Nguyễn Trúc Diễm
Giới thiệu về bản thân
Câu 1
Em đồng ý vì đây là cuộc khởi nghĩa vũ trang quy mô lớn đầu tiên của người Việt chống lại ách đô hộ phương bắc mở đầu cho truyền thống đấu tranh gianh độc lập dân tộc
Câu 2
Là một học sinh em cần :
+ Học tập tốt, nắm vững kiến thức về lich sử và chủ quyền
+ Tuyên truyền lan toả yêu thương tình yêu quê hương và ý thức bảo vệ chủ quyền quốc gia
Câu 1
Trong truyện ngắn Áo Tết của Nguyễn Ngọc Tư, nhân vật bé Em hiện lên với những nét tính cách vừa đáng yêu, hồn nhiên, vừa giàu lòng nhân hậu. Niềm vui của bé Em khi sắp được mặc chiếc đầm hồng mới trong ngày Tết thể hiện sự ngây thơ của một đứa trẻ. Cô bé cười tủm tỉm, thích thú nghĩ đến viễn cảnh mình "đẹp như tiên" khi khoác lên bộ đầm thắt nơ viền kim tuyến.
Tuy nhiên, niềm vui ấy nhanh chóng bị xáo trộn khi bé Em trò chuyện với Bích, người bạn thân từ nhỏ. Khi biết Bích chỉ có một bộ đồ mới vì nhà nghèo, bé Em chợt ngỡ ngàng, hụt hẫng. Sự ngập ngừng của bé Em khi muốn khoe đồ mới, nhưng lại sợ làm bạn buồn, cho thấy cô bé bắt đầu ý thức được sự khác biệt giữa mình và bạn. Sự hồn nhiên xen lẫn chút bối rối này chính là một nét đẹp của tâm hồn trẻ thơ.
Đặc biệt, sự lựa chọn trang phục của bé Em vào ngày mùng hai đã thể hiện rõ tình bạn chân thành của cô bé. Thay vì mặc chiếc đầm hồng nổi bật, bé Em chọn chiếc áo thun giản dị để không làm Bích thấy tủi thân. Cô bé suy nghĩ rất đơn giản mà sâu sắc: "Bạn bè phải vậy chớ. Đứa mặc áo đẹp, đứa mặc áo xấu coi gì được". Bé Em không muốn niềm vui của mình trở thành nỗi buồn cho bạn. Cô bé hiểu rằng tình bạn là sự đồng cảm và sẻ chia, không bị ngăn cách bởi những thứ hào nhoáng bên ngoài.Tình bạn của bé Em và Bích được xây dựng trên sự chân thành, đồng điệu, và lòng vị tha. Qua bé Em, tác giả Nguyễn Ngọc Tư đã truyền tải một thông điệp ý nghĩa: sự quan tâm, thấu hiểu và chia sẻ mới là điều quan trọng nhất trong tình bạn. Bé Em tuy nhỏ tuổi nhưng đã dạy chúng ta một bài học giản dị mà sâu sắc về lòng nhân ái và tình bạn chân thành.
câu 1
Trong bài thơ Chân quê của Nguyễn Bính, hình ảnh “Hoa chanh nở giữa vườn chanh” là một điểm nhấn nghệ thuật đặc sắc, giàu ý nghĩa. Hoa chanh vốn nhỏ bé, giản dị, không rực rỡ như hoa hồng, hoa cúc nhưng lại tinh khiết, trong sáng và tỏa hương thầm. Đặt trong “vườn chanh”, hoa chanh càng trở nên đồng điệu với không gian quê mùa, dân dã. Hình ảnh ấy chính là biểu tượng cho vẻ đẹp mộc mạc, thuần khiết, gần gũi của người con gái thôn quê. Qua đó, nhà thơ bày tỏ niềm trân trọng đối với những nét đẹp giản dị, đồng thời gửi gắm lời nhắn nhủ tha thiết: đừng để lớp son phấn thị thành làm phai nhòa vẻ đẹp tự nhiên vốn có. Hình ảnh “hoa chanh nở giữa vườn chanh” còn khẳng định quan niệm thẩm mỹ của Nguyễn Bính – đề cao sự chân chất, quê mùa, coi đó là vẻ đẹp bền vững và đáng quý hơn cả. Từ hình ảnh thơ này, ta cảm nhận được nỗi lo lắng của nhà thơ trước nguy cơ mai một bản sắc quê hương khi con người chạy theo lối sống thị thành. Như vậy, chỉ bằng một câu thơ giản dị, Nguyễn Bính đã khắc họa thành công vẻ đẹp chân quê – vừa mộc mạc, vừa tinh khiết, vừa bền chặt trong lòng người đọc.
câu 2
Trong một bài phát biểu, cựu Tổng thống Mỹ Barack Obama từng nhấn mạnh: “Biến đổi khí hậu là thách thức lớn nhất đối với tương lai của nhân loại.” Quả thực, giữa thời đại toàn cầu hóa hôm nay, biến đổi khí hậu không còn là vấn đề xa vời, mà đã trở thành mối đe dọa trực tiếp, ảnh hưởng sâu rộng đến đời sống con người trên khắp hành tinh.
Trước hết, biến đổi khí hậu là hệ quả tất yếu của hoạt động sản xuất và sinh hoạt thiếu ý thức của con người. Sự gia tăng khí thải nhà kính, nạn chặt phá rừng, ô nhiễm môi trường,… đã làm Trái Đất nóng lên, thời tiết thất thường, thiên tai dồn dập. Hậu quả là băng tan, mực nước biển dâng, nhiều vùng đất ven biển đứng trước nguy cơ biến mất. Bên cạnh đó, thiên tai, hạn hán, lũ lụt, bão tố diễn ra khốc liệt hơn, gây thiệt hại lớn về người và của, đặc biệt đối với các quốc gia nghèo, dễ bị tổn thương. Biến đổi khí hậu còn làm suy giảm đa dạng sinh học, ảnh hưởng đến nguồn nước, lương thực, từ đó đe dọa trực tiếp đến sự sống còn của loài người.
Từ thực trạng ấy, ta càng thấm thía tính đúng đắn trong lời cảnh báo của Obama. Quả thật, trong các thách thức toàn cầu như chiến tranh, dịch bệnh, khủng bố,… biến đổi khí hậu nguy hiểm hơn vì nó diễn ra âm thầm nhưng lâu dài, tác động đến mọi mặt đời sống và không chừa một ai. Đặc biệt, nó đe dọa đến tương lai của thế hệ mai sau, làm lung lay nền tảng phát triển bền vững của nhân loại.
Để đối mặt với thách thức này, cần có sự chung tay của toàn thế giới. Các quốc gia phải tăng cường hợp tác, thực hiện cam kết giảm phát thải, phát triển năng lượng sạch, trồng và bảo vệ rừng. Bên cạnh đó, mỗi cá nhân cũng cần nâng cao ý thức bảo vệ môi trường: hạn chế sử dụng nhựa, tiết kiệm điện nước, trồng cây xanh, sống thân thiện với thiên nhiên. Chỉ khi cả cộng đồng cùng hành động, nhân loại mới có thể vượt qua thách thức khổng lồ này.
Tóm lại, biến đổi khí hậu thực sự là thách thức lớn nhất đối với tương lai của nhân loại, đúng như lời Obama từng khẳng định. Ý kiến ấy không chỉ là lời cảnh báo mà còn là lời nhắc nhở mỗi chúng ta phải hành động ngay hôm nay, để bảo vệ Trái Đất – ngôi nhà chung duy nhất của loài người.
Câu 1.
Phương thức biểu đạt chính của văn bản: Nghị luận (kết hợp với phân tích, bình giảng).
Câu 2.
Trong phần (3), người viết thể hiện cảm xúc bâng khuâng, cô đơn, nhỏ bé, lạc lõng giữa không gian rộng lớn và dòng chảy của thời gian. Thái độ là sự đồng cảm sâu sắc với tâm trạng cô đơn của nhân vật trữ tình trong Tràng giang, đồng thời tự soi chiếu, liên tưởng bản thân như một cành củi khô hay cánh chim nhỏ bé trên dòng đời mênh mông.
Câu 3.
Trong phần (1), tác giả chỉ ra sự khác biệt:
- Thơ xưa: cái “tĩnh vắng mênh mông” thường gắn với sự thanh thản, an nhiên, tự tại.
- Tràng giang (Huy Cận): cái “tĩnh vắng” ấy lại gợi lên sự cô đơn, quạnh hiu, trống trải đến tuyệt đối, làm dấy lên nỗi nhớ nhà thường trực trong lòng người.
Câu 4.
Trong phần (2), tác giả đã phân tích nhiều yếu tố ngôn ngữ của bài thơ để làm rõ “nhịp chảy trôi miên viễn” của tràng giang:
- Các từ láy: điệp điệp, song song, lớp lớp, dợn dợn… gợi sự triền miên, nối tiếp.
- Các cặp câu tương xứng, đuổi nhau: “Sóng gợn tràng giang buồn điệp điệp/ Con thuyền xuôi mái nước song song”.
- Cấu trúc trùng điệp, nối tiếp: “Nắng xuống/ trời lên/ sâu chót vót. Sông dài/ trời rộng/ bến cô liêu”.
- Cụm từ chỉ sự nối dài, liên tục: “hàng nối hàng”, “Lặng lẽ bờ xanh tiếp bãi vàng”…
→ Tất cả tạo nên một nhịp điệu chảy xuôi vô tận, miên viễn của Tràng giang.
Câu 5.
(Trả lời mở, gợi ý như sau)
Em ấn tượng nhất với cảm giác cô đơn, lạc lõng của con người trước không gian và thời gian vô tận trong Tràng giang. Bởi vì qua đó, em nhận ra tấm lòng tha thiết của Huy Cận đối với quê hương, đồng thời cảm nhận được nỗi niềm nhân thế sâu xa: con người dù nhỏ bé, cô đơn vẫn luôn hướng về cội nguồn để tìm điểm tựa tinh thần.
Câu 1.
Phương thức biểu đạt chính của văn bản: Nghị luận (kết hợp với phân tích, bình giảng).
Câu 2.
Trong phần (3), người viết thể hiện cảm xúc bâng khuâng, cô đơn, nhỏ bé, lạc lõng giữa không gian rộng lớn và dòng chảy của thời gian. Thái độ là sự đồng cảm sâu sắc với tâm trạng cô đơn của nhân vật trữ tình trong Tràng giang, đồng thời tự soi chiếu, liên tưởng bản thân như một cành củi khô hay cánh chim nhỏ bé trên dòng đời mênh mông.
Câu 3.
Trong phần (1), tác giả chỉ ra sự khác biệt:
- Thơ xưa: cái “tĩnh vắng mênh mông” thường gắn với sự thanh thản, an nhiên, tự tại.
- Tràng giang (Huy Cận): cái “tĩnh vắng” ấy lại gợi lên sự cô đơn, quạnh hiu, trống trải đến tuyệt đối, làm dấy lên nỗi nhớ nhà thường trực trong lòng người.
Câu 4.
Trong phần (2), tác giả đã phân tích nhiều yếu tố ngôn ngữ của bài thơ để làm rõ “nhịp chảy trôi miên viễn” của tràng giang:
- Các từ láy: điệp điệp, song song, lớp lớp, dợn dợn… gợi sự triền miên, nối tiếp.
- Các cặp câu tương xứng, đuổi nhau: “Sóng gợn tràng giang buồn điệp điệp/ Con thuyền xuôi mái nước song song”.
- Cấu trúc trùng điệp, nối tiếp: “Nắng xuống/ trời lên/ sâu chót vót. Sông dài/ trời rộng/ bến cô liêu”.
- Cụm từ chỉ sự nối dài, liên tục: “hàng nối hàng”, “Lặng lẽ bờ xanh tiếp bãi vàng”…
→ Tất cả tạo nên một nhịp điệu chảy xuôi vô tận, miên viễn của Tràng giang.
Câu 5.
(Trả lời mở, gợi ý như sau)
Em ấn tượng nhất với cảm giác cô đơn, lạc lõng của con người trước không gian và thời gian vô tận trong Tràng giang. Bởi vì qua đó, em nhận ra tấm lòng tha thiết của Huy Cận đối với quê hương, đồng thời cảm nhận được nỗi niềm nhân thế sâu xa: con người dù nhỏ bé, cô đơn vẫn luôn hướng về cội nguồn để tìm điểm tựa tinh thần.
Trong rễ cây đậu nành có sự cộng sinh giữa rễ cây và vi khuẩn Rhizobium. Quá trình này dựa trên nguyên tắc vi khuẩn chuyển hoá N2 phân tử sang dạng NH3 vừa cung cấp cho đất, vừa cung cấp cho cây. Vì thế chuyển sang trồng đậu nành trên mảnh đất đã trồng khoai trước đó (đất thiếu Nito dạng dễ hấp thụ) thì sẽ bổ sung và duy trì lượng nitrogen trong đất.
a, Môi trường nuôi cấy không liên tục là môi trường nuôi cấy không được bổ sung chất dinh dưỡng mới và không được lấy đi các sản phẩm trao đổi chất.
b, Các pha sinh trưởng của vi khuẩn trong môi trường nuôi cấy không liên tục: 4 pha.
* Pha tiềm phát (pha Lag)
- Vi khuẩn thích nghi với môi trường.
- Số lượng tế bào trong quần thể không tăng.
- Enzim cảm ứng được hình thành.
* Pha lũy thừa (pha Log)
- Vi khuẩn bắt đầu phân chia, số lượng tế bào tăng theo lũy thừa.
- Hằng số M không đủ theo thời gian và là cực đại đối với một số chủng và điều kiện nuôi cấy.
* Pha cân bằng
- Số lượng vi sinh vật đạt mức cực đại, không đổi theo thời gian là do:
+ Một số tế bào bị phân hủy.
+ Một số khác có chất dinh dưỡng lại phân chia.
* Pha suy vong
- Số tế bào trong quần thể giảm dần do:
+ Số tế bào bị phân hủy nhiều.
+ Chất dinh dưỡng bị cạn kiệt.
+ Chất độc hại tích lũy nhiều.
Câu 1: Phương thức biểu đạt chính là nghị luận
Câu 2: Chủ thể bài viết là vua Lê Lợi
Câu 3: Mục đích chính của văn bản là kêu gọi việc tiến cử người hiền tài để giúp vua Lê Lợi xây dựng đất nước
Những đường lối tiến cử người hiền tài : - Các văn võ đại thần, công hầu, đại phu từ tam phần trở lên đều phải cử người có tài , bất kể là triều đình hay thôn dã, đã xuất sĩ hay chưa
- Người có tài kinh luân và đã bị khuất phục hoặc hào kiệt náu mình nơi làng quê, binh lính cũng có thể tự tiến cử
Câu 4:
Dẫn chứng chứng minh cho luận điểm - Những tấm gương điển hình từ thời nhà Hán và Đường :- Tiêu Hà tiến cử Tào Tham, Nguy Vô Tri tiến cử Trần Bình
Nhận xét : các dẫn chứng được trọn lọc kĩ lưỡng, có tính điển hình cao và phù hợp với bối cảnh nghị luận, làm tăng thêm tính thuyết phục
Câu 1:
Nghệ thuật lập luận trong Chiếu cầu hiền tài của Nguyễn Trái vô cùng sắc bén và thuyết phục. Bài luận sử dụng lối lập luận vô cùng chặt chẽ, kết hợp hài hoà giữa lí lẽ và tình cảm. Tác giả bắt đầu bằng việc nêu lên thực trạng đất nước đang gặp khó khăn, cần đến nhân tài để phục vụ đất nước, từ đó dẫn dắt đến việc kêu gọi hiền tài. Lập luận được triển khai theo trình tự rõ ràng, từ khái quát đến cụ thể, từ chung đến riêng. Ông sử dụng nhiểu dẫn chứng lịch sử , điển tích, câu chuyển để chứng minh cho luận điểm của mình làm tăng tính thuyết phục. Bên cạnh đó bài chiếu còn sử dụng nghệ thuật đối lập để làm nổi bật vấn đề . Sự đối lập giữa cảnh nước nhà đang gặp khó khăn với khát vọng xây dựng đất nước giàu mạnh, giữa việc thiếu nhân tài, đã tạo nên sức thuyết phục vô cùng mãnh liệt. Sự kết hợp sắc bén dẫn chứng thuyết phục và ngôn ngữ giàu cảm xúc đã tạo nên sức mạnh tổng hợp khiến bài chiếu trở nên hấp dẫn và có xức lay động lòng người .
Câu 2 :
Để xây dựng một xã hội như hiện tại, con người đã dành rất nhiều công sức và tri thức của mình để làm phong phú và phát triển nó. Tuy nhiên, một hiện tượng đáng tiếc hiện nay chính là tình trạng mất mát tri thức, hay còn gọi là "chảy máu chất xám." Khái niệm này ẩn dụ tình hình người tài và trí thức Việt Nam đang có xu hướng di cư và làm việc cho lợi ích của các quốc gia nước ngoài thay vì đóng góp cho đất nước của họ. Ngoài ra, chảy máu chất xám còn ám chỉ việc ý tưởng và sáng kiến của con người bị sao chép và lan truyền một cách rộng rãi trên thị trường mà không có sự kiểm soát về chất lượng.
Một hiện thực buồn nữa là nhiều người tài năng sau khi du học ở nước ngoài quyết định định cư tại đó và đóng góp cho đất nước của họ, trong khi đất nước Việt Nam đang cần "hít thở" những tài năng đó. Một ví dụ điển hình là chương trình Đường lên đỉnh Olympia, trong đó đa số các quán quân sau khi du học ở nước ngoài đều chọn ở lại đó và làm việc.
Nguyên nhân chính dẫn đến tình trạng này là do ý thức cá nhân, mong muốn sống trong môi trường tốt hơn, tiện nghi hơn, và đôi khi quên đi nguồn gốc của họ. Nguyên nhân khách quan bao gồm cơ sở vật chất nước nhà chưa đủ để đáp ứng nhu cầu làm việc và nghiên cứu của con người, cũng như chế độ đãi ngộ chưa tương xứng với công sức của họ.
Để khắc phục tình trạng này, mọi người cần nhận thức đúng đắn, sẵn sàng đóng góp cho đất nước, và hãy bỏ qua lợi ích cá nhân. Nhà nước cũng cần áp dụng các biện pháp đặc biệt để thu hút nhân tài về nước, đầu tư vào cơ sở hạ tầng và trả công xứng đáng cho họ. Mỗi người có thể đóng góp bằng những hành động nhỏ, nhưng chúng ta cần thấu hiểu giá trị to lớn của việc sống và đóng góp cho một đất nước giàu đẹp và văn minh hơn.
Câu 2 :
Trong những ngày từ quan về ở ẩn tại Côn Sơn, Nguyễn Trãi đã viết nhiều bài thơ đặc sắc, trong số đó có bài số 43 trong chùm thơ Bảo kính cảnh giới. Bài thơ là bức tranh phong cảnh mùa hè độc đáo nhưng thấp thoáng là niềm tâm sự của tác giả.
Câu thơ đầu tiên, ta đọc lên thoáng qua sao có vẻ an nhàn, êm đềm, thanh thoát đến thế.
"Rồi hóng mát thuở ngày trường"
Câu thơ hiện lên hình ảnh của nhà thơ Nguyễn Trãi, ông đang ngồi dưới bóng cây nhàn nhã như hóng mát thật sự. Việc quân, việc nước chắc đã xong xuôi ông mới trở về với cuộc sống đơn sơ, giản dị, mộc mạc mà chan hòa, gần gũi với thiên nhiên. Một số sách dịch là "Rỗi hóng mát thuở ngày trường". Nhưng "rỗi" hay "rồi" cũng đều gây sự chú ý cho người đọc. Rảnh rỗi, sự việc còn đều xong xuôi, đã qua rồi "Ngày trường" lại làm tăng sự chú ý. Cả câu thơ không còn đơn giản là hình ảnh của Nguyễn Trãi ngồi hóng mát mà nó lại toát lên nỗi niềm, tâm sự của tác giả: "Nhàn rỗi ta hóng mát cả một ngày dài". Một xã hội đã bị suy yếu, nguyện vọng, ý chí của tác giả đã bị vùi lấp, không còn gì nữa, ông đành phải rời bỏ, từ quan để về ở ẩn, phải dành "hóng mát" cả ngày trường để vơi đi một tâm sự, một gánh nặng đang đè lên vai mình. Cả câu thơ thấp thoáng một tâm sự thầm kín, không còn là sự nhẹ nhàng thanh thản nữa.
Về với thiên nhiên, ông lại có cơ hội gần gũi với thiên nhiên hơn. Ông vui thú, say mê với vẻ đẹp của thiên nhiên.
"Hòe lục đùn đùn tán rợp giương
Thạch lựu hiên còn phun thức đỏ
Hồng liên trì đã tiễn mùi hương".
Cảnh mùa hè qua tâm hồn, tình cảm của ông bừng bừng sức sống. Cây hòa lớn lên nhanh, tán cây tỏa rộng che rợp mặt đất như một tấm trướng rộng căng ra giữa trời với cành lá xanh tươi. Những cây thạch lựu còn phun thức đỏ, ao sen tỏa hương, màu hồng của những cánh hoa điểm tô sắc thắm. Qua lăng kính của Nguyễn Trãi, sức sống vẫn bừng bừng, tràn đầy, cuộc đời là một vườn hoa, một khu vườn thiên nhiên muôn màu muôn vẻ. Cảnh vật như cổ tích có lẽ bởi nó được nhìn bằng con mắt của một thi sĩ đa cảm, giàu lòng ham sống với đời.
Qua cảnh mùa hè, tình cảm của Nguyễn Trãi cũng thể hiện một cách sâu sắc:
"Lao xao chợ cá làng ngư phủ Dắng dỏi cầm ve lầu tịch dương".
"Chợ" là hình ảnh của sự thái bình trong tâm thức của người Việt. Chợ đông vui thì nước thái bình, thịnh trị, dân giàu đủ ấm no: chợ tan rã thì dễ gợi hình ảnh đất nước có biến, có loạn, có giặc giã, có chiến tranh, đao binh... lại thêm tiếng ve kêu lúc chiều tà gợi lên cuộc sống nơi thôn dã. Chính những màu sắc nơi thôn dã này làm cho tình cảm ông thêm đậm đà sâu sắc và gợi lại ý tưởng mà ông đang đeo đuổi.
"Dẽ có Ngu cầm đàn một tiếng Dân giàu đủ khắp đòi phương".
"Dân giàu đủ", cuộc sống của người dân ngày càng ấm no, hạnh phúc là điều mà Nguyễn Trãi từng canh cánh và mong ước. Ở đây, ông đề cập đến Ngu cầm vì thời vua Nghiêu, vua Thuấn nổi tiếng là thái bình thịnh trị. Vua Thuấn có một khúc đàn "Nam Phong" khảy lên để ca ngợi nhân gian giàu đủ, sản xuất ra nhiều thóc lúa ngô khoai. Cho nên, tác giả muốn có một tiếng đàn của vua Thuấn lồng vào đời sống nhân dân để ca ngợi cuộc sống của nhân dân ấm no, vui tươi, tràn đầy âm thanh hạnh phúc. Những mơ ước ấy chứng tỏ Nguyễn Trãi là nhà thơ vĩ đại có một tấm lòng nhân đạo cao cả. Ông luôn nghĩ đến cuộc sống của nhân dân, chăm lo đến cuộc sống của họ. Đó là ước mơ vĩ đại. Có thể nói, dù triều đình có thể xua đuổi Nguyễn Trãi nhưng ông vẫn sống lạc quan yêu đời, mong sao cho ước vọng lí tưởng của mình được thực hiện để nhân dân có một cuộc sống ấm no. Bài thơ này đã làm rõ nỗi niềm tâm sự của Nguyễn Trãi trong thời gian ở Côn Sơn với tấm lòng yêu nước thương dân vẫn ngày đêm "cuồn cuộn nước triều Đông". Ông yêu thiên nhiên cây cỏ say đắm. Và có lẽ chính thiên nhiên đã cứu Nguyễn Trãi thoát khỏi những phút giây bi quan của cuộc đời mình. Dù sống với cuộc sống thiên nhiên nhưng ức Trai vẫn canh cánh "một tấc lòng ưu ái cũ". Nguyễn Trãi vẫn không quên lí tưởng nhàn dân, lí tưởng nhân nghĩa, lí tưởng: mong cho thôn cùng xóm vắng không có một tiếng oán than, đau sầu.
Câu 1
Mỗi người có một cuộc sống riêng, một con đường riêng để hoàn thiện và phát triển bản thân. Chính vì thế, chúng ta cần sống có định hướng và chủ động trong cuộc sống của bản thân mình. Chủ động trong cuộc sống bản thân là việc chúng ta luôn biết làm chủ cuộc sống của mình, đề ra mục tiêu và thực hiện chúng một cách hoàn thiện, không để người khác phải nhắc nhở những công việc liên quan đến bản thân mình. Chủ động trong cuộc sống bản thân có ý nghĩa to lớn đối với cuộc sống con người, nó làm cho con người năng động hơn, sáng tạo hơn, giúp ích rất nhiều cho cuộc sống. Việc sống ở thế chủ động sẽ giúp con người nắm bắt được cơ hội, cục diện tốt hơn, từ đó tạo ra những thành công cho bản thân mình và hạn chế được những tình huống bất ngờ, những ảnh hưởng tâm lí khi sự việc ập đến. Người sống ở thế chủ động sẽ được mọi người yêu quý, tín nhiệm, tin tưởng và học tập theo, từ đó truyền được nguồn cảm hứng, những thông điệp tốt đẹp đến với mọi người, tạo ra một xã hội tốt đẹp hơn.