Nguyễn Linh Nhi
Giới thiệu về bản thân
- Xác định mục tiêu sống rõ ràng: Hiểu rằng vật chất là phương tiện, không phải là mục đích cuối cùng. Tiền bạc và tài sản giúp cuộc sống tiện nghi hơn, nhưng không mua được hạnh phúc chân chính, tình yêu thương hay sự thanh thản trong tâm hồn.
- Dành thời gian vun đắp các mối quan hệ: Tăng cường kết nối gia đình, bạn bè, đồng nghiệp. Dành thời gian chất lượng bên những người thân yêu, chia sẻ và thấu hiểu họ.
- Phát triển bản thân và bồi dưỡng tâm hồn: Đọc sách, học hỏi kiến thức mới, tham gia các hoạt động cộng đồng, văn hóa, nghệ thuật, thể thao. Những hoạt động này giúp làm giàu đời sống tinh thần, mở rộng thế giới quan và hoàn thiện nhân cách.
- Thực hành lối sống sẻ chia, nhân ái: Giống như bé Em, biết nghĩ cho người khác, sẵn sàng giúp đỡ những người xung quanh. Lòng nhân ái và sự sẻ chia mang lại hạnh phúc đích thực, làm cho cuộc sống thêm ý nghĩa.
- Trân trọng những gì đang có: Tập trung vào những niềm vui giản dị hàng ngày, biết ơn những giá trị mình đang sở hữu, tránh chạy theo những ham muốn vật chất vô tận.
- Sự thay đổi điểm nhìn: Điểm nhìn trong truyện thay đổi linh hoạt giữa:
- Người kể chuyện ngôi thứ ba (dấu hiệu: "con bé Em", "con Bích", "nó"): Đây là điểm nhìn chủ đạo, bao quát mọi hành động và suy nghĩ của nhân vật.
- Điểm nhìn bên trong nhân vật (dòng suy nghĩ): Truyện xen kẽ các đoạn bộc lộ suy nghĩ nội tâm của bé Em ("Nó nghĩ và nó muốn chia sẻ...", "Bây giờ con bé Em tính trong đầu...") và bé Bích ("Nhà mình nghèo, sao bì được...").
- Tác dụng của việc thay đổi điểm nhìn:
- Giúp câu chuyện trở nên khách quan, chân thực và đa chiều hơn.
- Cho phép người đọc hiểu sâu sắc hoàn cảnh, tâm tư, tình cảm và sự phát triển tâm lý của từng nhân vật, đặc biệt là sự chuyển biến trong nhận thức của bé Em.
- Tạo sự đồng cảm mạnh mẽ với cả hai nhân vật và làm nổi bật thông điệp về tình bạn và sự thấu hiểu.
- Với bé Em:
- Ban đầu, chiếc áo thể hiện sự ngây thơ, có phần phù phiếm và thích khoe khoang của một đứa trẻ được cưng chiều ("đẹp như tiên", "cho tụi bạn lé con mắt luôn").
- Tuy nhiên, sự lựa chọn không mặc áo đầm hồng vào ngày mùng Hai cho thấy bé Em là người nhân hậu, biết suy nghĩ và tế nhị. Bé đặt tình bạn lên trên sự diện mạo cá nhân, sợ làm tổn thương bạn.
- Với bé Bích:
- Chiếc áo đầm hồng là hình ảnh đối lập, làm nổi bật lên hoàn cảnh nghèo khó và sự thiệt thòi của Bích.
- Qua đó, ta thấy được Bích là một cô bé hiền lành, cam chịu, hiểu chuyện và giàu lòng tự trọng. Dù chạnh lòng ("mắt nó xịu xuống, buồn hẳn"), Bích vẫn không hề đố kị với bạn.
"Biến đổi khí hậu là thách thức lớn nhất đối với tương lai của nhân loại." - câu nói của Barack Obama đã khái quát một cách chính xác và đầy đủ về một trong những vấn đề cấp bách nhất mà chúng ta đang phải đối mặt. Quả thật, biến đổi khí hậu không chỉ là một vấn đề môi trường, mà còn là một mối đe dọa hiện hữu đối với sự tồn vong của cả loài người và hệ sinh thái trên Trái đất. Thân bài:
- Giải thích: Biến đổi khí hậu là sự thay đổi dài hạn của nhiệt độ và các kiểu thời tiết trên Trái đất. Nguyên nhân chính là do hoạt động của con người, đặc biệt là việc đốt nhiên liệu hóa thạch, gây ra hiện tượng hiệu ứng nhà kính.
- Biến đổi khí hậu đang diễn ra nghiêm trọng:
- Hiện tượng thời tiết cực đoan: Nhiều cơn bão lớn, lũ lụt, hạn hán, sạt lở đất diễn ra ngày càng thường xuyên và khó lường.
- Hệ quả nghiêm trọng: Ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe, sinh mạng con người; gây thiệt hại nặng nề về kinh tế, cản trở sự phát triển bền vững của các quốc gia.
- Mối đe dọa lâu dài: Dẫn đến mực nước biển dâng cao, làm xói mòn bờ biển, đe dọa hệ sinh thái biển, và biến đổi khí hậu có thể làm gia tăng xung đột, di cư và đói nghèo trên phạm vi toàn cầu.
- Trách nhiệm của con người:
- Nâng cao nhận thức: Mỗi cá nhân cần nhận thức rõ tác hại của biến đổi khí hậu, hiểu rõ trách nhiệm của bản thân trong việc bảo vệ môi trường.
- Hành động thiết thực: Giảm thiểu lượng rác thải, sử dụng các nguồn năng lượng tái tạo, tiết kiệm năng lượng, sử dụng các phương tiện giao thông công cộng thay vì phương tiện cá nhân,...
- Bình luận, phân tích: Người viết sử dụng các kiến thức về thơ ca, triết học để diễn giải và phân tích bài thơ "Tràng giang" của Huy Cận.
- Băn khoăn, cô đơn và hoài niệm: Người viết thể hiện tâm trạng bâng khuơ, băn khoăn khi đọc bài thơ, cảm giác mình như một "cành củi khô luân lạc" hoặc một "cánh chim nhỏ lạc lõng".
- Đồng cảm với nỗi niềm của thi nhân: Người viết hiểu được nỗi cô đơn, bơ vơ của con người hiện đại và cảm nhận "tràng giang" là dòng sông của đời người.
- Nỗi cô đơn, bơ vơ tuyệt đối: "Tràng giang" diễn tả một sự trống vắng được cảm nhận bằng nỗi cô đơn, bơ vơ, khác với sự an nhiên, tự tại của "thanh vắng" trong thơ xưa.
- Thế giới hoang sơ, quạnh hiu: "Tràng giang" hiện lên như một thế giới hoang sơ, cô đơn đến tuyệt đối, khác với những hình ảnh quen thuộc "lác đác", "vắng teo" trong thơ cổ điển.
- Nỗi nhớ nhà thường trực: Nỗi nhớ nhà trong "Tràng giang" là thường trực, không cần đến khói sóng để làm duyên cớ như trong thơ Thôi Hiệu.
- Từ láy: Sử dụng các từ láy như "điệp điệp, song song, lớp lớp, dợn dợn" để gợi sự đường bệ và nhịp triền miên.
- Cấu trúc câu tương xứng: Các cặp câu đối xứng như "Sóng gợn tràng giang buồn điệp điệp/ Con thuyền xuôi mái nước song song" tạo cảm giác nối tiếp, trùng lặp.
- Cấu trúc vế câu cắt rời, kết nối: Các vế câu "Nắng xuống/ trời lên/ sâu chót vót" và "Sông dài/ trời rộng/ bến cô liêu" tạo nhịp chảy trôi, rong ruổi, miên man.
- Từ, cụm từ chỉ sự trùng điệp, nối tiếp: Các cụm từ "hàng nối hàng", "Lặng lẽ bờ xanh tiếp bãi vàng" tạo âm hưởng trôi xuôi vô tận, miên viễn.
- Em ấn tượng nhất với sự kết hợp tài tình giữa yếu tố cổ điển và hiện đại trong nghệ thuật miêu tả không gian và nỗi lòng, hoặc với cách dùng từ ngữ gợi âm thanh và nhịp điệu.
- vì nó tạo ra một bức tranh thiên nhiên vừa hùng vĩ, bao la lại vừa gợi lên nỗi cô đơn, bơ vơ của con người. Hoặc lí do là bởi cách sử dụng ngôn ngữ độc đáo, tinh tế, tạo nên âm hưởng và hình ảnh sống động, chạm đến trái tim người đọc
Câu 1 (2.0 điểm):
Viết đoạn văn nghị luận văn học khoảng 200 chữ phân tích nhân vật Bê-li-cốp trong đoạn trích ở phần Đọc hiểu.
a. Xác định được yêu cầu về hình thức, dung lượng của đoạn văn (0.25 điểm)
- Xác định đúng yêu cầu về hình thức và dung lượng (khoảng 200 chữ) của đoạn văn.
- Về kiểu đoạn văn, HS có thể trình bày theo cách diễn dịch, quy nạp, tổng - phân - hợp, móc xích hoặc song hành.
b. Xác định đúng vấn đề cần nghị luận (0.25 điểm)
- Xác định đúng vấn đề cần nghị luận: Phân tích nhân vật Bê-li-cốp.
c. Đề xuất được hệ thống ý phù hợp để làm rõ vấn đề nghị luận (0.5 điểm)
- Xác định được các ý phù hợp để làm rõ vấn đề nghị luận, sau đây là một số gợi ý:
- Chân dung: Đi giày cao su, cầm ô, mặc áo bành tô cốt bông, ô để trong bao, chiếc đồng hồ quả quýt để trong bao, giấu mặt sau cổ áo dựng đứng, đeo kính râm, mặc áo bông chần, lỗ tai nhét bông.
=> Nhắm mắt và bịt tai với đời – một biểu hiện của người trong bao.
- Nghề nghiệp: giáo viên dạy tiếng Hi Lạp.
=> Đây cũng là 1 cái bao bởi tiếng Hi Lạp là thứ ngôn ngữ của quá khứ, là thứ ngôn ngữ đã chết.
- Tư tưởng, lối sống:
+ Cả suy nghĩ cũng ở trong bao, chỉ thông tư điều lệ mới rõ ràng.
=> Điều khiển cuộc sống của hắn là những gì người ta cho phép, những gì người ta cấm đoán, chứ không phải là suy nghĩ và khát vọng của hắn.
+ Ở nhà hắn vẫn mặc áo khoác ngoài, đội mũ đóng cửa cài then, đêm ngủ trùm chăn kín mít, cho thấy hắn tự mình chui vào nhiều lớp bao.
=> Con người sợ hãi tất cả mọi thứ trong đời.
+ Đến nhà đồng nghiệp rồi ngồi không để duy trì mối quan hệ với đồng nghiệp.
=> Sợ người ta dị nghị nhưng không còn chuyện gì để nói. Hắn soi mói cái gì sai để báo cáo vì không báo cáo, hắn là kẻ đồng lõa, vậy nên thực chất, hắn giao tiếp cũng chỉ vì sợ ảnh hưởng đến sự an toàn của mình.
d. Viết đoạn văn đảm bảo các yêu cầu sau (0.5 điểm)
- Lựa chọn được các thao tác lập luận, phương thức biểu đạt phù hợp để triển khai vấn đề nghị luận.
- Trình bày rõ quan điểm và hệ thống các ý.
- Lập luận chặt chẽ, thuyết phục: Lí lẽ xác đáng, bằng chứng tiêu biểu, phù hợp; kết hợp nhuần nhuyễn giữa lí lẽ và bằng chứng.
đ. Diễn đạt (0.25 điểm)
- Đảm bảo chuẩn chính tả, dùng từ, ngữ pháp tiếng Việt, liên kết các câu trong văn bản.
e. Sáng tạo (0.25 điểm)
- Thể hiện suy nghĩ sâu sắc về vấn đề nghị luận; có cách diễn đạt mới mẻ.
Câu 2 (4.0 điểm):
Viết một bài văn có dung lượng khoảng 600 chữ trình bày suy nghĩ của anh/chị về ý nghĩa của việc bước ra khỏi vùng an toàn của bản thân.
a. Xác định được yêu cầu của kiểu bài (0.25 điểm)
- Xác định đúng yêu cầu của kiểu bài: Nghị luận xã hội.
b. Xác định đúng vấn đề cần nghị luận (0.5 điểm)
- Xác định đúng vấn đề cần nghị luận: Ý nghĩa của việc bước ra khỏi vùng an toàn.
c. Đề xuất được hệ thống ý phù hợp để làm rõ vấn đề nghị luận (1.5 điểm)
- Xác định được các ý chính của bài viết.
- Sắp xếp được các ý hợp lí theo bố cục 3 phần của bài văn nghị luận:
* Giới thiệu vấn đề nghị luận và nêu khái quát quan điểm của cá nhân về vấn đề.
* Triển khai vấn đề nghị luận:
+ Vùng an toàn là những không gian quen thuộc mà con người ta thường nương náu và trú ngụ.
+ Bước ra khỏi vùng an toàn cho ta không gian để phát triển bản thân.
+ Bước ra khỏi vùng an toàn cũng rèn luyện tính linh hoạt và khả năng thích nghi của ta.
+ Ta có thêm khả năng khám phá thế giới và thấu hiểu chính mình.
+ Thoát ra khỏi vùng an toàn không dễ dàng, song ta cần phải học cách để làm điều đó bằng cách: Đặt mục tiêu rõ ràng; Thay đổi dần những điều quen thuộc…
+ Tuy nhiên, cũng có những lúc ta cần lí trí, suy nghĩ và cân nhắc cẩn thận để xem xét xem nên ở trong vòng an toàn để đảm bảo giữ vững được những điều vốn có hay nên liều lĩnh để đạt được những thành công mới.
+ Bước ra khỏi vùng an toàn cũng có nghĩa là phải học cách chấp nhận bản thân có khả năng gặp thất bại.
* Khẳng định lại quan điểm cá nhân đã trình bày và rút ra bài học cho bản thân.
d. Viết bài văn đảm bảo các yêu cầu sau (1.0 điểm)
- Triển khai được ít nhất hai luận điểm để làm rõ quan điểm của cá nhân.
- Lựa chọn được các thao tác lập luận, phương thức biểu đạt phù hợp để triển khai vấn đề nghị luận.
- Lập luận chặt chẽ, thuyết phục: Lí lẽ xác đáng, bằng chứng tiêu biểu, phù hợp; kết hợp nhuần nhuyễn giữa lí lẽ và bằng chứng.
Lưu ý: HS có thể bày tỏ suy nghĩ, quan điểm riêng nhưng phải phù hợp với chuẩn mực đạo đức và pháp luật.
đ. Diễn đạt (0.25 điểm)
Đảm bảo chuẩn chính tả, dùng từ, ngữ pháp tiếng Việt, liên kết văn bản.
e. Sáng tạo (0.5 điểm)
Câu 1 (0.5 điểm):
- Phương thức biểu đạt chính được sử dụng trong bài là: Tự sự.
Câu 2 (0.5 điểm):
Nhân vật trung tâm của đoạn trích là Bê-li-cốp.
Câu 3 (1.0 điểm):
- Đoạn trích được kể theo ngôi thứ ba.
- Tác dụng:
+ Đảm bảo tính khách quan cho câu chuyện.
+ Kể chuyện một cách linh hoạt.
+ Giúp câu chuyện trở nên sinh động, hấp dẫn.
Câu 4 (1.0 điểm):
- Những chi tiết miêu tả chân dung Bê-li-cốp:
+ Đi giày cao su, cầm ô, mặc áo bành tô ấm cốt bông. Ô hắn để trong bao, chiếc đồng hồ quả quýt cũng để trong bao bằng da hươu; và khi rút chiếc dao nhỏ để gọt bút chì thì chiếc dao ấy cũng đặt trong bao; cả bộ mặt hắn ta nữa dường như cũng ở trong bao vì lúc nào hắn cũng giấu mặt sau chiếc cổ áo bành tô bẻ đứng lên.
+ Hắn đeo kính râm, mặc áo bông chần, lỗ tai nhét bông.
- Nhan đề đoạn trích được đặt là Người trong bao vì:
+ Tất cả những đồ vật của Bê-li-cốp đều được đặt trong những cái bao kín.
+ Ngay cả chính bản thân Bê-li-cốp cũng tự ẩn mình vào trong những cái “bao”, cắt đi mọi giao cảm với đời.
+ Chiếc bao là ẩn dụ cho việc không dám bước ra khỏi vòng an toàn của mình.
Câu 5 (1.0 điểm):
- Bài học rút ra từ đoạn trích: Phải sống dũng cảm, hết mình, dám chấp nhận tổn thương.
- Vì: Nếu cứ giấu mình, chúng ta sẽ không bao giờ có thể phát triển, và rộng ra, cả xã hội sẽ bị chậm lại theo.
Câu 1 (2.0 điểm):
Viết đoạn văn khoảng 200 chữ phân tích nghệ thuật lập luận của Nguyễn Trãi trong văn bản Chiếu cầu hiền tài.
a. Xác định được yêu cầu về hình thức, dung lượng của đoạn văn (0.25 điểm)
- Xác định đúng yêu cầu về hình thức và dung lượng (khoảng 200 chữ) của đoạn văn.
- Về kiểu đoạn văn, HS có thể trình bày theo cách diễn dịch, quy nạp, tổng - phân - hợp, móc xích hoặc song hành.
b. Xác định đúng vấn đề cần nghị luận (0.25 điểm)
- Xác định đúng vấn đề cần nghị luận: Nghệ thuật lập luận trong Chiếu cầu hiền tài của Nguyễn Trãi.
c. Đề xuất được hệ thống ý phù hợp để làm rõ vấn đề nghị luận (0.5 điểm)
- Xác định được các ý phù hợp để làm rõ vấn đề nghị luận, sau đây là một số gợi ý:
+ Mục đích và đối tượng sáng tác: Bài chiếu được viết để chiêu mộ người có tài đức về giúp việc triều chính cho đất nước, vậy nên đối tượng là những người dân có tài, có đức.
+ Các phần được phân chia theo bố cục rõ ràng và logic chặt chẽ: Trước hết, tác giả bài viết đưa ra vấn đề như sau: Việc đầu tiên cần làm sau khi lên ngôi chính là tìm người hiền tài về giúp cho đất nước. Sau đó, tác giả bài viết đưa ra hàng loạt dẫn chứng làm cơ sở thực tiễn để chứng minh cho luận điểm ấy. Tiếp theo, chủ thể bài viết ban hành những chính sách phù hợp để tìm người giúp cho đất nước, trong đó có việc tiến cử và tự tiến cử để không bỏ sót bất kì người tài nào.
+ Cách thức lập luận: Sử dụng nhiều cách thức khác nhau một cách linh hoạt, chặt chẽ và vô cùng thuyết phục, dẫn chứng đáng tin cậy và xác thực, giọng điệu hùng hồn.
d. Viết đoạn văn đảm bảo các yêu cầu sau (0.5 điểm)
- Lựa chọn được các thao tác lập luận, phương thức biểu đạt phù hợp để triển khai vấn đề nghị luận.
- Trình bày rõ quan điểm và hệ thống các ý.
- Lập luận chặt chẽ, thuyết phục: Lí lẽ xác đáng, bằng chứng tiêu biểu, phù hợp; kết hợp nhuần nhuyễn giữa lí lẽ và bằng chứng.
đ. Diễn đạt (0.25 điểm)
- Đảm bảo chuẩn chính tả, dùng từ, ngữ pháp tiếng Việt, liên kết các câu trong văn bản.
e. Sáng tạo (0.25 điểm)
- Thể hiện suy nghĩ sâu sắc về vấn đề nghị luận; có cách diễn đạt mới mẻ.
Câu 2 (4.0 điểm):
Viết một bài văn có dung lượng khoảng 600 chữ trình bày suy nghĩ của em về hiện tượng “chảy máu chất xám” tại Việt Nam hiện nay.
a. Xác định được yêu cầu của kiểu bài (0.25 điểm)
- Xác định đúng yêu cầu của kiểu bài: Nghị luận xã hội.
b. Xác định đúng vấn đề cần nghị luận (0.5 điểm)
- Xác định đúng vấn đề cần nghị luận: Hiện tượng “chảy máu chất xám”.
c. Đề xuất được hệ thống ý phù hợp để làm rõ vấn đề nghị luận (1.5 điểm)
- Xác định được các ý chính của bài viết.
- Sắp xếp được các ý hợp lí theo bố cục 3 phần của bài văn nghị luận:
* Giới thiệu vấn đề nghị luận và nêu khái quát quan điểm của cá nhân về vấn đề.
* Triển khai vấn đề nghị luận:
- “Chảy máu chất xám”: Là hiện tượng người tài, người trí thức có trình độ quyết định sống, làm việc và cống hiến cho nước ngoài.
- Nguyên nhân:
+ Nguyên nhân về môi trường làm việc: thiếu nguồn lực, thiếu cơ sở vật chất, thiếu tự do học thuật, thiếu sự minh bạch trong việc đánh giá và thăng tiến.
+ Nguyên nhân về cơ hội phát triển: ở nước ngoài dễ tiếp xúc với những dự án quốc tế, mạng lưới hợp tác và trao đổi chuyên môn.
+ Nguyên nhân về thu nhập và chính sách: thu nhập cao và chế độ đãi ngộ tốt hơn.
- Hậu quả:
+ Mất đi nguồn lực trình độ cao, làm giảm khả năng phòng ngừa và ứng phó với các vấn đề xã hội.
+ Làm tăng khoảng cách kinh tế và khoa học giữa Việt Nam và các nước phát triển.
+ Những người làm việc ở nước ngoài cũng gặp nhiều khó khăn trong việc thích ứng, đồng thời dần đánh mất sự kết nối đối với quê hương.
VD: Trường hợp Cao Hành Kiện.
- Giải pháp:
+ Cải thiện môi trường làm việc và tăng cơ hội phát triển việc làm cho người tài.
+ Có những chính sách khuyến khích và tôn vinh người tài.
+ Nâng cao thu nhập cho người tài.
- Mở rộng, trao đổi với quan điểm trái chiều hoặc ý kiến khác để có cái nhìn toàn diện.
* Khẳng định lại quan điểm cá nhân đã trình bày và rút ra bài học cho bản thân.
d. Viết bài văn đảm bảo các yêu cầu sau (1.0 điểm)
- Triển khai được ít nhất hai luận điểm để làm rõ quan điểm của cá nhân.
- Lựa chọn được các thao tác lập luận, phương thức biểu đạt phù hợp để triển khai vấn đề nghị luận.
- Lập luận chặt chẽ, thuyết phục: Lí lẽ xác đáng, bằng chứng tiêu biểu, phù hợp; kết hợp nhuần nhuyễn giữa lí lẽ và bằng chứng.
Lưu ý: HS có thể bày tỏ suy nghĩ, quan điểm riêng nhưng phải phù hợp với chuẩn mực đạo đức và pháp luật.
đ. Diễn đạt (0.25 điểm)
Đảm bảo chuẩn chính tả, dùng từ, ngữ pháp tiếng Việt, liên kết văn bản.
e. Sáng tạo (0.5 điểm)
Thể hiện suy nghĩ sâu sắc về vấn đề nghị luận; có cách diễn đạt mới mẻ.
Câu 1 (0.5 điểm):
- Phương thức biểu đạt chính được sử dụng trong bài là: Nghị luận.
Câu 2 (0.5 điểm):
- Chủ thể bài viết là Lê Lợi.
Câu 3 (1.0 điểm):
- Mục đích chính của văn bản: Chiêu dụ người tài đức về giúp việc triều chính. (0.25 điểm)
- Các đường lối tiến cử hiền tài: (0.75 điểm)
+ Các đại thần từ tam phẩm trở lên, mỗi người đều cử một người tài.
+ Nếu cử được người trung tài thì thăng chức hai bực, nếu cử được người tài đức đều hơn người tột bực, tất được trọng thưởng.
+ Người có tài đức có thể tự tiến cử.
Câu 4 (1.0 điểm):
- Người viết đã đưa ra các dẫn chứng sau:
+ Thời xưa, dưới không sót nhân tài, trên không bỏ công việc, nên triều đại thịnh trị.
+ Các quan đời Hán Đường tiến cử người tài giúp nước, như Tiêu Hà tiến Tào Tham, Nguy Vô Tri tiến Trần Bình, Địch Nhân Kiệt tiến Trương Cửu Linh, Tiêu Tung tiến Hàn Hưu, tuy tài phẩm có cao thấp khác nhau, nhưng tất thảy đều được người để đảm đang nhiệm vụ.
- Nhận xét dẫn chứng:
+ Dẫn chứng được đưa ra phong phú, toàn diện, sắc sảo, từ cổ chí kim, từ gần tới xa.
+ Dẫn chứng hợp lí, xác đáng, là những chuyện có thực, đủ để minh chứng cho luận điểm một triều đại thịnh trị cần có người tài làm căn cơ.
Câu 5 (1.0 điểm):
- Chủ thể bài viết có những phẩm chất sau:
+ Trọng người tài.
+ Khiêm nhường, biết lắng nghe ý kiến của dân, lấy dân làm trọng.
+ Anh minh, đưa ra được những chính sách sáng suốt vì dân vì nước.
Câu 1:
a. Xác định được yêu cầu của kiểu bài:
Xác định được yêu cầu của kiểu bài: nghị luận xã hội.
b. Xác định đúng vấn đề nghị luận: tầm quan trọng của lối sống chủ động trong xã hội hiện nay.
c. Đề xuất được hệ thống ý phù hợp làm rõ vấn đề nghị luận:
HS có thể triển khai theo nhiều cách, nhưng cần giới thiệu được vấn đề cần bàn luận, nêu rõ lí do và quan điểm của bản thân, hệ thống luận điểm chặt chẽ, lập luận thuyết phục, sử dụng dẫn chứng thuyết phục.
Sau đây là một hướng gợi ý:
– Mở đoạn: Dẫn dắt và giới thiệu vấn đề cần bàn luận (lối sống có trách nhiệm trong xã hội hiện nay).
– Thân đoạn:
+ Giải thích “lối sống chủ động” là gì.
+ Phân tích, lí giải và lấy dẫn chứng về vai trò của “lối sống chủ động” đối với mỗi người.
+ Mở rộng, phản đề.
+ Liên hệ và rút ra bài học.
– Kết đoạn: Khẳng định và đánh giá lại vấn đề cần bàn luận.
d. Viết đoạn văn cần đảm bảo các yêu cầu sau:
– Lựa chọn các thao tác lập luận, phương thức biểu đạt phù hợp để triển khai vấn đề nghị luận.
– Lập luận chặt chẽ, thuyết phục: lí lẽ xác đáng, bằng chứng tiêu biểu, phù hợp, kết hợp chặt chẽ giữa lí lẽ và bằng chứng.
đ. Diễn đạt:
Đảm bảo chuẩn chính tả, dùng từ, ngữ pháp tiếng Việt, liên kết các câu trong đoạn.
e. Sáng tạo:
Thể hiện suy nghĩ sâu sắc về vấn đề nghị luận; có cách diễn đạt mới mẻ.
Câu 2:
a. Xác định được yêu cầu của kiểu bài:
Xác định được yêu cầu của kiểu bài: nghị luận văn học.
b. Xác định đúng vấn đề nghị luận: cảm nhận về bài thơBảo kính cảnh giới (Gương báu răn mình) – Bài số 43, Nguyễn Trãi.
c. Đề xuất được hệ thống ý phù hợp làm rõ vấn đề nghị luận:
Sau đây là một hướng gợi ý:
– Mở bài: Giới thiệu tác giả, tác phẩm và vấn đề cần nghị luận.
– Thân bài: Phân tích bài thơ để làm rõ được các nội dung sau:
+ Tâm thế của tác giả: an nhàn, thảnh thơi, muốn hòa mình vào thiên nhiên.
+ Bức tranh cảnh ngày hè nơi làng quê: rực rỡ và căng tràn sức sống.
+ Bức tranh cuộc sống con người: sôi động, phong phú.
+ Tấm lòng yêu nước thương dân và mong ước của nhà thơ: nhân dân có cuộc sống hạnh phúc, no đủ.
+ Đánh giá khái quát về nội dung và nghệ thuật của bài thơ.
– Kết bài: Khẳng định lại vấn đề.
Câu 1. Thể thơ: thất ngôn bát cú Đường luật.
Câu 2. Những hình ảnh nói về nét sinh hoạt hàng ngày đạm bạc, thanh cao của tác giả: ăn măng trúc, ăn giá, tắm hồ sen, tắm ao.
Câu 3:
– Biện pháp tu từ liệt kê: Một mai, một cuốc, một cần câu.
– Tác dụng:
+ Tạo sự cân xứng, nhịp nhàng, hài hòa cho lời thơ.
+ Nhấn mạnh: sự lựa chọn phương châm sống, cách ứng xử của tác giả – chọn lối sống tĩnh tại, an nhàn; vừa thể hiện sắc thái trào lộng, mỉa mai đối với cách sống ham danh vọng, phú quý…
Câu 4:
Quan niệm khôn – dại của tác giả:
– Dại: “tìm nơi vắng vẻ” – nơi tĩnh tại của thiên nhiên, thảnh thơi của tâm hồn.
– Khôn: “đến chốn lao xao” – chốn cửa quyền bon chen, thủ đoạn sát phạt.
=> Đó là một cách nói ngược: khôn mà khôn dại, dại mà dại khôn của tác giả.
=>Thái độ tự tin vào sự lựa chọn của bản thân và hóm hỉnh mỉa mai quan niệm sống bon chen của thiên hạ.
Câu 5:
Một số gợi ý:
– Là người sống giản dị, thanh bạch.
– Là người có trí tuệ, cốt cách thanh cao.
– Là người bản lĩnh: coi thường danh lợi.