Ngô Đình Hào
Giới thiệu về bản thân
C1.
Trong nền thơ ca hiện đại Việt Nam, miền Trung luôn là nguồn cảm hứng lớn đối với nhiều nhà thơ bởi nơi đây không chỉ là vùng đất giàu truyền thống mà còn hứng chịu biết bao thiên tai, khắc nghiệt. Trong bài thơ Miền Trung, nhà thơ đã dành những lời thơ tha thiết và xúc động để ngợi ca vẻ đẹp thiên nhiên và phẩm chất con người nơi đây, đặc biệt là qua hai khổ thơ cuối giàu hình ảnh và cảm xúc. Hình ảnh “miền Trung mọc lên từ gian khó bao đời” là cách nói đầy biểu cảm, gợi lên một vùng đất luôn oằn mình chống chọi với thiên tai, nắng gió, nhưng vẫn kiên cường vươn lên. Chính thiên nhiên khắc nghiệt ấy đã tôi luyện nên những con người “tràn căng sinh lực”, “hào khí ngất trời”- những chàng trai, cô gái mang trong mình sức sống mãnh liệt và tinh thần bất khuất. Câu hỏi tu từ “ai đó có miền Trung trong máu?” nhấn mạnh vẻ đẹp kiên cường, như cây cỏ vẫn bám trụ giữa gió cát mặn mòi. Đặc biệt, hình ảnh “điệu ví dặm che cánh đồng khô khát” hay “biển ngóng chân trời” không chỉ gợi nỗi nhớ, nỗi khát khao mà còn thể hiện chiều sâu tâm hồn và đời sống văn hóa phong phú của con người nơi đây. Qua đó, nhà thơ đã thể hiện lòng tri ân, ngợi ca một miền đất vừa dữ dội vừa dịu dàng - nơi sinh ra những con người kiên cường, thủy chung đến lạ thường.
C2.
Trong thời đại cách mạng công nghiệp 4.0, thế giới ngày càng trở nên phẳng hơn, khoảng cách giữa các nền văn hóa bị thu hẹp lại nhờ sự phát triển mạnh mẽ của mạng xã hội và truyền thông số. Trong bối cảnh ấy, bản sắc văn hóa dân tộc những giá trị tinh thần cốt lõi hình thành nên tâm hồn một dân tộc - vừa có cơ hội được lan tỏa, lại vừa đứng trước nguy cơ bị lu mờ nếu không có sự gìn giữ và phát huy đúng cách. Chính vì thế, người trẻ ngày nay mang trong mình một sứ mệnh đặc biệt: giữ gìn, làm mới và lan tỏa bản sắc văn hóa dân tộc trong dòng chảy hiện đại.
Bản sắc văn hóa dân tộc là những giá trị tinh thần bền vững được đúc kết qua hàng nghìn năm: từ ngôn ngữ, trang phục, ẩm thực, phong tục tập quán đến những truyền thống tốt đẹp như lòng yêu nước, tinh thần hiếu học, tình làng nghĩa xóm, lòng nhân ái. Đó chính là “hồn cốt” của một dân tộc, là nền tảng để chúng ta tự tin hội nhập nhưng không hòa tan.
Ngày nay, mạng xã hội và truyền thông đã giúp những giá trị ấy có điều kiện lan tỏa rộng rãi hơn. Tuy nhiên, nếu không có sự dẫn dắt của thế hệ trẻ, những giá trị ấy có thể dần bị lãng quên, thay thế bằng các trào lưu nhất thời. Do đó, người trẻ cần có ý thức sâu sắc về vai trò của mình trong việc bảo tồn và phát huy văn hóa truyền thống. Trước hết, họ cần hiểu rõ, trân trọng những giá trị ấy, không chạy theo lối sống thực dụng, lai căng. Bên cạnh đó, người trẻ còn có trách nhiệm “làm mới” văn hóa truyền thống bằng tư duy sáng tạo và cách tiếp cận hiện đại.
Không khó để thấy nhiều bạn trẻ hiện nay đã và đang hoàn thành tốt sứ mệnh này. Đó là những vlogger, Tiktoker làm video giới thiệu văn hóa ẩm thực, áo dài, lễ hội dân gian đến cộng đồng quốc tế; những bạn trẻ khởi nghiệp với sản phẩm thủ công truyền thống mang hơi thở thời đại; hay đơn giản là một học sinh mặc áo dài đi học mỗi thứ hai, đăng tải câu ca dao trên mạng xã hội. Tất cả đều là những hành động nhỏ nhưng mang ý nghĩa lớn trong việc giữ gìn hồn Việt.
Tuy nhiên, để sứ mệnh ấy được thực hiện hiệu quả, người trẻ cần có bản lĩnh văn hóa, biết phân biệt đâu là tinh hoa cần giữ gìn, đâu là hủ tục cần loại bỏ. Bảo vệ bản sắc không có nghĩa là khép mình trong quá khứ, mà là biết cách thổi vào truyền thống một sức sống mới để văn hóa dân tộc không chỉ tồn tại, mà còn sống động trong lòng thế hệ hôm nay và mai sau.
Trong dòng chảy mạnh mẽ và không ngừng nghỉ của thời đại 4.0, bản sắc văn hóa dân tộc không chỉ cần được giữ gìn mà còn cần được “sống” cùng hơi thở đương đại. Người trẻ hôm nay không thể đứng ngoài sứ mệnh ấy. Họ phải là những người vừa mang tinh thần đổi mới, sáng tạo, vừa mang trong mình tình yêu sâu sắc với cội nguồn văn hóa dân tộc. Giữ gìn bản sắc văn hóa không phải là giữ lấy cái cũ kỹ, lạc hậu, mà là cách để khẳng định bản lĩnh dân tộc giữa muôn vàn sắc màu toàn cầu. Khi người trẻ biết tự hào về văn hóa của chính mình, đó cũng là lúc Việt Nam cất lên tiếng nói riêng, tự tin và bản lĩnh trên bản đồ văn hóa thế giới.
[Sửa]Câu 1. Xác định thể thơ của văn bản
Bài thơ được viết theo thể thơ thất ngôn tứ tuyệt Đường luật
Câu 2. Xác định luật của bài thơ
Bài thơ tuân theo luật bằng của thơ thất ngôn tứ tuyệt Đường luật.
Câu 3. Phân tích tác dụng của một biện pháp tu từ em ấn tượng
Biện pháp tu từ đối lập/so sánh được thể hiện rõ qua hai hình ảnh:
- “Thi gia dĩ yếu hội xung phong”
- “Hiện đại thi trung ưng hữu thiết”
👉 Tác dụng:
- Làm nổi bật sự khác biệt giữa thơ ca xưa và thơ ca hiện đại.
- Nhấn mạnh quan điểm của Bác: thơ không chỉ để thưởng thức cái đẹp mà còn phải gắn với đời sống, chiến đấu, phục vụ cách mạng.
- Thể hiện tư tưởng tiến bộ, cách nhìn mới mẻ về chức năng của văn học.
Câu 4. Vì sao tác giả cho rằng:
“Hiện đại thi trung ưng hữu thiết,
Thi gia dĩ yếu hội xung phong”?**
Vì:
- Thời đại lúc bấy giờ là thời đại đấu tranh cách mạng, đất nước bị áp bức, nhân dân khổ cực.
- Thơ ca hiện đại không thể chỉ nói chuyện cảm xúc cá nhân hay cái đẹp thuần túy.
- Nhà thơ phải là người xung phong trên mặt trận tinh thần, dùng thơ ca để cổ vũ, thức tỉnh, đấu tranh vì dân tộc.
→ Quan niệm này thể hiện rõ tinh thần cách mạng và trách nhiệm xã hội của người cầm bút.
Câu 5. Nhận xét về câu tứ của bài thơ
- Câu tứ có tính khái quát cao, đúc kết tư tưởng toàn bài.
- Là lời khẳng định dứt khoát về vai trò của nhà thơ trong thời đại mới.
- Giọng điệu mạnh mẽ, rắn rỏi, thể hiện khí phách và tư tưởng cách mạng của Hồ Chí Minh.
- Góp phần nâng bài thơ từ cảm xúc cá nhân lên tầm tuyên ngôn nghệ thuật.
Dài qáp
Chịu roi
Haiz
Dài vậy cô ơi
Dài vậy
Vãi
Câu 1
Nhân vật bé Gái trong truyện ngắn " Nhà nghèo " của Tô Hoài là hiện thân bi thương nhất cho sự cơ cực và số phận nghiệt ngã của trẻ em nghèo khổ trước Cách mạng. Bé Gái là đứa con cả, sớm phải gánh vác trách nhiệm, thể hiện qua hình ảnh phải đi xin lửa để thổi cơm, và cùng cha mẹ đi bắt nhái kiếm tiền, kiếm miếng ăn. Dù cho độ tuổi còn nhỏ, cô bé đã phải đối diện với bạo lực tinh thần khi chứng kiến ảnh cha mẹ cãi nhau om sòm, khiến nó " khóc thút thít " vì sợ hãi. Tuy sống trong cảnh thiếu thốn, Gái vẫn giữ được sự hồn nhiên, đáng thương qua nụ cười " nhe hai hàm răng sún đen xỉn, cười toét" khi giỏ nhái được " lưng lửng ". Chi tiết đỉnh điểm và ám ảnh nhất là cái chết tức tưởi của em bên vệ ao. Bé Gái nằm gục, lưng " trần xám ngắt ", tay vẫn "ôm khư khư cái giỏ nhái" , chứng tỏ em đã kiệt sức và đi trong lúc đang cố kiếm tìm sự sống. Cái chết của Gái không chỉ là bi kịch cá nhân mà còn là lời tố cáo mạnh mẽ, sâu sắc về sự tàn nhẫn của đói nghèo, khiến con người bị bóc lột đến tận cùng sinh mạng.
Câu 2
Bạo lực gia đình, dù dưới hình thức nào thể chất, tinh thần hay lời nói luôn là một vấn đề nhức nhối, tạo nên những vết thương vô hình và hữu hình đối với những thành viên yếu thể chất nhất: trẻ em. Trong văn bản "Nhà nghèo" , ta đã thấy những đứa trẻ nhà Duyện sợ hãi tột độ khi nghe tiếng quát tháo, doạ dẫm bạo lực của cha: "Ông giết chết cả lũ" . Sự sợ hãi ấy của những đứa trẻ xưa kia cũng chính là nỗi u ám ảnh đang đeo bám hàng triệu trẻ em trong các gia đình khong chỉ cản trở mà còn huỷ hoại nghiêm trọng quá trình phát triển toàn diện của trẻ.
Trước hết, bạo lực gia đình là gây ra những tổn thương tâm lý và cả cảm xúc sâu sắc. Trẻ em sống trong môi trường bạo lực luôn ở trạng thái lo âu, sợ hãi triền miên, mất đi cảm giác an toàn cơ bản - điều kiện tiên quyết để phát triển nhân cánh khoẻ mạnh. Chúng có xu hướng trở nên khép kín, tự ti, hoặc mắc phải chứng rối loạn tâm lí như trầm cảm, rối loạn lo âu. Khi gia đình, nơi vốn là bến đỗ yêu thương, trở thành nơi đầy rễy đe doạ, trẻ sẽ mất kiểm niềm tin vào cuộc sống. Sự lo sợ hằn sâu này ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng tập trung, tư duy và kết qua học tập của các em
Thứ hai, bạo lực định hình và làm lệch lạc hành vi xã hội của trẻ. Trẻ em học tập thông qua quan sát và bắt chước. Khi lớn lên trong một ngôi nhà nơi xung đột được giải quyết bằng sức mạnh và lời lẽ thô bạo, trẻ có nguy cơ bắt cao hình thành hai kiểu hành vi đối lập nhưng đều tiêu cực. Một mặt, trẻ có thể trở nên hung hăng, dùng bạo lực để giải quyết vấn đề, lập lại "vòng luẩn quẩn" bạo lực của cha mẹ. Măt khác, trẻ có thể hoàn toàn thu mình, nhút nhát, khó khăn trong việc thiết lập các mối quan hệ xã hội lành mạnh, dễ bị cô lập hoặc trở thành nạn nhân của bắt nạt. Những hành vi này cản trở sự hoà nhập cộng đồng và phát triển kỹ năng phần mềm cần thiết trong tương lai.
Cuối cùng, môi trường bạo lực tác động tiêu cực đến sức khoẻ thể chất của trẻ. Ngoại trừ những chấn thương vật lý trực tiếp do đánh đập, thì lo lắng kéo dài do chứng kiến hoặc trải qua bạo lực tinh thần có thể gây ra những vấn đề sức khoẻ mãn tính. Mức độ căng thẳng cao làm suy giảm miễn dịch, gây rối loạn giấc ngủ, và có thể dẫn đến các bệnh về tiêu hoá, tim mạch khi trưởng thành. Thể chất không khoẻ mạnh làm giảm khả năng học tập và tham gia các hoạt động xã hội của trẻ.
Tóm lại, bạo lực gia đình là một "căn bệnh" xã hội nguy hiểm, tước đi quyền được sống trong một môi trường an toàn và yêu thương của trẻ em. Để đảm bảo sự phát triển toàn diện cho thế hệ tương lai, cần có sự tăng cường giáo dục về nuôi dạy con cái tích cực, thiết lập các đường dây nóng hỗ trợ tâm lý, đến việc xây dựng và thực thi nghiêm minh các chính sách phấp luật bảo vệ trẻ em, để mọi lứa trẻ đều được lớn lên bằng tình yêu thương và sự tôn trọng, chứ không phải là bằng nước mắt và nỗi sợ hãi.
Câu 1: Thể loại Truyện Ngắn
Câu 2: PTBD chính là tự sự
Câu 3: BPTT được sử dụng trong câu văn này là ẩn dụ
- Hình ảnh ẩn dụ: " cảnh xế muộn chợ chiều "
- Tác dụng: chỉ ra hoàn cảnh và số phận của anh Duyệt và chị Duyệt đã " quá lứa lỡ thì " , đều mang tật và nghèo khó, cuộc hôn nhân là sự gán ghép tự nhiên của cảnh túng quẫn
Câu 4: Nội dung văn bản là phán ánh cuộc sống cùng quẫn, bi kịch của gia đình nghèo khổ ở nông thôn, từ đó tố cáo sự tàn khốc của nghèo đói qua cái chết xót xa của bé Gái.
Câu 5: Chi tiết ấn tượng nhất đối với em là cái chết của bé Gái trong khi vẫn ôm khư khư giỏ nhái. Đây là đỉnh điểm của sự bi kịch, tố cáo mạnh mẽ nhất sự tàn khốc của sự nghèo đói và gây ra sự xót thương, ám ảnh sâu sắc về số phận con người.