Nguyễn Thảo My
Giới thiệu về bản thân
- Quần thể A (Loại bỏ kiểu hình trội - A−cap A minus𝐴−):+Môi trường loại bỏ cả kiểu gene AA và Aa .
- Chỉ các cá thể đồng hợp lặn ( aa) được sống sót và sinh sản.
- Kết quả: Tần số kiểu gene trội ( A) giảm rất nhanh, allele trội ( A) có thể bị loại bỏ khỏi quần thể nhanh chóng chỉ sau vài thế hệ.
- Quần thể B (Loại bỏ kiểu hình lặn - aa ):
- Môi trường chỉ loại bỏ kiểu gene aa
- Các cá thể dị hợp ( Aa) vẫn tồn tại và mang allele lặn ( a) trong bộ gene.
- Kết quả: Quá trình loại bỏ allele lặn ( a) diễn ra chậm hơn nhiều vì nó ẩn trong các cá thể dị hợp Aacap A a𝐴𝑎, không bị chọn lọc tác động trực tiếp.
Sự sống trên Trái Đất hình thành qua tiến hóa hóa học → tiến hóa tiền sinh học → tiến hóa sinh học, từ vật chất vô cơ đến sinh vật phức tạp.
Sự sống trên Trái Đất hình thành qua tiến hóa hóa học → tiến hóa tiền sinh học → tiến hóa sinh học, từ vật chất vô cơ đến sinh vật phức tạp.
Câu 1.
-Đoạn trích sử dụng các phương thức biểu đạt chính: biểu cảm (bộc lộ niềm xót thương sâu sắc), tự sự (kể về những số phận, kiếp người khác nhau), kết hợp với miêu tả (khắc họa cảnh ngộ, âm thanh, hình ảnh thê lương).
Câu 2.
-Những kiếp người xuất hiện trong đoạn trích:
+Người lính ra trận, chết nơi chiến địa.
+Người đi lính, làm quan xa nhà, chịu cảnh gian nan.
+Người phụ nữ lỡ làng, buôn nguyệt bán hoa.
+Người đàn bà chịu nhiều phiền não, chết trong cô độc.
+Kẻ hành khất, sống lang thang, chết vùi nơi đường sá.
Câu 3.
Các từ láy “lập lòe”, “văng vẳng” gợi ra những hình ảnh và âm thanh mờ ảo, đứt quãng, ma mị. Chúng làm nổi bật không khí âm u, thê lương của cõi âm, đồng thời diễn tả nỗi oan khuất, đau đớn kéo dài, ám ảnh, qua đó thể hiện sâu sắc niềm xót thương của tác giả đối với những linh hồn bất hạnh.
Câu 4.
-Chủ đề: Cảm thương, chiêu gọi và an ủi những kiếp người đau khổ, bất hạnh trong xã hội cũ.
-Cảm hứng chủ đạo: Cảm hứng nhân đạo, xót thương sâu sắc trước nỗi đau của con người, bất kể họ là ai, sống ở địa vị nào.
Câu 5
Cảm hứng nhân đạo trong đoạn trích cho thấy truyền thống nhân ái sâu sắc của dân tộc Việt Nam. Từ bao đời nay, ông cha ta luôn biết yêu thương, cảm thông và chia sẻ với những số phận bất hạnh trong cuộc sống. Tình thương ấy không phân biệt giàu nghèo, địa vị hay thân phận. Đó chính là giá trị tinh thần bền vững, làm nên vẻ đẹp tâm hồn của con người Việt Nam. Truyền thống ấy vẫn cần được gìn giữ và phát huy trong cuộc sống hôm nay.
.
Câu 1.
- Văn bản thuộc thể loại kí sự (bút kí).
Câu 2.
Văn bản ghi chép về trải nghiệm thực tế của tác giả – một nhà báo vào vai người kéo xe để viết bài – trong lần đầu tiên kéo xe thuê trên phố Hà Nội, từ Đồn Thủy lên Yên Phụ. Qua đó, tác giả tái hiện lại sự vất vả, đau đớn về thể xác và sự tủi nhục về tinh thần của người phu kéo xe trong xã hội thực dân nửa phong kiến.
Câu 3.
-Xác định và phân tích tác dụng của những biện pháp tu từ được sử dụng trong câu:
"Ruột thì như vặn từ dưới rốn đưa lên, cổ thì nóng như cái ống gang, đưa hơi lửa ra không kịp."
-Biện pháp tu từ:
+ So sánh: “ruột như vặn từ dưới rốn đưa lên”, “cổ như cái ống gang”.
+ Ẩn dụ: “đưa hơi lửa ra không kịp” ám chỉ sự nóng rát, ngột ngạt khi phải gắng sức quá mức.
-Tác dụng:
+Nhấn mạnh cảm giác đau đớn, kiệt sức đến cùng cực của người kéo xe.
+ Gợi tả cụ thể và sinh động sự vật vã về thể chất, khiến người đọc cảm nhận được nỗi thống khổ tận cùng của những thân phận lao động dưới đáy xã hội.
+ Góp phần phơi bày sự tàn nhẫn của xã hội thực dân khi đẩy con người vào cảnh sống khốn cùng, phi nhân đạo.
Câu 4. Chi tiết nào trong văn bản gây ấn tượng nhất với anh/chị? Vì sao?
Trả lời:
Chi tiết gây ấn tượng nhất là:
"Rồi tôi thấy tôi không phải là người nữa, chỉ là một cái... nồi sốt de."
Vì :+Hình ảnh "nồi sốt de" (nồi hơi) là một ẩn dụ rất độc đáo và mạnh mẽ, cho thấy cơ thể tác giả như đang bốc hơi, bị nén chặt đến cực độ, không còn cảm giác của một con người bình thường.
+Câu văn bộc lộ sự tan biến nhân tính, sự vật hóa con người – một thân phận bị bóc lột đến cùng cực.Tác giả đã không chỉ kể chuyện mà còn chạm đến cảm xúc và lương tri của người đọc bằng hình ảnh đầy ám ảnh này.