Hoàng Trung Kiên
Giới thiệu về bản thân
Tiến hoá hoá học hình thành các chất hữu cơ => Tiến hoá tiền sinh học => Tiến hoá sinh học
a
Mỗi môi trường có điều kiện khác nhau (nhiệt độ, độ ẩm, thức ăn, kẻ thù, ánh sáng…), nên đặc điểm có lợi ở môi trường này có thể bất lợi ở môi trường khác.
Thích nghi luôn mang tính tương đối, không phải tuyệt đối. Sinh vật chỉ thích nghi tốt trong môi trường sống cụ thể mà nó đang chịu tác động.
Nguồn biến dị là có hạn, và các đặc điểm sinh học thường phải “đánh đổi” (ví dụ: thích nghi với lạnh thì khó chịu được nóng).
Chọn lọc tự nhiên chỉ chọn cái có lợi trước mắt, không hướng tới việc tạo ra sinh vật “toàn năng
b
- Hình thành loài bằng con đường địa lí (cách li địa lí)
- Quần thể bị chia cắt bởi núi, sông, biển…
- Dưới tác động của đột biến, chọn lọc tự nhiên, các quần thể tiến hóa khác nhau → xuất hiện cách li sinh sản → loài mới.
- Hình thành loài không qua cách li địa lí (cách li sinh thái)
- Các quần thể sống cùng khu vực nhưng khai thác ổ sinh thái khác nhau (thức ăn, thời gian sinh sản…)
- Dần dần dẫn đến cách li sinh sản → loài mới.
- Hình thành loài bằng lai xa và đa bội hóa (chủ yếu ở thực vật)
- Lai giữa các loài khác nhau, sau đó tăng số bộ nhiễm sắc thể
- Tạo loài mới có khả năng sinh sản hữu tính ổn định.
a
Mỗi môi trường có điều kiện khác nhau (nhiệt độ, độ ẩm, thức ăn, kẻ thù, ánh sáng…), nên đặc điểm có lợi ở môi trường này có thể bất lợi ở môi trường khác.
Thích nghi luôn mang tính tương đối, không phải tuyệt đối. Sinh vật chỉ thích nghi tốt trong môi trường sống cụ thể mà nó đang chịu tác động.
Nguồn biến dị là có hạn, và các đặc điểm sinh học thường phải “đánh đổi” (ví dụ: thích nghi với lạnh thì khó chịu được nóng).
Chọn lọc tự nhiên chỉ chọn cái có lợi trước mắt, không hướng tới việc tạo ra sinh vật “toàn năng
b
- Hình thành loài bằng con đường địa lí (cách li địa lí)
- Quần thể bị chia cắt bởi núi, sông, biển…
- Dưới tác động của đột biến, chọn lọc tự nhiên, các quần thể tiến hóa khác nhau → xuất hiện cách li sinh sản → loài mới.
- Hình thành loài không qua cách li địa lí (cách li sinh thái)
- Các quần thể sống cùng khu vực nhưng khai thác ổ sinh thái khác nhau (thức ăn, thời gian sinh sản…)
- Dần dần dẫn đến cách li sinh sản → loài mới.
- Hình thành loài bằng lai xa và đa bội hóa (chủ yếu ở thực vật)
- Lai giữa các loài khác nhau, sau đó tăng số bộ nhiễm sắc thể
- Tạo loài mới có khả năng sinh sản hữu tính ổn định.
câu 1
Đoạn trích sử dụng các phương thức biểu đạt chủ yếu là biểu cảm .than thương, xót xa cho các kiếp người.
câu 2
Những kiếp người xuất hiện trong đoạn trích:Người lính bị bắt đi lính, chết nơi chiến trận.Người phụ nữ lỡ làng, buôn nguyệt bán hoa.Người đàn bà sống khổ đau, chết không nơi nương tựa.Kẻ hành khất, sống lang thang, chết vùi nơi đường sá.
câu 3
Từ láy “lập lòe”, “văng vẳng” gợi cảm giác mờ ảo, chập chờn, xa xăm. Chúng làm nổi bật không khí âm u, rờn rợn của cõi âm, đồng thời diễn tả nỗi oan khuất, đau thương dai dẳng, ám ảnh, qua đó tăng sức gợi cảm và giá trị biểu cảm cho đoạn thơ.
câu 4
Chủ đề:
Đoạn trích thể hiện tiếng khóc thương cho những kiếp người bất hạnh, bị vùi dập trong xã hội cũ, chết oan khuất và không nơi nương tựa.
Cảm hứng chủ đạo:
Cảm hứng nhân đạo sâu sắc, xuất phát từ tấm lòng xót thương, cảm thông chân thành của Nguyễn Du đối với mọi số phận con người đau khổ.
câu 5
Đoạn trích cho thấy truyền thống nhân đạo bền vững của dân tộc Việt Nam: luôn biết yêu thương, cảm thông với con người, nhất là những số phận khổ đau, bé nhỏ. Dù sống hay đã chết, con người vẫn được trân trọng và sẻ chia. Truyền thống ấy nhắc nhở mỗi chúng ta hôm nay phải biết sống nhân ái, bao dung, không thờ ơ trước nỗi đau của đồng loại. Đây chính là giá trị tinh thần cao đẹp đã nuôi dưỡng tâm hồn dân tộc qua bao thế hệ.
câu 1 ngôi thứ 3
câu 2 Điểm nhìn trong đoạn trích là điểm nhìn từ nhân vật ông giáo Thứ. Mặc dù người kể là ngôi thứ ba, nhưng toàn bộ cảm xúc, suy nghĩ, cảm nhận đều đi theo tâm trạng và góc nhìn của nhân vật Thứ
tác dụng : Giúp người đọc thấu hiểu sâu sắc tâm trạng, nỗi khổ, sự dằn vặt và suy tư của nhân vật tạo nên tính chân thực, gần gũi, khơi gợi sự đồng cảm với thân phận con người trong xã hội cũ.Thể hiện rõ những mâu thuẫn nội tâm, bi kịch tinh thần của một trí thức nghèo trong xã hội bế tắc
câu 3 Nỗi đau xót và ân hận: Thứ nhận ra mình đang được ăn trong khi người thân mẹ, vợ, em, con đều đói khổ, nhịn ăn, không dám ăn. Anh cảm thấy mình không xứng đáng được hưởng phần ăn ấy.Cảm giác bất công, nghịch lý: Anh nhận ra một nghịch lý cay đắng trong xã hội: kẻ cần ăn thì không có, kẻ không cần lại được hưởng. Chính anh cũng đang nằm trong nghịch lý đó.Bi kịch tinh thần sâu sắc: Là người có học, có lương tri, Thứ luôn sống trong day dứt, giằng xé nội tâm, không cam tâm với sự thật phũ phàng ấy nhưng cũng không thể thay đổi được gì.Tình yêu thương và bất lực anh yêu thương gia đình, muốn nhường cơm cho họ nhưng lại không thể làm gì hơn ngoài việc lặng lẽ ngồi ăn một cách tủi hổ và uất nghẹn
câu 4 thông qua nhân vật Ông giáo Thứ nhà văn muốn phản ánh rằng : Bi kịch của tầng lớp trí thức nghèo trong xã hội cũ sống mòn mỏi, quẩn quanh, không lối thoát, dù có học thức nhưng bị nghèo đói vây hãm, không thể sống đúng với lý tưởng hay giá trị tinh thần.Tình cảnh xã hội bất công và khắc nghiệt. Những người cần được sống tốt trẻ em, người lao động, người già yếu thì đói khổ trong khi một số người khác lại sống sung sướng mà không phải lao động hay xứng đáng.Nỗi đau nhân đạo và giá trị nhân văn sâu sắc: Nam Cao thể hiện sự đồng cảm với những con người sống lương thiện, luôn cố gắng sống đúng đạo lý trong hoàn cảnh nghèo khổ, bóp nghẹt cả thể xác lẫn tinh thần.Hiện thực tàn nhẫn và thân phận con người nhỏ bé: Cuộc đời Thứ cũng là cuộc đời của biết bao người dân nghèo, lương thiện, sống lay lắt, mòn mỏi trong cái xã hội bế tắc, ngột ngạt ấy
câu 1 ký sự
câu 2 trải nghiệm của tác giả khi làm phụ kéo xe ở Hà Nội
câu 3 làm nổi bật sự kiệt sức, cạn kiệt sức lực của nhân vật. Cảm giác đau đớn được mô tả thật sinh động, khiến người đọc cảm nhận được sự khổ cực mà một phu xe phải chịu đựng. Đồng thời, biện pháp này còn thể hiện sự cạn kiệt sức sống, như thể thân thể của người phu xe bị "vặn" và "nóng" lên đến mức không thể chịu nổi
câu 4 hình ảnh ấn tượng nhất là '' ruột thì như văn tự dưới rốn đưa lên, cổ thì nóng như cái ống gang, đưa hơi lửa ra không kịp'' Cảm giác mệt mỏi, đau đớn được mô tả rất chi tiết và chân thật không chỉ là sự mệt mỏi thể xác mà còn là sự bế tắc về mặt tinh thần. Hình ảnh cơ thể như một cái máy không thể điều khiển được khiến tôi cảm nhận sâu sắc sự tàn phá của công việc nặng nhọc này đối với con người. Câu văn cũng mang đến một sự tương phản rõ nét giữa sự sống và cái chết, thể hiện rất rõ sự khổ cực của những người lao động nghèo
câu 5 Thông qua những hình ảnh mạnh mẽ và sinh động, tác giả muốn phản ánh sự bất công trong xã hội, nơi những người lao động phải chịu đựng sự dày vò về cả thể xác và tinh thần. Nhân vật "tôi" cũng tự nhận thức về thân phận của mình khi làm nghề này, đó là một sự hy sinh không hề mong đợi, là cúi đầu dưới sự sai khiến của chiếc xe, của xã hội