Nguyễn Thanh Lương
Giới thiệu về bản thân
- Gọi H𝐻 là chân ngọn hải đăng. Theo hình vẽ, 𝐻𝐴 =5 km.
- Chiều cao ngọn hải đăng 𝐶𝐻 =1 km.
- Điểm B𝐵 nằm trên đoạn HA𝐻𝐴. Gọi khoảng cách HB𝐻𝐵là x𝑥 ( 0 ≤𝑥 ≤5).
- Khi đó, đoạn 𝐴𝐵 =𝐻𝐴 −𝐻𝐵 =5 −𝑥 (km).
- Dây điện được kéo từ A𝐴 đến B𝐵, sau đó từ B𝐵 đến C𝐶.
- Độ dài đoạn AB𝐴𝐵: 5 −𝑥 (km).
- Độ dài đoạn BC𝐵𝐶: Xét tam giác vuông CHB𝐶𝐻𝐵 vuông tại H𝐻, theo định lý Pythagoras:
BC=CH2+HB2=12+x2=1+x2(km)𝐵𝐶=𝐶𝐻2+𝐻𝐵2√=12+𝑥2√=1+𝑥2√(km)- Tiền công đoạn AB𝐴𝐵: ( 5 −𝑥 ) ×2 (tỉ đồng).
- Tiền công đoạn BC𝐵𝐶: 1+𝑥2√ ×3 (tỉ đồng).
- Tổng chi phí là 1313 tỉ đồng, ta có phương trình:
2(5−x)+31+x2=132(5−𝑥)+31+𝑥2√=13 10−2x+31+x2=1310−2𝑥+31+𝑥2√=13 31+x2=2x+331+𝑥2√=2𝑥+3 Bình phương hai vế (với điều kiện 2𝑥 +3 ≥0, điều này luôn đúng vì 𝑥 ≥0):
9(1+x2)=(2x+3)29(1+𝑥2)=(2𝑥+3)2 9+9x2=4x2+12x+99+9𝑥2=4𝑥2+12𝑥+9 5x2−12x=05𝑥2−12𝑥=0 x(5x−12)=0𝑥(5𝑥−12)=0 Ta tìm được hai nghiệm:- 𝑥 =0 (nghĩa là điểm B𝐵 trùng với chân hải đăng H𝐻).
- 𝑥 =125 =2 , 4 (km).
- Tổng chiều dài dây điện là 𝐿 =𝐴𝐵 +𝐵𝐶.
- Trường hợp 1: 𝑥 =0
- 𝐴𝐵 =5 −0 =5 km.
- 𝐵𝐶 =1+02√ =1 km.
- Tổng chiều dài: 5 +1 =𝟔km.
- Trường hợp 2: 𝑥 =2 , 4
- 𝐴𝐵 =5 −2 , 4 =2 , 6 km.
- 𝐵𝐶 =1+2,42√ =1+5,76√ =6,76√ =2 , 6 km.
- Tổng chiều dài: 2 , 6 +2 , 6 =𝟓,𝟐km.
- Có hai phương án kéo dây thỏa mãn chi phí 13 tỉ đồng, tổng chiều dài dây điện có thể là 6 km hoặc 5,2 km. Thông thường trong các bài toán thực tế này, người ta sẽ ưu tiên phương án ngắn hơn là 5,2 km.
- Gọi H𝐻 là chân ngọn hải đăng. Theo hình vẽ, 𝐻𝐴 =5 km.
- Chiều cao ngọn hải đăng 𝐶𝐻 =1 km.
- Điểm B𝐵 nằm trên đoạn HA𝐻𝐴. Gọi khoảng cách HB𝐻𝐵là x𝑥 ( 0 ≤𝑥 ≤5).
- Khi đó, đoạn 𝐴𝐵 =𝐻𝐴 −𝐻𝐵 =5 −𝑥 (km).
- Dây điện được kéo từ A𝐴 đến B𝐵, sau đó từ B𝐵 đến C𝐶.
- Độ dài đoạn AB𝐴𝐵: 5 −𝑥 (km).
- Độ dài đoạn BC𝐵𝐶: Xét tam giác vuông CHB𝐶𝐻𝐵 vuông tại H𝐻, theo định lý Pythagoras:
BC=CH2+HB2=12+x2=1+x2(km)𝐵𝐶=𝐶𝐻2+𝐻𝐵2√=12+𝑥2√=1+𝑥2√(km)- Tiền công đoạn AB𝐴𝐵: ( 5 −𝑥 ) ×2 (tỉ đồng).
- Tiền công đoạn BC𝐵𝐶: 1+𝑥2√ ×3 (tỉ đồng).
- Tổng chi phí là 1313 tỉ đồng, ta có phương trình:
2(5−x)+31+x2=132(5−𝑥)+31+𝑥2√=13 10−2x+31+x2=1310−2𝑥+31+𝑥2√=13 31+x2=2x+331+𝑥2√=2𝑥+3 Bình phương hai vế (với điều kiện 2𝑥 +3 ≥0, điều này luôn đúng vì 𝑥 ≥0):
9(1+x2)=(2x+3)29(1+𝑥2)=(2𝑥+3)2 9+9x2=4x2+12x+99+9𝑥2=4𝑥2+12𝑥+9 5x2−12x=05𝑥2−12𝑥=0 x(5x−12)=0𝑥(5𝑥−12)=0 Ta tìm được hai nghiệm:- 𝑥 =0 (nghĩa là điểm B𝐵 trùng với chân hải đăng H𝐻).
- 𝑥 =125 =2 , 4 (km).
- Tổng chiều dài dây điện là 𝐿 =𝐴𝐵 +𝐵𝐶.
- Trường hợp 1: 𝑥 =0
- 𝐴𝐵 =5 −0 =5 km.
- 𝐵𝐶 =1+02√ =1 km.
- Tổng chiều dài: 5 +1 =𝟔km.
- Trường hợp 2: 𝑥 =2 , 4
- 𝐴𝐵 =5 −2 , 4 =2 , 6 km.
- 𝐵𝐶 =1+2,42√ =1+5,76√ =6,76√ =2 , 6 km.
- Tổng chiều dài: 2 , 6 +2 , 6 =𝟓,𝟐km.
- Có hai phương án kéo dây thỏa mãn chi phí 13 tỉ đồng, tổng chiều dài dây điện có thể là 6 km hoặc 5,2 km. Thông thường trong các bài toán thực tế này, người ta sẽ ưu tiên phương án ngắn hơn là 5,2 km.
- Gọi H𝐻 là chân ngọn hải đăng. Theo hình vẽ, 𝐻𝐴 =5 km.
- Chiều cao ngọn hải đăng 𝐶𝐻 =1 km.
- Điểm B𝐵 nằm trên đoạn HA𝐻𝐴. Gọi khoảng cách HB𝐻𝐵là x𝑥 ( 0 ≤𝑥 ≤5).
- Khi đó, đoạn 𝐴𝐵 =𝐻𝐴 −𝐻𝐵 =5 −𝑥 (km).
- Dây điện được kéo từ A𝐴 đến B𝐵, sau đó từ B𝐵 đến C𝐶.
- Độ dài đoạn AB𝐴𝐵: 5 −𝑥 (km).
- Độ dài đoạn BC𝐵𝐶: Xét tam giác vuông CHB𝐶𝐻𝐵 vuông tại H𝐻, theo định lý Pythagoras:
BC=CH2+HB2=12+x2=1+x2(km)𝐵𝐶=𝐶𝐻2+𝐻𝐵2√=12+𝑥2√=1+𝑥2√(km)- Tiền công đoạn AB𝐴𝐵: ( 5 −𝑥 ) ×2 (tỉ đồng).
- Tiền công đoạn BC𝐵𝐶: 1+𝑥2√ ×3 (tỉ đồng).
- Tổng chi phí là 1313 tỉ đồng, ta có phương trình:
2(5−x)+31+x2=132(5−𝑥)+31+𝑥2√=13 10−2x+31+x2=1310−2𝑥+31+𝑥2√=13 31+x2=2x+331+𝑥2√=2𝑥+3 Bình phương hai vế (với điều kiện 2𝑥 +3 ≥0, điều này luôn đúng vì 𝑥 ≥0):
9(1+x2)=(2x+3)29(1+𝑥2)=(2𝑥+3)2 9+9x2=4x2+12x+99+9𝑥2=4𝑥2+12𝑥+9 5x2−12x=05𝑥2−12𝑥=0 x(5x−12)=0𝑥(5𝑥−12)=0 Ta tìm được hai nghiệm:- 𝑥 =0 (nghĩa là điểm B𝐵 trùng với chân hải đăng H𝐻).
- 𝑥 =125 =2 , 4 (km).
- Tổng chiều dài dây điện là 𝐿 =𝐴𝐵 +𝐵𝐶.
- Trường hợp 1: 𝑥 =0
- 𝐴𝐵 =5 −0 =5 km.
- 𝐵𝐶 =1+02√ =1 km.
- Tổng chiều dài: 5 +1 =𝟔km.
- Trường hợp 2: 𝑥 =2 , 4
- 𝐴𝐵 =5 −2 , 4 =2 , 6 km.
- 𝐵𝐶 =1+2,42√ =1+5,76√ =6,76√ =2 , 6 km.
- Tổng chiều dài: 2 , 6 +2 , 6 =𝟓,𝟐km.
- Có hai phương án kéo dây thỏa mãn chi phí 13 tỉ đồng, tổng chiều dài dây điện có thể là 6 km hoặc 5,2 km. Thông thường trong các bài toán thực tế này, người ta sẽ ưu tiên phương án ngắn hơn là 5,2 km.
Lê Đạt khẳng định: thơ khác văn xuôi, vì thơ dựa vào “ý tại ngôn ngoại” – tức là cái đẹp, cái ý ẩn chứa trong chữ, ngoài lời.
Ông cho rằng người làm thơ không chỉ “làm ý” mà phải làm chữ, nâng chữ lên tầm nghệ thuật.
Nhà thơ phải sống chết với chữ, để “chữ bầu lên nhà thơ” – tức là chính ngôn ngữ quyết định giá trị và tài năng của nhà thơ.
Lí lẽ: So sánh công phu làm thơ với công phu viết tiểu thuyết; nhấn mạnh rằng người làm thơ cũng phải tỉ mỉ, cân nhắc từng chữ như thầy thuốc bốc thuốc — sai một chữ có thể “chết cả bài thơ”.
Dẫn chứng: Nêu ví dụ về Tôn-xtôi đã sửa đi sửa lại nhiều lần tác phẩm Chiến tranh và hoà bình.
Nhận xét: Lí lẽ và dẫn chứng của Lê Đạt thuyết phục, cụ thể, độc đáo, cho thấy ông coi trọng chữ nghĩa và sự lao động của người cầm bút.
Câu nói thể hiện quan niệm của Lê Đạt rằng:
làm thơ là một lao động nghệ thuật vất vả, đòi hỏi tìm tòi, sáng tạo và trăn trở với từng chữ.
Hình ảnh “một nắng hai sương”, “cánh đồng giấy” gợi ra sự cần cù, nghiêm túc và tận tâm trong quá trình sáng tạo ngôn từ.
Lê Đạt rất ghét kiểu thơ dễ dãi, làm thơ chỉ để truyền đạt ý, không coi trọng chữ, không chăm chút ngôn ngữ
Ông ưa những người lao động nghệ thuật thực sự với ngôn ngữ, biết tìm tòi, sáng tạo trong từng chữ — những nhà thơ “đổ mồ hôi trên cánh đồng chữ”.