Nguyễn Thị Khánh Linh
Giới thiệu về bản thân
Câu 1:
Nguyễn Trãi đã sử dụng nghệ thuật lập luận sắc bén, chặt chẽ trong “Chiếu cầu hiền tài” để thuyết phục hiền tài ra giúp nước. Trước hết, ông mở đầu bằng cách khẳng định tầm quan trọng của hiền tài, nhấn mạnh rằng việc tiến cử người tài là điều kiện tiên quyết để đất nước thịnh trị. Tiếp theo, ông sử dụng hệ thống dẫn chứng lịch sử để minh chứng cho luận điểm, lấy ví dụ từ các triều đại Hán, Đường và những bậc hiền tài tự tiến cử. Cách nêu dẫn chứng không chỉ giúp lập luận thêm thuyết phục mà còn khéo léo tạo sự liên hệ với thực tiễn. Bên cạnh đó, Nguyễn Trãi cũng đưa ra những chính sách cụ thể, như việc khen thưởng người tiến cử đúng hiền tài, tạo cơ hội cho những người có năng lực tự đề đạt. Điều này thể hiện tư tưởng cởi mở, tiến bộ, không gò bó trong khuôn khổ truyền thống. Nhờ sự kết hợp giữa lý lẽ chặt chẽ, dẫn chứng thuyết phục và cách lập luận công tâm, “Chiếu cầu hiền tài” trở thành một văn bản có sức ảnh hưởng lớn trong lịch sử Việt Nam.
Câu 2:
Câu 1:
- PTBD chính: nghị luận
Câu 2:
- chủ thể bài viết: Vua Lê Thái Tổ ( Lê Lợi)
Câu 3:
- mục đích chính: kêu gọi, khuyến khích các quan lại tiến cử hiền tài, đồng thời mở rộng con đường cho những người tài giỏi tự đề xuất mình để phục vụ cho đất nước.
- những đường lối tiến cử hiện tại được đề cập:
+ quan lại từ tam phẩm trở lên tiến cử người có tài văn võ, có thể trị dân,cầm quân
+ những người tài giỏi nhưng chưa được biết đến có thể tự tiến cử
+ người tiến cử hiền tài sẽ được khen thưởng xứng đáng
Câu 4:
- dẫn chứng: “ những người tự đề đạt tài năng như Mạo Toại, Nịnh Thích", “ các tấm gương thời Hán- Đường như Tiêu Hà tiến Tào Tham, Nguy Vô Tri, tiến Trần Bình, Địch Nhân Kiệt tiến Trương Cửu Linh..."
-> nhận xét: các dẫn chứng đều là những tấm gương điển hình trong lịch sử giúp lập luận thêm phần thuyết phục
Câu 5:
- chủ thể bài viết là 1 người trọng hiền tài, có tầm nhìn xa trông rộng
- ông hiểu rõ vai trò của nhân tài trong việc xây dựng đất nước và sẵn sàng cho cơ hội cho những người có thực tài
- ông là người công bằng, khách quan, thưởng phạt rõ ràng để khuyến khích hiền tài cống hiến
Câu 1:
Trong xã hội hiện đại đầy biến động, lối sống chủ động đóng vai trò vô cùng quan trọng, quyết định sự thành công và hạnh phúc của mỗi người. Sống chủ động là khi con người biết tự lập, có kế hoạch rõ ràng, sẵn sàng thích nghi với hoàn cảnh và dám chịu trách nhiệm với lựa chọn của mình. Điều này giúp chúng ta kiểm soát cuộc sống tốt hơn, không bị cuốn theo dòng chảy của hoàn cảnh hay lệ thuộc vào người khác. Một người chủ động sẽ không chờ đợi cơ hội mà biết cách tạo ra nó, không đổ lỗi cho số phận mà tìm cách vượt qua khó khăn. Trong học tập và công việc, người chủ động luôn tìm tòi, sáng tạo, không ngại thử thách, từ đó dễ dàng đạt được mục tiêu. Ngược lại, lối sống thụ động sẽ khiến con người trì trệ, dễ bị bỏ lại phía sau. Để rèn luyện tính chủ động, mỗi người cần xác định rõ mục tiêu, không ngừng học hỏi và mạnh dạn bước ra khỏi vùng an toàn. Chỉ khi làm chủ được chính mình, ta mới có thể làm chủ cuộc đời và hướng tới một tương lai tốt đẹp hơn.
Câu 2:
Câu 1:
- thể thơ: thất ngôn bát cú đường luật
Câu 2:
- “ thu ăn măng trúc, đông ăn giá"
-> cuộc sống giản dị, hoà hợp với thiên nhiên
- “xuan tắm hồ sen, hạ tắm áo"
-> lối sống thanh cao, thư thái
- “ một mai, một cuốc, một cần câu"
-> những vật dụng gắn liền với cuộc sống lao động
Câu 3:
- biện pháp tu từ: liệt kê “ một mai, một cuốc, một cần câu "
-> tác dụng: thể hiện cuộc sống tự tại, đạm bạc, gợi hình ảnh của con người yêu lao động và yêu thiên nhiên
Câu 4:
- quan niệm dại - khôn của Nguyễn Bỉnh Khiêm có sự đảo ngược so với cách hiểu thông thường:
+ “ta dại": tác giả tự nhận mình dại vì chọn cuộc sống an nhàn, rời xa chốn quan trường bon chen
+ “ người khôn ": những người mải mê với công danh, lợi lộc
-> điểm đặc biệt: thế hiện trí tuệ minh triết, đề cao giá trị của sự thanh tịnh, sự tự do trong tâm hồn
Câu 5:
Nguyễn Bỉnh Khiêm là một con người có nhân cách thanh cao, trí tuệ uyên thâm. Ông lựa chọn cuộc sống an nhàn, hòa hợp với thiên nhiên, tránh xa danh lợi phù phiếm. Không màng đến phú quý, ông xem vinh hoa chỉ là giấc chiêm bao, thể hiện tư tưởng thoát tục, ung dung tự tại. Nhân cách của ông là tấm gương sáng về lối sống giản dị, thanh đạm mà cao quý.