Dương Thị Lâm Mai

Giới thiệu về bản thân

Chào mừng bạn đến với trang cá nhân của Dương Thị Lâm Mai
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
(Thường được cập nhật sau 1 giờ!)


Câu 1. Viết đoạn văn khoảng 200 chữ phân tích nhân vật bé Em



Nhân vật bé Em trong văn bản “Áo Tết” hiện lên với những nét tính cách hồn nhiên, dễ thương nhưng cũng rất giàu tình cảm. Là một đứa trẻ có điều kiện hơn bạn, bé Em vui sướng và tự hào khi được mặc chiếc áo đầm hồng mới. Niềm háo hức ấy hoàn toàn tự nhiên đối với lứa tuổi học trò. Tuy nhiên, khi đối diện với hoàn cảnh thiếu thốn của bé Bích, Em không khỏi chững lại. Sự dao động giữa muốn khoe và ngập ngừng không dám khoe cho thấy bé Em tuy ham thích cái đẹp nhưng có trái tim biết quan tâm và thấu hiểu. Cao đẹp nhất là khi đến ngày đi thăm cô giáo, Em không mặc chiếc đầm hồng nổi bật mà chọn bộ đồ giản dị để bạn không cảm thấy tủi thân. Quyết định ấy xuất phát từ tình bạn chân thành, từ sự tinh tế và đồng cảm rất đẹp ở một đứa trẻ còn nhỏ tuổi. Bé Em vì thế trở thành hình ảnh tượng trưng cho những cảm xúc trong trẻo, mộc mạc và nhân hậu trong tâm hồn con người, gợi nhắc mỗi chúng ta biết sống sẻ chia và trân trọng những tình cảm giản dị trong cuộc đời.





Câu 2. Bài văn nghị luận khoảng 600 chữ



Trong xã hội hiện đại, con người đứng trước rất nhiều lựa chọn và áp lực, một trong số đó là việc cân bằng giữa giá trị vật chất và giá trị tinh thần. Câu chuyện trong văn bản “Áo Tết”, khi bé Em nhận ra rằng tình bạn đáng quý hơn chiếc áo đầm mới, không chỉ là bài học cho trẻ thơ mà còn gửi gắm thông điệp có ý nghĩa sâu sắc đối với tất cả chúng ta: vật chất quan trọng, nhưng tinh thần mới là nền tảng làm nên hạnh phúc bền vững.


Không thể phủ nhận vai trò của vật chất trong đời sống. Vật chất mang lại sự tiện nghi, giúp con người đảm bảo nhu cầu ăn, mặc, ở, học tập và chăm sóc sức khỏe. Một mức sống đầy đủ giúp ta yên tâm phấn đấu và theo đuổi ước mơ. Tuy nhiên, nếu chỉ chạy theo vật chất, con người rất dễ mắc kẹt trong vòng xoáy hơn – thua, giàu – nghèo, từ đó đánh mất thời gian, tình cảm và những giá trị tinh thần tốt đẹp. Nhiều người vì mải làm giàu mà quên mất gia đình; nhiều bạn trẻ vì muốn có đồ đẹp, đồ hiệu mà quên đi việc nuôi dưỡng tâm hồn, xây dựng nhân cách. Vật chất có thể mua được nhiều thứ, nhưng không thể mua được sự bình yên, lòng bao dung hay một tình bạn chân thành như tình bạn của bé Em và bé Bích.


Giá trị tinh thần – bao gồm tình yêu thương, niềm tin, sự sẻ chia, lòng biết ơn – là yếu tố giúp cuộc sống trở nên có ý nghĩa. Đó chính là điều đã khiến bé Em quyết định không mặc áo đầm hồng để bạn mình không tủi thân. Nghĩa cử ấy cho thấy một chân lí giản dị: khi ta đặt tình cảm lên trên sự phô trương vật chất, ta không mất đi điều gì mà ngược lại, ta nhận về những mối quan hệ bền chặt và sự thanh thản trong lòng. Sự cân bằng giữa hai giá trị giúp con người sống hạnh phúc, biết đủ và biết yêu thương.


Để xây dựng lối sống hài hòa giữa vật chất và tinh thần, mỗi người cần bắt đầu từ những hành động cụ thể. Trước hết, hãy tiêu dùng hợp lí, biết phân biệt nhu cầu và mong muốn, không chạy theo đồ xa xỉ chỉ để thể hiện bản thân. Bên cạnh đó, cần dành thời gian cho gia đình, bạn bè, cho những hoạt động thiện nguyện hay việc phát triển bản thân qua đọc sách, rèn luyện kĩ năng sống. Học cách lắng nghe và thấu hiểu cũng là một cách nuôi dưỡng đời sống tinh thần. Cuối cùng, hãy tập nói lời cảm ơn, biết trân trọng những điều bình dị – đó chính là “kho báu” tinh thần mà không món đồ nào có thể thay thế.


Cuộc sống chỉ thật sự trọn vẹn khi ta biết dung hòa giữa hai giá trị: vật chất để tồn tại và tinh thần để sống đẹp. Bài học từ bé Em nhắc nhở mỗi chúng ta rằng hạnh phúc không nằm ở chiếc áo mới, mà ở tấm lòng biết yêu thương và sẻ chia.



Câu 1.



Văn bản trên thuộc thể loại truyện ngắn.





Câu 2.



Đề tài của văn bản “Áo Tết” là tình bạn hồn nhiên của trẻ nhỏ trong bối cảnh đời sống gia đình nghèo – giàu khác nhau.





Câu 3.



  • Sự thay đổi điểm nhìn: Văn bản luân phiên sử dụng điểm nhìn từ bé Em sang bé Bích, xen kẽ điểm nhìn khách quan của người kể chuyện.
  • Tác dụng: Giúp câu chuyện đa chiều hơn, thể hiện rõ tâm lí đối lập mà chân thật của cả hai nhân vật; làm nổi bật sự tinh tế, nhân hậu của bé Em và sự tự trọng, giàu tình cảm của bé Bích; đồng thời tăng tính xúc động và chiều sâu nhân văn cho truyện.






Câu 4.



Chiếc áo đầm hồng là chi tiết tiêu biểu vì:


  • Nó bộc lộ tâm lí trẻ thơ của bé Em: thích mặc đẹp, thích được khoe, nhưng cũng biết thương bạn nên cuối cùng không mặc áo đẹp để bạn khỏi tủi thân → cho thấy bé Em giàu lòng nhân ái.
  • Qua cách bé Bích phản ứng, chiếc áo làm nổi bật sự tự trọng và hồn nhiên của đứa trẻ nghèo: dù buồn vì nhà khó khăn nhưng vẫn chân thành, không ghen tị, luôn trân trọng tình bạn.
    → Đây là chi tiết trung tâm giúp thể hiện rõ sự đối lập hoàn cảnh nhưng đồng thời tôn lên vẻ đẹp trong sáng, nhân hậu của tình bạn.






Câu 5.



Từ câu chuyện, ta rút ra bài học:

Tình bạn thật sự không dựa trên giàu – nghèo hay hình thức bên ngoài mà ở sự chân thành và biết nghĩ cho nhau. Khi biết chia sẻ, đặt mình vào hoàn cảnh của bạn, chúng ta sẽ giữ được tình bạn đẹp và bền lâu. Sự quan tâm dù nhỏ cũng có thể đem lại niềm vui và giúp bạn cảm thấy được trân trọng.


Câu 1:

Hình ảnh “Hoa chanh nở giữa vườn chanh” trong bài thơ Chân quê của Nguyễn Bính là một sáng tạo nghệ thuật giàu sức gợi, kết tinh quan niệm thẩm mĩ chân quê và nỗi lòng yêu thương, gìn giữ của nhân vật trữ tình. Hoa chanh vốn mộc mạc, nhỏ bé, không rực rỡ mà thanh khiết, thơm dịu – cũng như vẻ đẹp giản dị, thuần hậu của cô gái quê. “Vườn chanh” là không gian quen thuộc của làng quê Bắc Bộ, gợi sự thuần phác, gần gũi. Vì thế, “hoa chanh nở giữa vườn chanh” tượng trưng cho sự hài hòa tự nhiên giữa con người và môi trường nuôi dưỡng mình; cái đẹp chân thật chỉ tỏa sáng nhất khi ở đúng nơi nó thuộc về. Qua hình ảnh ấy, nhân vật trữ tình bộc lộ mong muốn người con gái giữ lại nét đẹp mộc mạc, đừng chạy theo vẻ hào nhoáng chốn thị thành để đánh mất “hương đồng gió nội”. Đồng thời, câu thơ thể hiện niềm trân trọng sâu sắc của Nguyễn Bính đối với vẻ đẹp truyền thống – vẻ đẹp làm nên bản sắc của con người thôn quê. Nhờ vậy, hình ảnh hoa chanh trở thành điểm nhấn giàu chất thơ, gợi hương vị chân thật, mộc mạc mà đằm sâu của hồn quê Việt.

Câu 2 :

Trong thời đại hiện nay, khi khoa học – công nghệ phát triển mạnh mẽ và đời sống con người được nâng cao chưa từng có, chúng ta lại phải đối mặt với một mối đe dọa vô cùng nghiêm trọng: biến đổi khí hậu. Nhận định của Barack Obama rằng “Biến đổi khí hậu là thách thức lớn nhất đối với tương lai của nhân loại” không chỉ đúng đắn mà còn mang ý nghĩa cảnh tỉnh, nhắc nhở con người về trách nhiệm chung đối với hành tinh. Đây không phải vấn đề của riêng một quốc gia hay một thế hệ, mà là bài toán lớn của toàn cầu, đòi hỏi nhận thức đúng đắn và hành động quyết liệt.


Biến đổi khí hậu thể hiện trước hết ở sự nóng lên toàn cầu, băng tan, mực nước biển dâng, thời tiết cực đoan xảy ra ngày càng dồn dập. Những hiện tượng như nắng nóng kỷ lục, bão lũ bất thường, cháy rừng diện rộng hay hạn hán kéo dài không còn xa lạ. Tất cả gây thiệt hại nghiêm trọng đến hệ sinh thái, tài nguyên thiên nhiên và đời sống của hàng triệu người. Môi trường sống bị hủy hoại, nhiều khu vực ven biển có nguy cơ biến mất, an ninh lương thực bị đe dọa… Điều ấy chứng minh: nếu không hành động kịp thời, con người sẽ tự đẩy mình vào khủng hoảng sinh tồn.


Nguyên nhân chủ yếu của biến đổi khí hậu xuất phát từ chính con người. Việc khai thác quá mức tài nguyên, chặt phá rừng, sử dụng nhiên liệu hóa thạch, phát thải khí nhà kính… đã làm mất cân bằng tự nhiên. Nói cách khác, chúng ta đang trả giá cho chính lối sống thiếu bền vững của mình. Vì vậy, giải pháp căn cốt phải bắt đầu từ thay đổi nhận thức và hành động của từng cá nhân, cộng đồng và chính phủ.


Trong bối cảnh ấy, mỗi người cần ý thức rõ vai trò của mình trong việc bảo vệ môi trường: tiết kiệm năng lượng, hạn chế rác thải nhựa, sử dụng phương tiện xanh, trồng và bảo vệ cây xanh… Đồng thời, các quốc gia phải hợp tác chặt chẽ, tuân thủ các cam kết giảm phát thải, phát triển năng lượng tái tạo và xây dựng lối sống bền vững. Việt Nam – một trong những nước chịu ảnh hưởng nặng nề của biến đổi khí hậu – càng cần hành động mạnh mẽ hơn để bảo vệ tương lai cho thế hệ mai sau.


Nhận định của Barack Obama vừa là lời cảnh báo, vừa là lời thúc giục. Biến đổi khí hậu thực sự là thách thức lớn nhất, nhưng nếu nhân loại đoàn kết, nỗ lực và hành động kịp thời, chúng ta vẫn có thể bảo vệ trái đất – ngôi nhà chung duy nhất của mình. Quan trọng hơn cả, mỗi người phải hiểu rằng: bảo vệ môi trường chính là bảo vệ sự sống của chính chúng ta.

1.
Phương thức biểu đạt chính là nghị luận
2.
Người viết thể hiện cảm giác bâng khuâng, lạc lõng, và suy tư sâu sắc trước dòng "Tràng giang" hay dòng đời.

3.

Trong phần 1 của văn bản, tác giả Huy Cận đã tái tạo cái tĩnh vắng mênh mông bằng cách phối hợp bút pháp cổ điển và hiện đại để thể hiện nỗi buồn cô đơn, khắc khoải của cái tôi cá nhân trước vũ trụ rộng lớn, khác với thơ xưa chỉ thường dùng cảnh để gợi tâm trạng buồn sầu chung chung. Cụ thể, ông đã sử dụng những hình ảnh quen thuộc (sóng, thuyền, cồn nhỏ) nhưng làm mới bằng cách đảo ngược giá trị và tạo sự tương phản để nhấn mạnh sự nhỏ nhoi, hiu quạnh, vô định và cô độc của con người giữa không gian bao la.

4.

Trong phần 2 của bài thơ, tác giả đã phân tích các yếu tố ngôn ngữ như từ láy (điệp điệp, song song), cấu trúc câu (cặp câu tương xứng, cấu trúc trùng điệp) và cụm từ chỉ sự nối dài (hàng nối hàng) để làm sáng tỏ nhịp chảy trôi miên viễn của dòng sông Tràng Giang.

5.

Đặc điểm ấn tượng nhất là sự kết hợp độc đáo giữa vẻ đẹp cổ điển và hiện đại, cùng với việc thể hiện tình yêu quê hương sâu sắc của tác giả.

Câu 1 :
        Nguyễn Trãi, một bậc đại thần kiệt xuất thời Lê sơ, đã thể hiện nghệ thuật lập luận sắc sảo trong Chiếu cầu hiền tài nhằm kêu gọi nhân tài cống hiến cho triều đình. Trước hết, ông mở đầu bằng cách khẳng định vai trò to lớn của hiền tài đối với quốc gia, nhấn mạnh rằng “hiền tài là nguyên khí của quốc gia”, nếu có nhân tài, đất nước sẽ hưng thịnh, còn nếu không, vận nước suy yếu. Đây là cách lập luận dựa trên chân lý hiển nhiên, dễ dàng thuyết phục người đọc.Tiếp theo, Nguyễn Trãi sử dụng lý lẽ kết hợp với thực tiễn lịch sử, nêu lên những tấm gương bậc hiền tài được trọng dụng trong các triều đại trước, từ đó khẳng định chính sách cầu hiền là truyền thống quan trọng của dân tộc. Ông cũng khéo léo đưa ra những lời lẽ khiêm nhường, thể hiện sự trân trọng đối với kẻ sĩ, đồng thời nhấn mạnh tấm lòng chân thành của vua Lê Thái Tổ. Cuối cùng, bằng giọng điệu chân thành, khẩn thiết, ông không chỉ kêu gọi mà còn tạo niềm tin cho các bậc hiền tài, giúp họ yên tâm cống hiến. Nhờ nghệ thuật lập luận chặt chẽ, lời văn thuyết phục, Chiếu cầu hiền tài đã thể hiện được tầm nhìn sâu rộng và tài năng chính trị của Nguyễn Trãi.
Câu 2 :
       Chủ tịch Hồ Chí Minh từng thể hiện sự nhận thức sâu sắc về vai trò của thế hệ trẻ trong quá trình xây dựng đất nước bằng câu nói: "Sự tươi đẹp của non sông Việt Nam, khả năng cạnh tranh với các cường quốc trên thế giới, và cả sự phát triển của đất nước chúng ta đều dựa vào phần lớn vào việc học tập và phấn đấu của các bạn trẻ." Thế hệ trẻ được xem là trụ cột quan trọng để đưa Việt Nam vươn lên trở thành một đất nước mạnh mẽ và phồn thịnh trên trường quốc tế.
      Tuy nhiên, ngày nay, chúng ta đang đối mặt với một thực tế đáng buồn, đó là sự "chảy máu chất xám." Đơn giản, đây là hiện tượng khi một số lượng lớn các nhân tài trẻ và trí thức của Việt Nam quyết định định cư, làm việc tại nước ngoài thay vì quay về đóng góp cho quê hương. "Chất xám" ở đây đại diện cho trí tuệ, sự sáng tạo và năng lực của con người.
      Rất nhiều bạn trẻ và những tài năng xuất sắc của Việt Nam sau khi học tập ở nước ngoài quyết định ở lại đóng góp tài năng và sáng tạo để tạo ra giá trị vật chất cho cộng đồng nơi họ đang sinh sống, thay vì trở về quê hương. Tình trạng này dẫn đến sự "thất thoát" của những nguồn nhân lực xuất sắc và ảnh hưởng đến quá trình xây dựng và phát triển đất nước.
      Nguyên nhân của tình trạng chảy máu chất xám có thể được phân tích từ hai góc độ: góc độ cá nhân và góc độ cơ cấu xã hội. Từ góc độ cá nhân, nhiều người trẻ thích hưởng lợi từ môi trường làm việc tốt hơn và thu nhập cao hơn ở nước ngoài. Từ góc độ cơ cấu xã hội, Việt Nam vẫn đang phải đối mặt với sự phát triển kém cỏi so với các quốc gia tiên tiến, thiếu điều kiện và chế độ đãi ngộ không thực sự thúc đẩy sự phát triển của tài năng trong nước. Để giải quyết vấn đề này, chúng ta cần phải thực hiện các biện pháp như thu hút và giữ chân tài năng, tạo điều kiện làm việc hấp dẫn cho họ.
       Bên cạnh đó, mỗi cá nhân cũng cần phát huy tình yêu đối với đất nước và tinh thần dân tộc, sẵn sàng đóng góp khả năng và sức lực để đưa Việt Nam tiến bước phía trước, thực hiện lời dạy của Bác Hồ và góp phần vào sự phát triển giàu đẹp của đất nước.

loading...   

Câu 2 : 

Nguyễn Trãi là đại thi hào dân tộc, là danh nhân văn hóa của Đại Việt, đồng thời ông còn là tác giả áng thiên cổ hùng văn "Bình ngô đại cáo". Ngoài ngòi bút sắc bén, lập luận đanh thép với dẫn chứng thuyết phục trong những áng văn chính luận, ta còn bắt gặp một Nguyễn Trãi với phong thái nhàn tản, giao cảm hòa hợp cùng thiên nhiên trong "Bảo kính cảnh giới 43". Không chỉ mang chất trữ tình sâu sắc, bài thơ chứa đựng cả nội dung mang tính giáo huấn người đời, ngời sáng tâm hồn lí tưởng của bậc thi sĩ lớn Ức Trai.

Trước hết, bài thơ thể hiện tình yêu cũng như tâm hồn tinh tế và sự giao cảm mạnh mẽ đối với thiên nhiên của tác giả Nguyễn Trãi. Nhân vật trữ tình xuất hiện trong phong thái ung dung tự tại: "Rồi hóng mát thuở ngày trường". Như chúng ta đã biết, Nguyễn Trãi là nhà thơ nặng lòng với thiên nhiên và luôn mở lòng với thiên nhiên trong mọi hoàn cảnh, nhưng khoảnh khắc rảnh rỗi vào một ngày khí trời mát mẻ, trong lành thì quả là hiếm hoi. Nếu người xưa thường thiên về vịnh cảnh thì Nguyễn Trãi lại vận dụng bút pháp tả. Và rồi bằng sự quan sát tinh tế của nhân vật trữ tình, bức tranh thiên nhiên đầy sức sống đã hiện lên:

 

"Rồi hóng mát thuở ngày trường

Hòe lục đùn đùn tán rợp giương

Thạch lựu hiên còn phun thức đỏ

Hồng liên trì đã tiễn mùi hương"

Những sắc màu của cảnh vật hiện lên trong sự giao hòa: Màu lục của lá hòe cùng màu đỏ của hoa thạch lựu đan cài vào nhau trong ánh mặt trời buổi chiều. Đặc biệt hơn, cảnh vật được miêu tả trong sự chuyển động tạo nên một bức tranh căng tràn sức sống. Tác giả đã sử dụng những động từ mạnh: "đùn đùn", "trương", "phun" gợi nên sự tràn đầy và sức sống từ nội tại đang ứa căng và không kìm lại được và phải bộc phát ra bên ngoài. Đại thi hào Nguyễn Du cũng đã từng miêu tả cảnh sắc mùa hè bằng sắc hoa lựu: "Đầu tường lửa lựu lập lòe đơm bông" (trích "Truyện Kiều"). Với từ "lập lòe", tác giả Nguyễn Du đã tạo nên sự độc đáo trong việc tạo hình sắc, còn Nguyễn Trãi lại nhấn mạnh sức sống của cảnh vật, thể hiện rõ cái nhìn tinh tế đối với cảnh vật của hai thi sĩ tài ba. Thi nhân đã vận dụng nhiều giác quan: thị giác, thính giác và khứu giác kết hợp cùng trí tưởng tượng phong phú để đón nhận vẻ đẹp của thiên nhiên, cho thấy sự giao cảm mạnh mẽ nhưng vô cùng tinh tế của Ức Trai đối với cảnh vật.

 

Không chỉ dừng lại ở đó, bên cạnh màu sắc tác giả còn tô điểm cho bức tranh thiên nhiên âm thanh, đường nét hệt như một người họa sĩ tài ba tạo nên một kiệt tác có hồn của tạo vật. "Thạch lựu hiên còn phun thức đỏ" với sự kết hợp của động từ "phun" và "thức"- màu vẻ, dáng vẻ, câu thơ đã diễn tả thành công cái hồn và thần thái của cảnh vật. Cảnh vật mùa hè còn được miêu tả qua hình ảnh rất đặc trưng: Đóa sen trong ao đã tỏa hương thơm ngát, tạo nên một bức tranh hài hòa về màu sắc và hương vị.

Bài thơ còn khắc họa bức chân dung của một con người luôn hết lòng vì dân, vì nước. Mặc dù đang hòa mình đắm say trong vẻ đẹp sinh động, đáng yêu và tràn trề sức sống của thiên nhiên nhưng tác giả vẫn hướng đôi mắt quan sát của mình đến cuộc sống của con người:

"Lao xao chợ cá làng ngư phủ

Dắng dỏi cầm ve lầu tịch dương"

Bức tranh mùa hè được bổ sung thêm những nét vẽ về cuộc sống của con người với thanh âm của "lao xao" của chợ cá tại một làng chài ven sông cùng tiếng dắng dỏi của cầm ve. Cuộc sống yên vui, no đủ của người dân đã gợi lên trong lòng tác giả một mong ước hết sức cao đẹp:

 

"Dẽ có Ngu Cầm đàn một tiếng

Dân giàu đủ, khắp đòi phương"

Tác giả mong ước có được chiếc đàn của vua Thuấn để gảy nên khúc Nam Phong ca ngợi đời sống ấm no hạnh phúc của nhân dân. Câu thơ kết thúc bài được kiến tạo theo cách ngắt nhịp 3/3, thể hiện rõ sự rồn nén cảm xúc của bài thơ. Mở đầu bằng bức tranh thiên nhiên giàu hình ảnh, màu sắc, hình khối, đường nét nhưng kết thúc bằng câu thơ nói về con người cho thấy điểm kết mà tác giả muốn hướng đến không phải ở thiên nhiên tạo vật mà chính ở con người. Điều này đã thể hiện rõ tâm hồn hết sức cao cả và vĩ đại của Nguyễn Trãi- vị anh hùng dân tộc luôn mong muốn cho dân được ấm no, hạnh phúc.

Như vậy, thông qua bài thơ, chúng ta có thể thấy được tình yêu cùng sự giao hòa đối với thiên nhiên của tác giả, giống như ông đã từng bộc bạch: "Non nước cùng ta đã có duyên" ("Tự thán"- bài 4). Là một thi sĩ, ông đến với thiên nhiên trong mọi hoàn cảnh nhưng cuối cùng, tâm hồn của ông vẫn hướng đến nhân dân, đến đất nước. Qua lời tâm sự và mong ước về cuộc sống của nhân dân, độc giả có thể thấy được tâm hồn và lí tưởng cao đẹp của tác giả Nguyễn Trãi. Tình yêu thiên nhiên, tạo vật đã quyện hòa và làm ngời sáng hơn nữa tình yêu đối với đất nước, nhân dân