Hoàng Đức Viên

Giới thiệu về bản thân

Chào mừng bạn đến với trang cá nhân của Hoàng Đức Viên
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
(Thường được cập nhật sau 1 giờ!)

Câu 1

Trong đoạn trích Vĩnh biệt Cửu Trùng Đài, Đan Thiềm, một cung nữ tài hoa, hiện lên như một điểm sáng nhân văn hiếm hoi, là hiện thân của tư tưởng nghệ thuật vị nhân sinh, nhưng cũng mang bi kịch sâu sắc. Bà là người có "con mắt xanh", thấu hiểu và cảm phục tài năng kiến trúc lỗi lạc của Vũ Như Tô, vượt lên hoàn cảnh cung cấm đầy khắc nghiệt để chia sẻ, động viên ông. Đan Thiềm không chỉ đơn thuần là người tri kỷ, mà còn là người có lý tưởng thẩm mỹ cao đẹp, khích lệ Vũ Như Tô xây dựng Cửu Trùng Đài không chỉ vì bạo chúa mà còn vì vẻ đẹp muôn đời, vì sự vinh quang của dân tộc, thể hiện khát vọng nghệ thuật cao siêu.  Tuy nhiên, chính sự lý tưởng hóa nghệ thuật này lại khiến bà và Vũ Như Tô xa rời thực tế cuộc sống của nhân dân, dẫn đến sự phẫn nộ và khởi nghĩa. Những lời van xin, khẩn thiết của Đan Thiềm trong cơn hoảng loạn khi bọn giặc đến, cho thấy bà yêu mến tài năng đến mức quên cả tính mạng, sẵn sàng chết cùng "người đồng bệnh". Cuối cùng, Đan Thiềm phải gánh chịu số phận bi thảm, chết cùng người nghệ sĩ tài hoa, làm hiện rõ bi kịch của những người nghệ sĩ lý tưởng hóa nghệ thuật, xa rời cuộc sống, đồng thời khẳng định quan điểm nghệ thuật phải gắn liền với lợi ích và cuộc sống của nhân dân của tác giả. 


Câu 2

Từ xưa đến nay thể loại về kịch chiếm một vị trí rất quan trọng trong văn học Việt Nam, kịch là một trong những thể loại văn học đặc sắc và trong nền kịch Việt Nam không thể bỏ sót cái tên Nguyễn Huy Tưởng với vở kịch nổi tiếng “Vũ Như Tô”. Đây là tác phẩm đa được nhà văn thể hiện ra những quan điểm của mình về những mối quan hệ phức tạp giữa nghệ thuật và cường quyền và đó là sự phức tạp giữa nghệ sĩ và nhân dân và hơn nữa đáng nói đó là văn hóa dân tộc nữa. Và trong vở kịch “Vũ Như Tô” thì đoạn trích “Vĩnh biệt Cửu Trùng Đài” là một trong những đoạn trích hay thể hiện rõ nhất bi kịch cũng như quan niệm của tác giả được gửi gắm qua đoạn trích.Tác giả đã dựng lên nhân vật Vũ Như Tô - một kiến trúc sư thiên tài bị vua Lê Tương Dực bắt xây dựng Cửu Trùng Đài để làm nơi hưởng lạc, vui chơi với các cung nữ vốn là một nghệ sĩ chân chính gắn bó với nhân dân, cho nên mặc dù bị Lê Tương Dực dọa giết, Vũ Như Tô vẫn ngang nhiên chửi mắng tên hôn quân ấy và kiên quyết từ chối xây Cửu Trùng Đài (hồi I).

Nhân vật Đan Thiềm được tác giả giới thiệu là một cung nữ đã thuyết phục Vũ Như Tô chấp nhận yêu cầu của Lê Tương Dực, lợi dụng quyền thế và tiền bạc của hắn, trổ hết tài năng để xây dựng cho đất nước một tòa lâu đài vĩ đại bền như trăng sao, có thể tranh tinh xảo với hóa công để cho dân ta nghìn thu còn hãnh diện.

Mở đầu tác phẩm là tiếng hoảng hốt của Đan Thiềm, khuyên Vũ Như Tô hãy mau trốn đi. Cơn biến loạn xảy ra ở kinh thành nên tình trạng của Vũ Như Tô hết sức nguy hiểm, nhưng Vũ Như Tô lại nhất định không trốn, không nghe lời khuyên của Đam Thiền bởi “Những người quân tử không bao giờ sợ chết. Mà vạn nhất có chết, thì cùng phải để cho mọi người biết rằng công việc mình làm chính đại quang minh. Tôi sống với Cửu Trùng Đài, chết cũng với Cửu Trùng Đài. Tôi không thể xa Cửu Trùng Đài một bước. Hồn tôi để cả ở đây, thì tôi chạy đi đâu?”. Ông hi sinh hết mình cho nghệ thuật, ông cố thủ ở lại cũng mong Cửu Trùng Đài sẽ được hoàn thiện, để tranh tinh xảo với hóa công. Nhưng ông nào biết, chính quyết định đó đã khiến ông nhận lấy cái chết oan nghiệt, đến cả lúc chết ông vẫn không thể lí giải vì sao mình phải chết.

Khi nhận lời xây dựng Cửu Trùng Đài bản thân Vũ Như Tô đã mắc phải sai lầm trong suy nghĩ và hành động. Vũ Như Tô mượn uy quyền và tiền bạc của Lê Tương Dực để thực hiện giấc mộng cửu trùng đài. Nhưng tiền bạc đó chính là công sức, của cải của nhân dân, ông chỉ nhìn thấy cái bề nổi khi xây dựng xong Cửu Trùng Đài, mà không nhận ra phần sâu của sự việc. Cửu Trùng Đài càng đến ngày hoàn thiện thì mâu thuẫn giữa ông với nhân dân càng lớn dần, họ căm ghét Vũ Như Tô bởi ông đã hạ lệnh giết chết những người bỏ trốn để duy trì kỉ luật trên công trường. Đó là hành động hết sức tàn nhẫn, đặt công trình lên trên tính mạng của thợ thuyền. Vũ Như Tô đã biến thành một kẻ đáng sợ, người dân không còn thấy hình ảnh của Vũ Như Tô gần gũi với nhân dân đâu nữa. Vì xây Cửu Trùng Đài mà cuộc sống của nhân dân ngày càng cực khổ. Vũ Như Tô là một thiên tài nhưng không phải là một hiền tài. Ông không thấu hiểu nỗi thống khổ của nhân dân.

Khi theo dõi đoạn trích, chúng ta có thể nhận thấy mâu thuẫn thứ hai trong đoạn trích này không đâu khác đó chính là mâu thuẫn giữa những quan niệm nghệ thuật thuần túy lâu đời đối với cả những lợi ích thiết thực của quần chúng nhân dân trong việc xây dựng lên một Cửu Trùng Đài. Có thể thấy được trong tác phẩm này dường như ta lại thấy Vũ Như Tô là một người nghệ sĩ và ông lại rất có tâm và hết lòng vì nghệ thuật. Có lẽ chính vì thế mà ông luôn luôn muốn cống hiến cho đất nước mình những công trình nghệ thuật đẹp đẽ. Thế nhưng bản thân ông chính là một người nghệ sĩ ông lại như không nhận thức cho ra được mối quan hệ khăng khít giữa nghệ thuật và cả đời sống cho nên chính ông cũng đã mắc sai lầm và dẫn tới cái chết thương tâm. 

Vũ Như Tô đã xây dựng Cửu Trùng Đài thành một công trình nghệ thuật lớn, vĩ đại vì thế cho nên nó rất tiêu tốn một lượng ngân khố của quốc gia. Mà dường như tất cả ngân khố quốc gia lại chính là nhân dân làm ra chứ phải là một ai hết. Chính vì lẽ đó mà việc xây dựng càng lớn, càng nguy nga thì nhân dân càng khổ nhiều hơn. Có thể nói Cửu Trùng Đài được xây dựng bằng xương máu của những người đan vậy. Còn Vũ Như Tô là một người nghệ sĩ tài ba, ông có tài thật đó nhưng lại xa rời thực tế, chỉ lo cho lý tưởng của mình cho nên nhận lấy kết quả đáng buồn

Câu 1:

 Giới thiệu khái quát về tác giả, tác phẩm, vị trí của đoạn trích và nêu vấn đề cần nghị luận.

Phân tích nội dung và nghệ thuật của đoạn trích theo một trình tự phù hợp. chẳng hạn: Sức mạnh dữ dội, cuồng bạo, khủng khiếp của những rán nước trên mặt biển: nước như mãnh hổ vằn vện đang trong cơn say cắn xé con mồi (Thấy nước vằn mông mốc/ Xé nhau đục vật vờ); âm thanh đe doạ hung bạo khủng khiếp của nước (nước cuộn thác, nước ác kéo âm ầm, nước đổ xuống ầm ầm, nước xoáy dữ ào ào, nước thét gào kéo xuống Long Vương, khắp mặt biển nước sôi gầm réo); nước dựng thành hình, thành khối, thành phong ba, tường thành (biển nổi bão phong ba, nước đổ xuống ầm ầm to hon bịch dựng lúa, nước dựng đứng chấm trời); nước như thú hoang vồ mồi, như quỷ đói chặn đường, đường qua rán nước là đường vào cõi chết (nơi đây có quỷ dữ chặn đường, nơi đây có ngọ lồm bủa giăng, chực ăn người đi biển, chực nuốt tảng nuốt thuyền); nước đòi mạng người, đòi tiền, đòi bạc (Mau mau lên lấy tiền, lấy tiền ra thế/ Đem vàng bạc ra lễ chuộc thân/ Có bạc mới được qua); các từ láy tượng thanh, tượng hình (mông mốc, vật vỡ, ầm ầm, ào ào);… Các động từ mạnh (xé, cuộn, kéo, chặn, bủa giăng, ăn, nuốt, đồ xoáy, thét gào, sôi, lôi, giết); biện pháp tu từ nhân hoá, phép điệp, so sánh,…; điểm nhìn và lời kể từ sự nhỏ bé, hãi hùng, kinh sợ của các sa dạ sa dồng. –> tất cả đã khiến cho sự khủng khiếp, dữ dội, cuồng bạo hiện lên vô cùng trực quan, sinh động, tác động mạnh vào giác quan của người đọc. Hình ảnh biển với chồng chất những rán nước hiện lên là biển khổ đau, biển chất chồng oan khốc, biển chất chồng những áp bức, hung bạo của bọn quan lại thống trị, của cái ác giáng xuống đầu những con người thấp cổ bé họng như thân phận của sa dạ sa dồng…

Mua sản phẩm bán chạy nhất

Thân phận nhỏ bé, yếu đuối, khốn khổ của các sa dạ sa dồng khi vượt biển: con thuyền mong manh giữa muôn trùng phong ba bão biển, trong tay các sa dạ sa dồng chỉ có mái chèo nhỏ; sự thúc giục nhau chống chọi với biển dữ (chèo đi thôi, chèo đi!, nước cuộn thác chớ lo, biển nổi bão phong ba dừng run đừng rợn), khích lệ nhau chớ lo, chớ run, đừng run, đừng rợn nhưng người đọc cảm nhận được nổi lo, nỗi run, nỗi rợn,… của các sa dạ sa dồng; tiếng kêu thương, kêu cứu dây thảm thiết, kinh hãi của các sa dạ sa dồng (Biển ơi, đừng giết tôi,/ Nước hỡi, đừng lôi lấy thuyền,/ Đừng cho thuyền lật ngang/ Đừng cho tôi bỏ thân chốn này biến hỡi!); sự đối lập giữa cái hung hãn, dữ dội, chồng chất của biển, của rán nước và sự nhỏ bé, yếu đuối, khốn khổ, tội nghiệp của con người.

Đoạn trích là tiếng kêu thương cho số phận khốn khổ, bị doạ đây, cực nhục của các sa đạ sa dồng cũng là của những con người lao động bé nhỏ, tội nghiệp, những thân phận bị áp bức. Qua đó, phản ánh thực trạng xã hội áp bức bất công, chồng chất oan khiên giáng xuống đầu những con người bé mọn, vô tội.

+Nghệ thuật: Đoạn trích thể hiện trí tưởng tượng phong phú, sáng tạo của tác giả dân gian. Đoạn trích đã mượn thế giới của cõi âm để phản ảnh hiện thực bất công, tàn khốc. Ngôn ngữ, hình ảnh sinh động, thể hiện tư duy trực quan, chất phác,… của người đồng bào.

Câu 2

Tình thân là cội nguồn sức mạnh, bến đỗ bình yên và ngọn lửa sưởi ấm tâm hồn trong cuộc sống, mang đến sự sẻ chia, nâng đỡ khi ta vấp ngã, giúp ta định hình nhân cách và tạo động lực.

Vươn lên, làm cho cuộc đời ý nghĩa hơn, kết nối yêu thương và xây dựng hạnh phúc bền vững, bởi lẽ, gia đình là nơi ta thuộc về, là điểm tựa vô giá giúp ta trưởng thành và vượt qua mọi thử thách.Cuộc đời mỗi con người là một hành trình dài với vô vàn thử thách và niềm vui. Giữa dòng chảy hối hả ấy, điều gì giữ cho ta đứng vững, điều gì mang lại bình yên và động lực? Câu trả lời chính là tình thân – một thứ tình cảm thiêng liêng, vô giá, là sợi dây kết nối tâm hồn, là điểm tựa vững chãi, có vai trò không thể thay thế trong cuộc sống.Khi cuộc sống giông bão, khi ta thất bại, mệt mỏi, tình thân là bến đỗ bình yên nhất. Gia đình, những người thân yêu luôn dang rộng vòng tay, lắng nghe, sẻ chia và thấu hiểu, giúp ta xoa dịu vết thương lòng, tìm lại niềm tin và sức mạnh để đứng dậy. Đó là nguồn động viên vô hình nhưng vô cùng lớn lao, giúp ta vượt qua những khó khăn, vất vả, như câu nói: "Khi yêu, chúng ta luôn cố gắng trở nên hoàn thiện hơn. Khi ta nỗ lực để tự hoàn thiện, thế giới xung quanh cũng sẽ trở nên đẹp đẽ hơn" – tình thân chính là nguồn động lực lớn nhất thúc đẩy sự hoàn thiện đó, theo trích dẫn từ "Nhà Giả Kim" trên Facebook. Tình thân là cái nôi nuôi dưỡng tâm hồn, định hình nhân cách. Từ gia đình, ta học cách yêu thương, sẻ chia, biết ơn, trách nhiệm. Những bài học đầu đời, những lời dạy bảo của cha mẹ, anh chị em, những giá trị văn hóa, truyền thống được trao truyền qua các thế hệ, tạo nên nền tảng vững chắc, giúp mỗi người hiểu rõ giá trị của bản thân, biết mình là ai và nên làm gì. 

Tình thân không chỉ giới hạn trong gia đình hạt nhân mà còn mở rộng ra cộng đồng, xã hội. Một xã hội văn minh, tốt đẹp được xây dựng từ những gia đình hạnh phúc, nơi mỗi cá nhân được yêu thương và học cách yêu thương. Tình thân lan tỏa tạo nên sự gắn kết, lòng vị tha, sự đồng cảm, xây dựng một cộng đồng nhân ái, nơi mọi người cùng nhau nỗ lực vì điều tốt đẹp chung.Trong xã hội hiện đại, áp lực cuộc sống đôi khi khiến tình thân bị phai nhạt, con người dễ trở nên vô cảm, xa cách. Vì vậy, việc trân trọng và vun đắp tình thân là vô cùng cần thiết. Hãy dành thời gian cho gia đình, lắng nghe và thấu hiểu, chia sẻ những vui buồn, tạo dựng những giá trị yêu thương bền vững.


Câu 1: Bối cảnh: Vua Lear sau khi bị các con gái hắt hủi, rơi vào trạng thái điên loạn, đang lang thang giữa thiên nhiên hoang dã với hình ảnh "đeo quấn rất ngộ nghĩnh những hoa đồng cỏ nội”

Câu 2:Biểu hiện: Ông nói năng mê sảng, lẫn lộn giữa thực tại và ảo giác (nhìn thấy chuột, chim, khổng lồ, tưởng tượng mình đang huấn luyện quân đội). Ông mặc trang phục kỳ dị (quấn hoa cỏ) – biểu tượng cho sự sụp đổ của vương quyền và sự thống trị của bản năng, thiên nhiên.

Câu 3:Trong cơn điên, Lear nhận ra sự chân thực của thiên nhiên đối lập với sự giả tạo của lễ nghi, cung đình ("nghệ thuật" ở đây có thể hiểu là những thứ do con người tạo ra, bao gồm cả sự nịnh bợ, giả dối). Câu nói thể hiện sự chua chát khi một vị vua từng nắm giữ mọi quyền lực nay chỉ còn lại bản ngã trần trụi trước đất trời.

Câu 4:Phản ánh: Quá khứ của Lear là một vị vua luôn được bao vây bởi những lời nịnh hót, vâng lời tuyệt đối từ các con gái và bề tôi.Sự thật cay đắng: Ông nhận ra mình đã bị lừa dối bởi những lời "dạ phải, dạ không" giả tạo. Họ "nựng" ông như một con vật nuôi để chiếm đoạt quyền lực, khiến ông lầm tưởng về quyền uy và sự sáng suốt của bản thân cho đến khi mất hết tất cả.

Câu 5:Nghệ thuật xây dựng nhân vật: Sử dụng thủ pháp đối lập (giữa vị thế vua chúa và hình ảnh điên dại), khắc họa sâu sắc bi kịch nội tâm thông qua hành động và ngoại hình khác thường.Ngôn ngữ kịch: Ngôn ngữ độc thoại và đối thoại rời rạc, đa nghĩa, giàu tính biểu tượng. Những câu cảm thán và sự chuyển đổi đề tài đột ngột trong lời nói của

Cuộc sống không phải lúc nào cũng diễn ra một cách suôn sẻ như ta mong muốn. Những nghịch cảnh thường xuyên xuất hiện, thử thách con người trong hành trình trưởng thành và phát triển. Vậy nghịch cảnh có thực sự đáng sợ, hay nó chính là một phần quan trọng của cuộc sống mà chúng ta cần chấp nhận.Nghịch cảnh, theo cách hiểu đơn giản, là những tình huống khó khăn, khắc nghiệt mà chúng ta thường phải đối mặt. Đó có thể là những thất bại trong công việc, những khó khăn trong học tập, hay những cuộc chia ly, mất mát trong tình cảm. Dù ở lĩnh vực nào, nghịch cảnh cũng đều có thể khiến con người cảm thấy chán nản, tuyệt vọng. Tuy nhiên, nếu nhìn theo một khía cạnh khác, những nghịch cảnh này lại mở ra cho chúng ta những bài học quý giá về cuộc sống.Trước hết, nghịch cảnh giúp chúng ta nhận ra giá trị của bản thân. Khi đối diện với khó khăn, con người thường bắt đầu tìm kiếm những giải pháp, động lực để vượt qua. Những thất bại không chỉ là tổn thất, mà là cơ hội để chúng ta xem xét lại bản thân, xác định lại mục tiêu và tìm ra những phương thức mới để tiến về phía trước. Chẳng hạn, một sinh viên thất bại trong kỳ thi có thể thấy rõ điểm yếu của mình, từ đó quyết định thay đổi phương pháp học tập để đạt được kết quả tốt hơn trong lần sau. Chính thông qua nghịch cảnh, con người học được cách kiên nhẫn, kiên trì và không ngừng phấn đấu.Bên cạnh đó, nghịch cảnh còn gắn kết con người với nhau. Khi phải đối diện với khó khăn, con người thường tìm đến sự hỗ trợ từ những người xung quanh. Những lúc hoạn nạn thường là thời điểm mà tình bạn, tình thân được thể hiện rõ nét nhất. Sự sẻ chia, đồng cảm trong những lúc khó khăn tạo dựng nên mối quan hệ bền chặt và ý nghĩa hơn. Nó cũng giúp mỗi người nhận thức rằng mình không đơn độc, mà luôn có người bên cạnh sẵn sàng ủng hộ và đồng hành.Tuy nhiên, không thể phủ nhận rằng, không phải ai cũng có khả năng biến nghịch cảnh thành cơ hội. Một số người có thể trở nên chán nản, mất động lực và vin vào những khó khăn để bao biện cho sự thất bại của mình. Đó là lúc họ cần sự giúp đỡ, sự động viên từ những người xung quanh để có thể đứng dậy và tiếp tục bước đi. Việc tìm kiếm sự hỗ trợ từ gia đình, bạn bè hay các chuyên gia tâm lý là cách hữu hiệu để vượt qua nghịch cảnh.Chúng ta không nên xem nghịch cảnh như một điều xấu xa. Thực chất, đó chính là những bài học cuộc sống, những cơ hội để chúng ta trưởng thành hơn. Mỗi khó khăn đều đến với một lý do nhất định, và việc hiểu rõ bản chất của mỗi nghịch cảnh sẽ giúp chúng ta vững vàng hơn trong hành trình của mình.Nghịch cảnh không thể tránh khỏi, nhưng chính cách mà chúng ta đối diện và vượt qua nó mới thực sự định hình nên con người chúng ta. Hãy luôn nhớ rằng, sau cơn mưa trời lại sáng, và chính những thử thách sẽ giúp chúng ta tỏa sáng hơn trong cuộc sống.