Quách Anh Tuấn

Giới thiệu về bản thân

Chào mừng bạn đến với trang cá nhân của Quách Anh Tuấn
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
(Thường được cập nhật sau 1 giờ!)

Câu 1.


Đoạn trích sử dụng phương thức biểu đạt chính là biểu cảm, kết hợp với tự sự , miêu tả và nghị luận trữ tình


Câu 2.


Những kiếp người xuất hiện trong đoạn trích:




Người lính bị bắt đi lính, chết nơi chiến trận.

Những nạn nhân chiến tranh chết oan uổng.

Người phụ nữ lỡ làng, buôn nguyệt bán hoa.

Người đàn bà chịu nhiều đau khổ, chết trong cô độc.

Người hành khất, sống nhờ người đời, chết vùi nơi đường sá.



Câu 3.


Từ láy “lập lòe” gợi ánh lửa lúc tỏ lúc mờ, tạo cảm giác rờn rợn, hoang lạnh của thế giới âm linh.


Từ láy “văng vẳng” gợi âm thanh xa xôi, day dứt, như tiếng kêu oan không dứt.


→ Hai từ láy làm tăng giá trị biểu cảm, khắc sâu nỗi đau thương, thê lương của những linh hồn bất hạnh.


Câu 4.




Chủ đề: Thương xót, cảm thông sâu sắc cho những kiếp người bất hạnh, chết oan khuất trong xã hội cũ.

Cảm hứng chủ đạo: Cảm hứng nhân đạo, chan chứa lòng từ bi, thương người của Nguyễn Du.



Câu 5.


Từ cảm hứng nhân đạo của đoạn trích, có thể thấy truyền thống dân tộc ta luôn đề cao tình thương và lòng nhân ái. Người Việt biết xót xa cho nỗi đau của đồng loại, dù sống hay đã khuất. Chính tinh thần “thương người như thể thương thân” đã tạo nên sức mạnh đạo đức bền vững của dân tộc. Ngày nay, truyền thống ấy vẫn cần được gìn giữ và lan tỏa bằng những hành động sẻ chia thiết thực trong cuộc sống.

câu1

Văn bản được kể theo ngôi thứ ba

câu2

Điểm nhìn:điểm nhìn của nhân vật Thứ – người đang trực tiếp cảm nhận, suy nghĩ, và dằn vặt trong hoàn cảnh khốn khổ của mình

câu3

Nước mắt của Thứ ứa ra vì:

-Thứ cảm thấy xót xa, đau đớn cho cảnh nghèo túng, khổ cực của gia đình: mẹ già, vợ, con, các em đều phải nhịn đói.

-Thứ cảm thấy tội lỗi, thẹn thùng khi phải ăn một mình trong khi những người thân yêu đang đói khát.

-Thứ nhận ra sự bất công, vô lý của xã hội: những người chịu khổ thì cứ khổ mãi, còn những kẻ không lao động lại được hưởng thụ.

-Giây phút ấy là cao trào của sự thức tỉnh nhân cách, cho thấy Thứ vẫn còn tình thương, nhân tính và lòng trắc ẩn dù đang bị cuộc đời làm cho “sống mòn”

câu4

Thông qua nhân vật Thứ, Nam Cao đã phản ánh:

-Thực trạng bi đát của tầng lớp trí thức nghèo trong xã hội thực dân – phong kiến cũ: bị đói nghèo, bổn phận, và những ràng buộc cơm áo làm cho tàn lụi cả ước mơ, nhân cách, và khát vọng sống.

-Bi kịch tinh thần của con người có học, có nhân cách nhưng bất lực trước hoàn cảnh, dần bị “sống mòn” trong sự tù túng, chán nản.

-Đồng thời, nhà văn thể hiện tấm lòng nhân đạo sâu sắc: cảm thương cho những kiếp người nghèo khổ, trân trọng phẩm chất lương thiện và khát vọng sống có ý nghĩa trong họ.

câu1

văn bản thuộc thể loại kí

câu2

Văn bản ghi chép lại chuyến trải nghiệm thực tế của của nhân vật tôi khi đi kéo xe thuê ở Hà Nội

câu3

Biện pháp tu từ: So sánh (“ruột như vặn từ dưới rốn đưa lên”, “cổ như cái ống gang”).

Tác dụng:

Diễn tả chân thực và sinh động cảm giác đau đớn, mệt mỏi, kiệt sức của nhân vật “tôi” khi kéo xe.

Làm nổi bật sự khổ cực, nặng nhọc, gần như phi nhân tính của công việc phu kéo xe.

Qua đó, thể hiện tấm lòng cảm thông sâu sắc của tác giả đối với những người lao động nghèo khổ

câu4

Chi tiết gây ấn tượng nhất với tôi là “Tôi thấy tôi không phải là người nữa, chỉ là một cái… nồi sốt de.”

→ Bởi vì hình ảnh so sánh này rất mạnh mẽ, diễn tả cảm giác toàn thân như bốc hơi, nóng rát, kiệt quệ hoàn toàn của người kéo xe.

→ Qua đó, người đọc cảm nhận sâu sắc sự tàn nhẫn của công việc, và thân phận khổ cực, bị vắt kiệt sức của người lao động nghèo thời bấy giói

câu5

Qua văn bản, tác giả thể hiện:

Niềm cảm thông sâu sắc đối với những người phu xe nghèo khổ, bị áp bức.

Thái độ lên án, tố cáo xã hội thực dân phong kiến bất công, nơi con người bị bóc lột sức lao động đến kiệt quệ.

Đồng thời, thể hiện ý thức nhân đạo và trách nhiệm xã hội của người cầm bút, muốn dùng ngòi bút để nói lên tiếng nói của người cùng khổ

Văn bản “Cái đẹp trong truyện ngắn Muối của rừng của Nguyễn Huy Thiệp” có tính thuyết phục cao nhờ hệ thống luận điểm rõ ràng, lập luận chặt chẽ và cảm xúc chân thành. Tác giả triển khai bài viết theo trình tự hợp lý, từ sự thức tỉnh trước vẻ đẹp thiên nhiên đến sự hướng thiện và hòa hợp giữa con người với thiên nhiên, qua đó làm sáng tỏ tư tưởng “cái đẹp gắn liền với cái thiện”. Các dẫn chứng được chọn lọc từ chính truyện ngắn “Muối của rừng” như cảnh ông Diểu bắn khỉ, rồi sám hối và phóng sinh, giúp bài viết có cơ sở xác thực, tăng sức thuyết phục. Giọng văn vừa phân tích, vừa bộc lộ cảm xúc trân trọng thiên nhiên, yêu mến con người, khiến người đọc dễ đồng cảm và tin tưởng. Bên cạnh đó, việc sử dụng các biện pháp nghệ thuật như so sánh, đối lập, liệt kê đã làm nổi bật sự chuyển biến trong tâm hồn nhân vật và tư tưởng nhân văn của Nguyễn Huy Thiệp. Nhờ kết hợp hài hòa giữa lí lẽ, dẫn chứng và cảm xúc, văn bản không chỉ thuyết phục về mặt nhận thức mà còn chạm tới cảm xúc, giúp người đọc nhận ra giá trị của cái đẹp và ý nghĩa của lòng hướng thiện trong cuộc sống

c1 Luận đề: Vẻ đẹp trong truyện “Muối của rừng” được thể hiện qua thiên nhiên, hướng thiện và hài hòa con người – thiên nhiên.

c2,Câu khẳng định: “Rõ ràng cái đẹp của thiên nhiên…”

c3,Nhan đề phù hợp, bao quát nội dung nghị luận.

c4,Biện pháp liệt kê làm nổi bật sự phong phú của thiên nhiên và đối lập với hành động con người, tạo hiệu quả thức tỉnh.

c5,Mục đích: phân tích vẻ đẹp và giá trị nhân văn; Quan điểm: đề cao cái đẹp, cái thiện; Tình cảm: yêu thiên nhiên, tin vào con người.