Trần Bảo Ngọc
Giới thiệu về bản thân
câu 1
Bình Ngô đại cáo của Nguyễn Trãi là một tác phẩm văn học vĩ đại, là bài cáo được Nguyễn Trãi viết vào năm 1428 theo lện của Lê Lợi. Đây là bản tuyên ngôn độc lập, bản cáo trạng tội ác kẻ thù, là bản anh hùng ca bất hủ về cuộc khởi nghĩa Lam Sơn. Bài đại cáo mang đặc trưng cơ bản của thể cáo nói chung, và có những sáng tạo riêng của Nguyễn Trãi. Đại Cáo Bình Ngô xứng đáng là một bản tuyên ngôn độc lập, một áng "thiên cổ hùng văn" của dân tộc ta.
Trước hết là mục đích sáng tác, tác phẩm được Nguyễn Trãi thừa lệnh Lê Lợi soạn thảo sau khi cuộc khởi nghĩa Lam Sơn chống quân Minh giành thắng lợi vào mùa xuân năm 1428. Đối tượng mà bài cáo hướng tới chính là nhân dân, nhằm khẳng định độc lập chủ quyền dân tộc, tuyên bố chiến thắng vĩ đại của nghĩa quân, đồng thời chính thức lập lại nền hòa bình mới sau mấy chục năm khói lửa thương đau. Đối tượng tiếp theo cũng là đối tượng quan trọng nhất ấy là nhà Minh ở phương Bắc, chúng ta có thể nhận rõ ràng ở bài cáo ngoài việc khẳng định độc lập chủ quyền dân tộc thì nó còn có những lý luận vô cùng chặt chẽ và xác đáng khẳng định những chân lý đúng đắn về chủ quyền của nước ra, vạch rõ sai trái của giặc Minh khi sang xâm chiếm nước ta, cùng với những hành động nhân nghĩa mà chúng ta dành cho chúng khi bại trận. Qua đó, bài cáo đã trở thành một loại vũ khí chính trị chặt đứt nhuệ khí, con đường cũng như âm mưu quay trở lại xâm lược nước ta của giặc Minh.
Về nghệ thuật, tác giả đã sử dụng nhiều điển tích điển cố làm tăng tính trang trọng, uy nghiêm cho bài cáo (trúc Nam Sơn, nước Đông Hải, tấm lòng cứu nước vẫn chăm chăm muốn tiến về đông / Cỗ xe cầu hiền vẫn chăm chăm còn dành phái tả). Sử dụng ngôn ngữ giàu hình ảnh khi nói về tội ác của giặc.
Đại cáo Bình Ngô là một áng văn chính luận kiệt xuất. Nguyễn Tãi, không có ai có thể phủ nhận nhân cách, đức độ và tài năng của ông. Ở thể loại nào ông cũng thành công. Chưa kể đến những yếu tố về thời đại, về hoàn cảnh lịch sử chống quân minh, về những bức thư đầy tính luận chiến trong Quan trung từ mệnh tập và ngay cả sự bạo ngược của giặc Minh.
Như vậy, Bình ngô đại cáo là một áng văn chương mẫu mực thể loại cáo, là áng thiên cổ hùng văn, là bản tuyên ngôn độc lập thứ hai của dân tộc với phần nội dung sâu sắc, khẳng định chủ quyền tuyệt đối của dân tộc, nêu bật được tư tưởng nhân nghĩa vì nhân dân. Nghệ thuật lập luận độc đáo, chặt chẽ và linh hoạt, phối hợp nhiều phương thức biểu đạt, cách lập luận, giọng điệu, nghệ thuật sử dụng ngôn ngữ đã làm cho bài cáo trở nên vô cùng thuyết phục, sâu sắc đi vào lòng người đọc. "Đại cáo bình Ngô" đã làm đọng lại trong lòng mỗi người dân Việt sự tự hào dân tộc. Đây sẽ mãi là áng văn chính luận của nghìn đời và cảm hứng anh hùng ca sẽ không bao giờ tắt.
câu 2
“Hiền tài là nguyên khí của quốc gia”. Dù vậy nhưng trong bối cảnh xã hội hiện nay, hiện tượng chảy máu chất xám ở Việt Nam đang diễn ra vô cùng phức tạp. Hiện tượng chảy máu chất xám là cách gọi ẩn dụ để chỉ tình trạng nhân tài, trí thức – “chất xám” Việt Nam đang có xu hướng định cư và làm việc, phục vụ hoàn toàn cho lợi ích của nước ngoài thay vì cống hiến cho dân tộc. Thời gian qua, thông tin về những quán quân của chương trình Đường lên đỉnh Olympia đa số sau khi qua nước ngoài du học đều chọn ở lại nước ngoài định cư và làm việc, đã khiến chúng ta phải suy nghĩ nghiêm túc về thực trạng của hiện tượng chảy máu chất xám ở Việt Nam. Nguyên nhân của hiện tượng này được đánh giá ở cả hai phía chủ quan lẫn khách quan. Chủ quan là đến từ phía chính bản thân trí thức có những nhận thức sai lệch và ích kỉ, chỉ chú trọng đến sự phát triển của bản thân mà quên đi nhiệm vụ cống hiến cho dân tộc, cho Tổ quốc.Chảy máu chất xám là một hiện tượng mang tính toàn cầu, tuy xảy ra số lượng lớn ở những nước đang phát triển nhưng tại những nước phát triển cũng diễn ra hiện tượng này, gây thiệt hại đến quá trình phát triển kinh tế. Chính quyền các nước đã đề ra những chính sách nhằm kìm hãm hiện tượng này và thu hút chất xám quay về bằng nhiều biện pháp
Một số nguyên nhân tạo lực đẩy chất xám là tình trạng lương thấp, thiết bị lỗi thời, tương lai không sáng sủa, ít lựa chọn cho các nhà khoa học nếu làm việc ở các nước sở tại, chế độ đãi ngộ kém, môi trường nghiên cứu khoa học không phù hợp, giá trị lao động thực sự chưa được đề cao. Riêng tại châu Phi còn do các yếu tố nghèo đói, chính trị bất ổn định (chiến tranh, đại loạn) và nguồn ngân sách đầu tư cho lĩnh vực khoa học kỹ thuật quá thấp (0,3 % GDP).Tình trạng chảy máu chất xám tại các quốc gia nghèo là một nguyên nhân quan trọng khiến khoảng cách giàu nghèo giữa các quốc gia ngày càng rõ rệt và gây ra những hậu quả khó lường cho các nước đang phát triển. Nguồn chất xám bị chảy máu khiến kinh phí đào tạo của quốc gia không ngừng thất thoát, đồng thời phải bỏ ra một nguồn kinh phí lớn để trả lương cho các chuyên gia nước ngoài mời về. Tại châu Phi khoản phí này chiếm 1/3 nguồn viện trợ huy động được từ nước ngoài. Bên cạnh đó, nhiều công trình nghiên cứu khoa học không có nhân lực thực hiện, thành tựu khoa học kĩ thuật không được phổ biến và ứng dụng. Việc các nhà khoa học sang làm việc cho nước ngoài cũng tác động xấu đến người dân và các giới tri thức khác trong nước. Đây là một sự lãng phí lớn về tài sản quốc gia, làm chậm tốc độ phát triển nền kinh tế.
Để phát triển và đưa Việt Nam đến đài vinh quang để sánh vai với các cường quốc năm châu mỗi người chúng ta cần phát huy được tinh thần và ý thức trách nhiệm với đất nước, mặt khác nhà nước cũng cần có những chính sách thu hút hiền tài.
câu 1
Phương thức biểu đạt chính được sử dụng trong bài là nghị luận
câu 2
Chủ thể bài viết là vua Lê Lợi
câu 3
Mục đích chính của văn bản :Kêu gọi việc tiến cử và tự tiến cử người hiền tài để giúp vua Lê Lợi xây dựng đất nước.
Những đường lối tiến cử người hiền tài được đề cập trong văn bản
- Các văn võ đại thần, công hầu, đại phu từ tam phẩm trở lên đều phải cử người có tài, bất kể là ở triều đình hay thôn dã, đã xuất sĩ hay chưa.
- Người có tài kinh luân mà bị khuất hoặc hào kiệt náu mình nơi làng quê, binh lính cũng có thể tự tiến cử.
- Những người tiến cử được hiền tài sẽ được thưởng, tùy theo tài năng của người được tiến cử
câu 4
Dẫn chứng minh chứng cho luận điểm: Người viết nêu ra những tấm gương điển hình từ thời Hán và Đường: - Tiêu Hà tiến cử Tào Tham, Nguy Vô Tri tiến cử Trần Bình. - Địch Nhân Kiệt tiến cử Trương Cửu Linh, Tiêu Tung tiến cử Hàn Hưu.
Nhận xét về cách nêu dẫn chứng
- Các dẫn chứng được chọn lọc kỹ lưỡng, có tính điển hình cao và phù hợp với bối cảnh nghị luận. - Tác giả không chỉ kể tên mà còn nhấn mạnh vai trò của việc tiến cử trong sự thành công của các triều đại, từ đó tăng tính thuyết phục.
câu 5
Nhận xét về phẩm chất của chủ thể bài viết:
- Có trách nhiệm: Vua Lê Lợi tự nhận trách nhiệm nặng nề trong việc trị quốc và luôn mong muốn tìm người tài giúp sức.
- Khiêm tốn và cầu thị
: Ông không câu nệ tiểu tiết, sẵn sàng chấp nhận cả những người tự tiến cử.
- Sáng suốt và công bằng: Đưa ra chính sách thưởng phạt rõ ràng trong việc tiến cử hiền tài, dựa trên tài năng và đức độ.
- Quan tâm đến hiền tài: Hiểu rõ vai trò quan trọng của nhân tài trong việc xây dựng đất nước và sẵn lòng trọng dụng người tài từ mọi tầng lớp.
câu 1
Thành công đến từ việc bạn biết chủ động trong mọi tình huống, mọi hoàn cảnh. Chính vì thế, chúng ta có thể khẳng định: chủ động có vai trò mấu chốt trong việc đưa con người đến thành công. Những người có tính chủ động là những người tự tin và biết mình cần làm gì trong cuộc sống. Họ theo đuổi đam mê bằng tất cả lòng nhiệt huyết và quyết tâm, không những thế họ còn thành công trên hầu hết mọi phương diện của cuộc sống, đặc biệt khi có cạnh tranh. Người có tính chủ động sẽ suy nghĩ, hành động độc lập, làm chủ được tình thế. Khi có vấn đề xảy ra trước hết họ nhìn nhận chính bản thân mình, tìm ra khó khăn để vượt qua. Tính chủ động không phải là làm bừa mà là dám nghĩ, dám nói và dám làm. Nếu bạn dám hành động, hành động có suy nghĩ, chủ động và kiên quyết thì mọi việc đều dẫn đến thành công. Trong một xã hội đang ngày càng phát triển, bạn cần phải chủ động để không bị tụt lùi. Ngay từ hôm nay bạn nên luyện tập cách sống chủ động cho mình bằng cách phát huy tính linh hoạt, thái độ tiếp nhận và cách ứng xử của bạn đối với các sự việc cũng như đối với người khác trong giao tiếp. Bạn đang sống và làm việc ở một môi trường phát triển, bạn không thể để người khác kiểm soát hay điều khiển mơ ước của bạn. Chủ động theo đuổi và lên kế hoạch cho mơ ước của chính bản thân là con đường duy nhất để bạn sống với chính mình. Khi bạn hăm hở bắt tay thực hiện nó, bạn sẽ tạo ra được một cuộc sống thú vị và có giá trị. Hành trình cuộc đời của con người, chính là khám phá ra những năng lực và khả năng của bản thân. Chỉ cần bạn luôn sống ở thể chủ động, thành công sẽ luôn đến với bạn. Hãy bình tĩnh, tự tin và quyết đoán để luôn là người chủ động trong mọi hoàn cảnh của cuộc sống.
câu 2
Nguyễn Trãi là nhà thơ lớn, nhà văn hoá lớn của dân tộc Việt Nam. Ông đã để lại sự nghiệp văn học đồ sộ, qua các tác phẩm đó, chúng ta phần nào cảm nhận được vẻ đẹp trong tâm hồn nhân cách của Nguyễn Trãi. Vẻ đẹp tâm hồn đó được thể hiện qua hầu hết các tác phẩm của ông, đặc biệt là trong tác phẩm "cảnh ngày hè". Tác phẩm cho thấy tình yêu thiên nhiên ẩn chứa tấm lòng vì dân vì nước.
Nguyễn Trãi hiệu là ức Trai, ông là một nhà chính trị, là danh nhân văn hoá thế giới. Sau khi từ bỏ chốn quan trường, ông lui về ở ẩn, trong thời gian đó ông đã sáng tác rất nhiều bài thơ nhưng phần lớn đã bị thất lạc. Tác phẩm "Cảnh ngày hè" là bài thơ số 43 thuộc chùm thơ "Bảo kính cảnh giới"
"Rồi hóng mát thuở ngày thường
Hoè lục đùn đùn tán rợp giương
Thạch lựu hiên còn phun thức đỏ
Hồng liên trì đã tiễn mùi hương
Lao xao chợ cá làng ngư phủ
Dắng dỏi cầm ve lầu tịch dương
Dẽ có ngu cầm đàn một tiếng
Dân giàu đủ khắp đòi phương".
Bài thơ được viết theo thể thơ Thất ngôn tứ tuyệt Đường luật với bốn phần đề- thực-luận-kết. Câu thơ đầu với những nét vẽ đã đưa ngay không khí mùa hè đến với người đọc:
"Rồi, hóng mát thuở ngày thường"
"Rồi hóng mát" gợi ra hình ảnh thi nhân nhân dịp nhàn rỗi đang hóng mát ngày hè. Nhà thơ đã phát hiện ra sự chênh lệch đặc trưng của mùa hè ngày dài đêm ngắn "thuở ngày trường". Câu thơ giới thiệu hoàn cảnh thưởng an nhàn bất đắc dĩ. Lời thơ biểu đạt sự nhàn rỗi của nhà thơ trong một ngày hè không vướng bận điều gì, chữ "rồi" được tách riêng với câu thơ như nhấn mạnh sự nhàn rỗi của nhà thơ, tuy nhiên khi đọc sâu, hiểu khĩ, ta lại thấy như đó là tiếng thở dài của nhà thơ. Phải chăng những tâm tư nỗi niềm của nhà thơ được dồn nén qua những câu thơ tiếp theo:
"Hoè lục đùn đùn tán rợp giương
Thạch lựu hiên còn phun thức đỏ
Hồng liên trì đã tiễn mùi hương".
Chỉ với ba câu thơ ngắn, Ức Trai đã vẽ ra trước mắt chúng ta một khung cảnh mùa hè rực rỡ với những sắc màu nổi bật. Những sự vật xung quanh đều ở trạng thái tràn đầy sức sống, đua nhau khoe sắc, toả hương. Cây hoè với tán lá xanh mát, cây lựu với những bông hoa đỏ rực, và những bông sen hồng với mùi hương thơm ngát, dễ chịu lan toả trong không gian. Hình ảnh những sự vật được nhà thơ khéo léo sắp xếp từ cao xuống thấp.Ở tầm nhìn nào thi sĩ cũng cảm thấy thiên nhiên cũng căng tràn sức sống. Một loạt những động từ mạnh "đùn đùn", "phun", "giương" càng thể hiện sức sống mãnh liệt bên trong mỗi sự vật.
Nếu như trong thơ của các nhà thơ thế hệ trước, những màu sắc trong đó thường là những màu ảm đạm, u buồn, cảnh vật không có sức sống, nhưng Nguyễn Trãi đã thoát khỏi "con đường mòn" đó, bức tranh trong thơ của Nguyễn Trãi đầy màu sắc và sức sống. Cái độc đáo mới lạ của nhà thơ đó là đã khéo léo thổi hồn vào những sự vật vô tri vô giác.
"Lao xao chợ cá làng ngư phủ
Dắng dỏi cầm ve lầu tịch dương"
Nếu như bên trên là sự miêu tả cảnh sắc thiên nhiên độc đáo thì hai câu thơ tiếp theo lại diễn tả cuộc sống náo nhiệt. Hình ảnh chợ là một hình ảnh vô cùng quen thuộc ở làng quê Việt Nam, chợ trong thơ của Nguyễn Trãi đã là lúc về chiều tà "tịch dương", nhưng trái với vẻ ảm đạm của cảnh vật, những âm thanh từ chợ cá "lao xao" và tiếng ve đã xua tan đi cái u ám ấy. Hai từ láy "lao xao", "dắng dỏi" được đảo lên đầu câu làm nổi bật lên âm thanh sôi động, náo nhiệt, xoá tan không khí quạnh hiu. Đặc biệt là cảnh chợ cá là sự xuất hiện của sự sống với những âm thanh của người bán kẻ mua, tiếng nó cười...đó là những âm thanh bình dị quen thuộc . Nhà thơ hướng về cuộc sống, cảm nhận bằng tất cả các giác quan của mình. Tiếng ve là đặc trưg của mùa hè, nó như là một bản nhạc du dương trầm bổng rộn ràng. Ý thơ như diễn tả một cuộc sống đang sinh sôi, tiếp diễn ngay cả khi sắp tàn. Nếu như ta cảm nhận được cuộc sống đang trào dâng trong bức tranh mùa hè của Nguyễn Trãi, thì đối với mùa hè của Nguyễn Khuyến oi nồng, u uất:
"Tháng tư đầu mùa hạ
Tiết trời thực oi ả
Tiếng dế kêu thiết tha
Đàn muỗi bay tơi tả"
Những câu thơ diễn tả sự nhộn nhịp của cuộc sống con người là sự gợi ý mong ước của Nguyễn Trãi
"Dẽ có Ngu cầm đàn một tiếng
Dân giàu đủ khắp đòi phương"
Bài thơ được ra đời trong hoàn cảnh một xã hội đã bị suy yếu, nguyện vọng của Nguyễn Trãi không còn ý nghĩa gì nữa, hai câu thơ kết bài chính là tiếng lòng của nhà thơ. Thi nhân mượn điển tích đàn Ngu cầm của vua Nghiêu Thuấn với hình ảnh về đời sống nhân dân an cư lạc nghiệp, thái bình thịnh trị. Mặc dù sống giữa thiên nhiên an nhàn, nhưng trong thâm tâm mình tác giả không nhàn, lúc nào cũng đau đáu một nỗi niềm với đất nước, với dân tộc, ông khao khát một cuộc sống nhân dân bình yên, dất nước thịnh trị, không có đao binh.
Những lời thơ rất đỗi giản dị và mộc mạc được cất lên từ mộ tấm lòng rất đỗi chân thành, một con tim luôn cháy bỏng với tình yêu nước. Ức Trai luôn đặt lợi ích quốc gia, dân tộc lên hàng đầu với một niềm mong mỏi cao cả, sự nhàn rỗi thảnh thơi luôn phải song hành với cuộc sống no đủ, bình yên. Với kết cấu đầu cuối tương ứng đã tạo nên mạch đầy ẩn ý trong toàn bài thơ.
Bằng việc sử dụng ngôn ngữ sinh động, hình ảnh tiêu biểu, các động từ mạnh diễn tả nội lực từ bên trong sự vật. Nguyễn Trãi không chỉ khắc hoạ bức tranh mùa hè sống động mà còn đặt trong đó những cảm xúc từ đáy lòng mình. Cảnh ngày hè là một sáng tạo độc đáo của Nguyễn Trãi về hình thức thơ, cũng như cách sử dụng ngôn ngữ. Tấm lòng nhà thơ đầy tình nghĩa và cao cả khiến người đọc kính trọng biết ơn những đóng góp của nhà thơ dành cho đất nước.
"Cảnh ngày hè" không đơn thuần là bức tranh thiên nhiên sinh động mà hàm chứa một tâm tình của nhà thơ. Bản thân Nguyễn Trãi muốn thoát tục, ngắm ánh hoàng hôn nhưng chính thiên nhiên xung quanh đã làm lay động tấm lòng nhà thơ muốn hoà cùng niềm vui cuộc sống, đó không phải cuộc sống lẩn tránh thực tại mà là phản chiếu tâm hồn yêu dới thiết tha, đón nhận cuộc sống để quên đi muộn phiền.
Câu 1
Văn bản trên được viết theo thể thơ thất ngôn bát cú Đường luật.
Câu 2
Những hình ảnh nói về nét sinh hoạt hàng ngày đạm bạc, thanh cao của tác giả:
"Một mai, một cuốc, một cần câu": Gợi lên cuộc sống lao động giản dị, gần gũi với thiên nhiên.
"Thu ăn măng trúc, đông ăn giá / Xuân tắm hồ sen, hạ tắm ao": Chỉ những bữa ăn đạm bạc với sản vật tự nhiên và nếp sống hài hòa với thiên nhiên, không cầu kỳ, xa hoa.
Câu 3
Biện pháp tu từ liệt kê: "Một mai, một cuốc, một cần câu"
Việc liệt kê ba vật dụng gắn với lao động (mai, cuốc, cần câu) nhấn mạnh lối sống giản dị, tự cung tự cấp của tác giả.
Thể hiện tâm thế ung dung, an nhiên, không màng đến danh lợi.
Câu 4
Quan niệm “dại – khôn” của tác giả có sự đối lập đặc biệt:
“Ta dại” nhưng lại tìm nơi vắng vẻ → cho thấy “dại” ở đây là tự nguyện rời xa chốn quan trường, danh lợi.
“Người khôn” nhưng lại đến chốn lao xao → “khôn” nhưng thực chất là bị cuốn vào vòng danh lợi, tranh đua nơi quan trường.
Nguyễn Bỉnh Khiêm dùng cách nói ngược để thể hiện quan điểm sống: từ bỏ danh lợi không phải là dại, mà chính là sự sáng suốt, minh triết.
Câu 5
Bài thơ thể hiện vẻ đẹp nhân cách của Nguyễn Bỉnh Khiêm – một con người thoát tục, thanh cao, sống hòa hợp với thiên nhiên. Ông coi phú quý như một giấc chiêm bao, chọn cuộc sống bình dị thay vì lao vào chốn quan trường đầy thị phi. Quan niệm “dại – khôn” trong bài thơ cho thấy trí tuệ uyên thâm và thái độ ung dung, tự tại của một bậc hiền triết. Nhân cách ấy không chỉ thể hiện sự thanh cao mà còn mang tính triết lý sâu sắc về cuộc đời