hơn để mất chàng. Chàng bỏ thiếp lại một mình, còn gì thiết tha trên cõi đời này nữa. => Trách móc Héc-to không thương xót vợ con. - Phận thiếp toàn những khổ đau. Thiếp chẳng còn cha, mẹ hiền cũng không còn nữa. […] Rồi cả bảy người anh cùng cha với thiếp, chỉ trong một ngày, lần lượt đi về thế giới bên kia. => Nhắc đến cuộc đời đau khổ của mình để đánh động lòng thương của Héc-to. - Héc-to chàng hỡi, giờ đây với thiếp, chàng là cha và cả mẹ kính yêu; chàng là cả anh trai duy nhất, cả đức lang quân cao quý của thiếp. Xin chàng hãy rủ lòng thương thiếp và con mà đừng ra trận, hãy ở lại trên tháp canh này, đùng để trẻ thơ phải mồ côi, vợ hiền thành góa phụ. => Lời van nài khẩn thiết, thảm não lay động tâm can. * Nhận xét: - Lời của Ăng-đrô-mác chứa đựng sự hoảng sợ và đau khổ tột cùng khi biến cố xảy ra. Đó là lời của một người vợ lo sợ mất chồng, một người mẹ đang cố giữ cha cho con mình. Vì thế, nàng đã viện mọi lí lẽ để thuyết phục Héc-to đừng ra trận. Điểm nhìn của Ăng-đrô-mác là điểm nhìn của một phụ nữ bình thường, không màng đến vinh quang chiến trận, chỉ mong giữ được gia đình, mong người chồng bình an. - Lời của Ăng-đrô-mác còn là lời của một nạn nhân chiến tranh. Chiến tranh với những hậu quả khủng khiếp của nó trở thành một nỗi sợ, nỗi ám ảnh trong nàng. b Héc-to: - Phu nhân ơi, cả ta cũng lo lắng khôn nguôi về mọi điều nàng nói. => Đồng cảm với tâm trạng của người vợ. - Nhưng sẽ hổ thẹn xiết bao với những chiến binh và những người phụ nữ thành To-roa xống áo thướt tha, nếu ta ở lại đây, như kẻ hèn nhát, đứng nhìn từ xa, tránh không xung trận. Hơn nữa, bầu nhiệt huyết trong ta không cho phép ta làm vậy: từ lâu ta đã học cách luôn ở tuyến đầu, can trường chiến đấu, giành vinh quang cho thân phụ và bản thân. => Phương châm sống: coi trọng danh dự, dũng cảm, ngoan cường, luôn hành động vì cộng đồng, vì niềm vinh quang của dòng dõi đế vương. - Ta biết, bằng cả trái tim và lí trí, tự ta biết rõ: sẽ tới ngày thành Tơ-roa thiêng liêng thất thủ. => Dự cảm về tương lai đen tối của thành Tơ-roa. - Song điều làm tim ta tan vỡ không chỉ là nỗi thống khổ sẽ tới của những thần dân thành Tơ-roa, của chính hoàng hậu Hê-cu-ba (Hecuba) và quốc vương Pri-am, không chỉ là nỗi thống khổ của đàn em trai ta rồi đây sẽ bị đòn thù ác nghiệt quật ngã xuống đất bụi mịt mờ, mà còn là nỗi thống khổ của nàng! => Dự cảm về những thống khổ mà người thân phải chịu đựng, dự báo những bi kịch thảm khốc mà vợ phải nếm trải. * Nhận xét: - Lời của Héc-to là lời của một người đàn ông hết lòng thương yêu gia đình, nhưng hơn hết, chàng là người dũng cảm, ngoan cường, coi trọng danh dự, sẵn sàng hi sinh để bảo vệ thành bang, sẵn sàng gạt tình riêng vì nghĩa lớn. Đó là phẩm chất của người anh hùng đại diện cho cộng đồng. - Thông qua nhân vật Héc-to, tác giả đưa ra hình mẫu về người anh hùng theo quan niệm của người Hy Lạp thời cổ đại: kết hợp hài hòa giữa con người cá nhân và con người cộng đồng.
Do sử thi tồn tại dưới hình thức truyền miệng, song lại có dung lượng lớn, câu chuyện vì thế không được kể liên tục mà bị ngắt quãng thành nhiều đoạn, do đó, để giúp người nghe có thể ghi nhớ, có ấn tượng sâu sắc về các nhân vật, người kể chuyện sử thi phảo lặp đi lặp lại các từ ngữ miêu tả nhân vật. Những từ ngữ này thường được gọi là TÍNH NGỮ CỐ ĐỊNH, là một trong những đặc trưng rất quan trọng của thể loại sử thi. => Tác dụng: Việc lặp lại các từ ngữ như vậy giúp cụ thể hóa và khắc ghi đặc điểm của nhân vật vào tâm trí của người đọc, đồng thời tạo nên nhịp điệu kể chuyện chậm rãi của sử thi.
Các chi tiết biểu hiện không gian: + "Héc-to về tới ngôi nhà êm ấm của mình, nhưng không thấy Ăng-đrô-mác cánh tay trắng ngần trong buồng như thường lệ". + "Nàng đứng trên tháp canh nức nở". + "Bà vừa đi vừa chạy lên thành". + "Héc-to tức thì rời nhà, chạy ngược theo những dãy phố thành Tơ-roa xây dựng khang trang. Xuyên qua phố xã thành Tơ-roa rộng lớn, chàng tới cổng X-kê". * Đặc điểm của không gian nghệ thuật: Tình cảm riêng tư của nhân vật được bộc lộ trong cuộc trò chuyện ngay tại cổng thành - Biểu tượng của không gian cộng đồng trong chiến tranh. Trong lời đối thoại của Ăng-đrô-mác và Héc-to, hình ảnh của thành Tơ-roa cũng liên tục được nhắc tới. * Không gian cộng đồng là không gian đặc trưng của sử thi: + Chiến trường, thành lũy, tháp canh, phố xá,… không chỉ là nơi nhân vật sử thi bộc lộ sức mạnh phi thường và phẩm chất can trường của mình, mà còn làm nền cho những tình cảm riêng tư nhất của con người. + Người anh hùng sử thi cũng là người gắn bó mật thiết với mảnh đất quê hương của họ, sự sống và cái chết, niềm vinh quang và nỗi đau khổ của họ đều gắn với sự tồn vong, thịnh suy của thành lũy, pháo đài,… + Những không gian tòa tháp, thành lũy, phố xá thành Tơ-roa, cổng Xkê,… đều là những không gian rộng lớn, kì vĩ trong đời sống của cộng đồng cư dân thời cổ đại. Chúng được nhắc tới trong văn bản đã thể hiện sự xây dựng nghệ thuật hình tượng hoành tráng của thể loại sử thi. Đồng thời những không gian trên như là minh chứng tồn tại cho đến ngày nay nhắc lại sự kiện lịch sử có thật xảy ra vào thế kỉ XII trước Công nguyên, cuộc chiến diễn ra ở thành Tơ-roa giữa quân Hy lạp và quân Tơ-roa.
LUẬN ĐIỂM MỞ ĐẦU:Thực trạng, biểu hiện của quan niệm và kì thị người đồng giới
Thực trạng: Quan niệm và kì thị người đồng giới vẫn còn phổ biến trong xã hội, gây ra nhiều hậu quả tiêu cực.
Biểu hiện: Sử dụng ngôn ngữ phân biệt đối xử, miệt thị. Phân biệt đối xử trong công việc, giáo dục, y tế. Bạo lực thể chất, tinh thần đối với người đồng giới. Áp lực "chuyển đổi giới tính" hoặc che giấu xu hướng tính dục thật sự.
LUẬN ĐIỂM BỔ SUNG:Tác hại của quan niệm và kì thị người đồng giới
Đối với người đồng giới: Tổn thương tâm lý, trầm cảm, lo âu, tự ti. Nguy cơ tự tử cao hơn. Khó khăn trong việc hòa nhập xã hội, tìm kiếm hạnh phúc cá nhân. Sợ hãi công khai xu hướng tính dục, sống trong sự che giấu.
Đối với xã hội: Mất đi nguồn nhân lực tài năng do sự phân biệt đối xử. Gây chia rẽ, mất đoàn kết trong cộng đồng. Vi phạm quyền con người cơ bản về bình đẳng và không phân biệt đối xử.
CÂU CHỦ ĐỀ:
Cần thay đổi quan niệm, xóa bỏ kì thị để xây dựng một xã hội công bằng, văn minh, tôn trọng sự đa dạng của con người.
LUẬN ĐIỂM BỔ SUNG:
Các giải pháp để thay đổi quan niệm và xóa bỏ kì thị Tăng cường giáo dục về giới tính, xu hướng tính dục, sự đa dạng của con người trong trường học và cộng đồng. Truyền thông tích cực về cộng đồng LGBT+, nêu bật những đóng góp của họ cho xã hội. Ban hành và thực thi các chính sách, pháp luật chống phân biệt đối xử dựa trên xu hướng tính dục và bản dạng giới. Khuyến khích đối thoại, chia sẻ để hiểu hơn về người đồng giới. Mỗi cá nhân cần tự nhìn nhận, thay đổi định kiến của bản thân.
ĐÁNH GIÁ TỔNG KẾT, LIÊN HỆ:
Ý nghĩa của việc xóa bỏ kì thị người đồng giới Xây dựng một xã hội nhân văn, nơi mọi người đều được tôn trọng, bình đẳng. Giúp người đồng giới sống hạnh phúc, tự tin, phát huy hết tiềm năng của bản thân. Thúc đẩy sự phát triển chung của xã hội dựa trên sự đa dạng và hòa hợp.
Liên hệ bản thân: Cần chủ động học hỏi, lan tỏa thông điệp tích cực về bình đẳng, tôn trọng người khác dù họ là ai.