VŨ LÂM HẢI

Giới thiệu về bản thân

Chào mừng bạn đến với trang cá nhân của VŨ LÂM HẢI
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
(Thường được cập nhật sau 1 giờ!)

Lguhuhuhih7h8hihih8h8h8huh7h8h7gug8p

Đọc văn bản sau:

         BÀN GIAO

Rồi ông sẽ bàn giao cho cháu

Bàn giao gió heo may

Bàn giao góc phố

Có mùi ngô nướng bay

 

Ông sẽ chẳng bàn giao những tháng ngày vất vả

Sương muối đêm bay lạnh mặt người

Đất rung chuyển, xóm làng loạn lạc

Ngọn đèn mờ, mưa bụi rơi

 

Ông bàn giao tháng giêng hương bưởi

Cỏ mùa xuân xanh dưới chân giày

Bàn giao những mặt người đẫm nắng

Đẫm yêu thương trên trái đất này

 

Ông chỉ bàn giao một chút buồn

Ngậm ngùi một chút, chút cô đơn

Câu thơ vững gót làm người ấy*

Ông cũng bàn giao cho cháu luôn.

 (Theo Vũ Quần Phương, Văn nghệ quân đội, Xuân Giáp Ngọ 2014, tr.86)

Chú thích:

* Câu thơ Cắn răng mà chịu thiệt, vững gót để làm người.

Thực hiện các yêu cầu sau:

Câu 1. Xác định thể thơ của văn bản trên.

Câu 2. Trong bài thơ, nhân vật người ông sẽ bàn giao cho cháu những thứ gì?

Câu 3. Ở khổ thơ thứ hai, có những thứ mà người ông chẳng bàn giao cho cháu. Theo anh/chị, vì sao người ông lại không muốn bàn giao cho cháu những thứ đó?

Câu 4. Chỉ ra và phân tích biện pháp điệp ngữ được sử dụng trong bài thơ.

Câu 5. Chúng ta hôm nay đã nhận bàn giao từ thế hệ cha ông đi trước rất nhiều điều quý giá, thiêng liêng. Theo anh/chị, chúng ta cần có thái độ gì trước những điều được bàn giao ấy? (Bày tỏ bằng đoạn văn 5 - 7 câu)

Bạn chưa trả lời câu hỏi này. Trả lời câu hỏi này
Bài 2
 Xem hướng dẫn  Bình luận (488)

II. PHẦN VIẾT (6.0 ĐIỂM)

Câu 1. (2.0 điểm) Viết đoạn văn (khoảng 200 chữ) nêu cảm nhận về bài thơ ở phần đọc hiểu.

Câu 2. (4.0 điểm) Viết bài văn (khoảng 600 chữ) nêu suy nghĩ về vấn đề tuổi trẻ và sự trải nghiệm.

Bạn chưa trả lời câu hỏi này. Trả lời câu hỏi này

II. PHẦN VIẾT (6.0 ĐIỂM)

Câu 1 (2.0 điểm)

Viết đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) nêu cảm nhận của anh/chị về vẻ đẹp của bức tranh quê trong đoạn thơ sau:

Tiếng võng trong nhà kẽo kẹt đưa,

Đầu thềm con chó ngủ lơ mơ,

Bóng cây lơi lả bên hàng dậu,

Đêm vắng, người im, cảnh lặng tờ.


Ông lão nằm chơi ở giữa sân,

Tàu cau lấp loáng ánh trăng ngân.

Thằng cu đứng vịn bên thành chõng,

Ngắm bóng con mèo quyện dưới chân.

 (Trích Trăng hè, Đoàn Văn Cừ, Thi nhân Việt Nam, Hoài Thanh, Hoài Chân, NXB Văn học, 2005, tr.190 - 191)

Câu 2 (4.0 điểm)

Anh/chị hãy viết bài văn nghị luận (khoảng


Đề số 2 SVIP

In bài
Bài 1
 Xem hướng dẫn  Bình luận (1215)

I. PHẦN ĐỌC HIỂU (4,0 điểm)

Đọc đoạn trích sau:

CON YÊU CON GHÉT

   Lược phần đầu: Bớt và Nở đều là con gái bà Ngải nhưng lại nhận sự đối xử phân biệt yêu ghét trái ngược từ mẹ đến mức Bớt từng phải ấm ức khóc ầm ĩ: "Bu đừng có con yêu con ghét! Được, đã thế xem sau này bu già, một mình cái Nở có nuôi bu không, hay lúc ấy lại phải gọi đến tôi?". Sau này hai cô con gái đi lấy chồng, bà vẫn đối xử kiểu phân biệt, có gì cũng bù trì cho Nở, tiền nong gửi cả Nở nhưng rồi lại bị chính Nở dáo dở lấy hết tiền gom góp dành dụm của bà. Bà giận, khóa cửa, xuống cuối làng ở với mẹ con Bớt.

   [...] Thấy mẹ đem quần áo nồi niêu đến ở chung, Bớt rất mừng. Nhưng chị cố gặng mẹ cho hết lẽ:

   - Bu nghĩ kĩ đi. Chẳng sau này lại phiền bu ra, như chị Nở thì con không muốn...

   Nghe con nhắc đến thế thì cụ lại ngượng. Bà cụ gượng cười:

   - Mày khác, nó khác. Với cái gì mà phải nghĩ hở con? Đây này, bu cứ tính thế này: Bao giờ đánh xong thằng Mỹ, bố con Hiên với cậu Tấn nó về, lúc bấy giờ ở đâu rồi hãy hay. Còn bây giờ bu cứ ở đây với mẹ con mày, chứ bu ở trên ấy một mình, vong vóng cũng buồn, mà mẹ con mày dưới này thì bấn quá. Mày thì đã lắm thứ công tác. Lại còn lo làm điểm lấy thóc nuôi con...

   Từ ngày bà đến ở chung, Bớt như người được cất đi một gánh nặng trên vai. Giờ Bớt chỉ lo công tác với ra đồng làm, giá có phải đi họp hay đi học dăm bảy ngày liền như lớp học chống sâu bệnh cho lúa vừa rồi, là Bớt có thể yên trí đùm gạo đi được, không phải như cái đận ngày xưa vừa họp đấy, mà bụng thì nôn lên với mấy đứa con còn vất vạ ra ở nhà, gửi liều cho hàng xóm. Mấy đứa trẻ được bà trông, chỉ vài tháng đã lớn, béo ra trông thấy. [...]

   [...] Bớt kéo con vào lòng, vạch tóc con ra và chỉ vào cái sẹo to bằng cái trôn bát ở gần đỉnh đầu, vô tình kể với bà:

  - Còn bố nó ở nhà, bố nó thương con này nhất, bố nó cứ bảo: Tội! Con gái xấu xí.

   Bà cụ thở dài và buột miệng cái điều mà bà vẫn lấy làm ân hận:

   - Ừ, đáng ra là thế, con nào chả là con. Có mẹ cổ nhân cổ sơ, ngày xưa mẹ mới dọa ra thế chứ!

   Bớt vội buông bé Hiên, ôm lấy mẹ:

   - Ô hay! Con có nói gì đâu, sao bu cứ nghĩ ngợi thế nhỉ?

1966 - 1974

 (Vũ Thị Thường, Tuyển tập truyện ngắn Việt Nam 1945 - 2005, NXB Công an Nhân dân, 2005, tr.20 - 23)

Thực hiện các yêu cầu từ 1 đến 5 (trình bày ngắn gọn)

Câu 1. Xác định ngôi kể của người kể chuyện.

Câu 2. Chỉ ra một số chi tiết về cách ứng xử của chị Bớt Dương trong văn bản cho thấy chị không giận mẹ dù trước đó từng bị mẹ phân biệt đối xử.

Câu 3. Qua đoạn trích, anh/chị thấy nhân vật Bớt là người như thế nào?

Câu 4. Hành động ôm lấy vai mẹ và câu nói của chị Bớt: "- Ô hay! Con có nói gì đâu, sao bu cứ nghĩ ngợi thế nhỉ?" có ý nghĩa gì?

Câu 5. Qua văn bản, hãy nêu một thông điệp mà anh/

VIẾT (6.0 ĐIỂM)

Câu 1. (2.0 điểm) Từ phần đọc hiểu, viết đoạn văn (khoảng 200 chữ) trình bày suy nghĩ của anh/chị về tầm quan trọng của việc bảo vệ môi trường.

Câu 2. (4.0 điểm) Viết bài văn nghị luận (khoảng 600 chữ) so sánh, đánh giá hình tượng người ẩn sĩ được khắc họa qua hai bài thơ sau:

               NHÀN

Một mai, một cuốc, một cần câu,
Thơ thẩn dầu ai vui thú nào.
Ta dại, ta tìm nơi vắng vẻ,
Người khôn, người đến chốn lao xao.
Thu ăn măng trúc, đông ăn giá,
Xuân tắm hồ sen, hạ tắm ao.
Rượu đến bóng cây ta hãy uống,
Nhìn xem phú quý tựa chiêm bao.

(Thơ Nôm Nguyễn Trãi và Nguyễn Bỉnh Khiêm, NXB Khoa học Xã hội, 2021)

Trời thu xanh ngắt mấy tầng cao,
Cần trúc lơ phơ gió hắt hiu.
Nước biếc trông như tầng khói phủ,
Song thưa để mặc bóng trăng vào.
Mấy chùm trước giậu hoa năm ngoái,
Một tiếng trên không ngỗng nước nào?
Nhân hứng cũng vừa toan cất bút,
Nghĩ ra lại thẹn với ông Đào. 

(Nguyễn Khuyến, NXB Hội Nhà văn, 2015)


Bài 1
Xem hướng dẫn Bình luận (539)
(4 điểm) Đọc văn bản sau và trả lời các câu hỏi:

NÊN BỊ GAI ĐÂM

(1) Núi lửa nào hay mình làm đau trái đất. Sóng thần nào hay mình làm đau những đại dương. Bão tố nào hay mình làm đau những cánh rừng. Đá ghềnh nào hay mình làm tổn thương những dòng suối. Mỏ neo níu giữ con thuyền đâu hay đã làm rách tướp những lòng sông.

(2) Trái rụng đâu hay mình làm đau lòng vườn. Nắng chói đâu hay mình làm đau những giọt sương đậu hờ trên mép lá. Bụi bay đâu hay mình làm đau những làn hương. Con ong đâu hay tiếng đập cánh vụng về làm giật mình nụ hoa út ít. Lá rơi nào hay mình làm tổn thương giấc mơ của cánh chuồn kim thiêm thiếp sau ngọn cỏ góc ao.

(3) Tiếng chuông rền làm tổn thương hoàng hôn. Bước chân mau làm tổn thương những con đường. Gót giày khua làm tổn thương lối ngõ. Nếp áo nhàu làm tổn thương bao ấp iu của gió. Vệt lá lăn làm tổn thương thảm rêu nhung ẩm ướt bên thềm.

(4) Ngòi bút sắc làm đau trang giấy. Nét mực hoen làm đau con chữ gầy. Câu thơ suông làm tổn thương ánh đèn tri kỉ. Giọng ca trơn làm tổn thương điệu nhạc say đắm. Ngón tay bấm bâng quơ làm tổn thương bao âm giai ẩn trong mỗi phím đàn.

(5) Lần lỗi hẹn làm đau điểm hẹn. Cái bắt tay ơ hờ làm đau nhịp tim sâu. Nụ cười tắt mau làm tổn thương những thắc thỏm mong cầu. Tiếng thở dài làm tổn thương ánh nhìn ngân ngấn. Thoáng chau mày làm đau giọt mồ hôi lau vội lúc cuối ngày.

(6) Thế giới cần nâng niu quá đỗi. Ta sống đời lại thô tháp làm sao. Ta làm tổn thương những dòng sông. Ta làm tổn thương những mặt đầm. Ta làm tổn thương những mảnh vườn. Ta làm tổn thương những mùa hoa trái. Ta làm tổn thương những bình minh yên ả. Ta làm tổn thương những canh khuya trong vắng. Ta làm đau những niềm người quá đỗi mong manh…

(7) Mặt đất ngàn đời quen tha thứ. Đại dương bao la quen độ lượng. Cánh rừng mênh mông quen trầm mặc. Những dòng sông quen chảy xuôi. Những hồ đầm quen nín lặng. Những nẻo đường quen nhẫn nhịn. Những góc vườn quen che giấu. Những thảm rêu vốn không biết dỗi hờn. Những đoá hoa không bao giờ chì chiết. Những giấc mơ chỉ một mực bao dung. Những yêu thương không bao giờ trả đũa…

(8) Và ta cứ yên chí đi qua thế giới này với bước chân quen xéo lên cỏ hoa. Thỉnh thoảng bàn chân nên bị gai đâm, để ta được giật mình: tổn thương là rỉ máu.

(Chu Văn Sơn)

Câu 1 (0.5 điểm): Xác định phương thức biểu đạt chính được sử dụng trong văn bản.

Câu 2 (0.5 điểm): Nêu nội dung của văn bản trên.

Câu 3 (1.0 điểm): Xác định và phân tích một biện pháp tu từ trong đoạn (7).

Câu 4 (1.0 điểm): Trong câu văn: “Và ta cứ yên chí đi qua thế giới này với bước chân quen xéo lên cỏ hoa. Thỉnh thoảng bàn chân nên bị gai đâm, để ta được giật mình: tổn thương là rỉ máu.” Vì sao tác giả lại nói “Thỉnh thoảng bàn chân nên bị gai đâm”?

Câu 5 (1.0 điểm): Bài học ý nghĩa nhất anh/chị rút ra từ văn bản là gì?

Bạn chưa trả lời câu hỏi này. Trả lời câu hỏi này
Bài 2
Xem hướng dẫn Bình luận (451)
Câu 1 (2.0 điểm):

Viết đoạn văn khoảng 200 chữ trình bày suy nghĩ của anh/chị về vấn đề con người nên biết yêu thương vạn vật.

Câu 2 (4.0 điểm):

Viết một bài văn có dung lượng khoảng 600 chữ phân tích đoạn thơ sau để thấy sự biến đổi của quê hương trước và sau chiến tranh.

BÊN KIA SÔNG ĐUỐNG

Bên kia sông Đuống

Quê hương ta lúa nếp thơm nồng

Tranh Đông Hồ gà lợn nét tươi trong

Màu dân tộc sáng bừng trên giấy điệp

Quê hương ta từ ngày khủng khiếp

Giặc kéo lên ngùn ngụt lửa hung tàn

Ruộng ta khô

Nhà ta cháy

Chó ngộ một đàn

Lưỡi dài lê sắc máu

Kiệt cùng ngõ thẳm bờ hoang

Mẹ con đàn lợn âm dương

Chia lìa trăm ngả

Đám cưới chuột đang tưng bừng rộn rã

Bây giờ tan tác về đâu?

(Hoàng Cầm)

Bạn chưa trả lời câu hỏi này. Trả lời câu hỏi này
O
L
M
©
2022
OLM
c

2022


Bài 1

Câu 1 (0.5 điểm):
Phương thức biểu đạt chính: Nghị luận (kết hợp với biểu cảm và miêu tả).


Câu 2 (0.5 điểm):
Nội dung:
Văn bản gửi gắm thông điệp về việc con người trong cuộc sống thường vô tình gây tổn thương đến thiên nhiên, vạn vật và cả con người xung quanh. Từ đó, tác giả nhắc nhở chúng ta cần sống tinh tế, biết yêu thương, trân trọng và nâng niu mọi điều trong cuộc sống.


Câu 3 (1.0 điểm):
Biện pháp tu từ trong đoạn (7): Nhân hoá (kết hợp điệp cấu trúc).

  • Ví dụ: “Mặt đất ngàn đời quen tha thứ”, “đại dương quen độ lượng”, “những nẻo đường quen nhẫn nhịn”…
  • Phân tích:
    • Tác giả gán cho thiên nhiên những phẩm chất của con người như “tha thứ”, “độ lượng”, “nhẫn nhịn”.
    • Qua đó làm nổi bật sự bao dung, âm thầm chịu đựng của thiên nhiên và vạn vật trước những tổn thương mà con người gây ra.
    • Đồng thời, biện pháp này góp phần bộc lộ thái độ trăn trở, thức tỉnh con người sống có ý thức hơn.

Câu 4 (1.0 điểm):
Tác giả nói “Thỉnh thoảng bàn chân nên bị gai đâm” vì:

  • “Gai đâm” là hình ảnh ẩn dụ cho những va vấp, đau đớn trong cuộc sống.
  • Khi bị đau, con người mới giật mình nhận ra cảm giác tổn thương là có thật, từ đó biết đồng cảm với nỗi đau của người khác và của vạn vật.
  • Ý nghĩa: cần có những trải nghiệm, thậm chí là đau đớn, để con người sống sâu sắc, biết yêu thương và cẩn trọng hơn trong hành động.

Câu 5 (1.0 điểm):
Bài học ý nghĩa nhất:
Con người cần sống biết yêu thương, trân trọng và không làm tổn thương vạn vật cũng như những người xung quanh.

  • Mỗi hành động dù nhỏ cũng có thể gây tổn thương.
  • Vì vậy cần sống tinh tế, có ý thức và trách nhiệm.
  • Đồng thời phải biết đồng cảm, đặt mình vào vị trí của người khác.

Bài 2

Câu 1 (2.0 điểm): Viết đoạn văn (~200 chữ)

Con người không tồn tại tách rời mà luôn gắn bó mật thiết với thế giới xung quanh, vì vậy biết yêu thương vạn vật là một phẩm chất cần thiết. Vạn vật – từ cỏ cây, sông suối đến muôn loài – đều có sự sống và giá trị riêng, góp phần tạo nên sự cân bằng của tự nhiên. Khi con người biết yêu thương vạn vật, chúng ta sẽ có ý thức bảo vệ môi trường, trân trọng từng sự sống nhỏ bé và sống hài hòa hơn với thiên nhiên. Ngược lại, sự thờ ơ, vô cảm sẽ dẫn đến những hành động tàn phá, làm tổn hại đến hệ sinh thái và cuối cùng chính con người phải gánh chịu hậu quả. Hơn nữa, tình yêu với vạn vật cũng chính là nền tảng nuôi dưỡng lòng nhân ái, giúp con người sống sâu sắc và giàu cảm xúc hơn. Một người biết nâng niu một chiếc lá, một cánh hoa cũng sẽ biết trân trọng con người và cuộc sống. Vì thế, hãy bắt đầu từ những hành động nhỏ như không xả rác, bảo vệ cây xanh, yêu thương động vật… để góp phần làm cho thế giới trở nên tốt đẹp hơn.


Câu 2 (4.0 điểm): Bài văn (~600 chữ)

Bài thơ “Bên kia sông Đuống” của Hoàng Cầm là một bức tranh giàu cảm xúc về quê hương Kinh Bắc, đặc biệt thể hiện rõ sự biến đổi đau đớn của quê hương trước và sau chiến tranh.

Trước hết, quê hương hiện lên trong kí ức với vẻ đẹp thanh bình, trù phú và đậm đà bản sắc dân tộc. Hình ảnh “lúa nếp thơm nồng” gợi nên một vùng quê giàu có, ấm no, nơi con người gắn bó với đồng ruộng. Những giá trị văn hóa truyền thống cũng được khắc họa rõ nét qua “tranh Đông Hồ gà lợn nét tươi trong”, “màu dân tộc sáng bừng trên giấy điệp”. Đó không chỉ là những sản phẩm nghệ thuật mà còn là linh hồn của quê hương, là niềm tự hào về bản sắc dân tộc lâu đời. Tất cả tạo nên một bức tranh quê hương yên bình, tươi đẹp và giàu sức sống.

Thế nhưng, từ khi chiến tranh xảy ra, quê hương đã trải qua những biến đổi khủng khiếp. Tác giả sử dụng những hình ảnh dữ dội để diễn tả sự tàn phá của giặc: “giặc kéo lên ngùn ngụt lửa hung tàn”, “ruộng ta khô”, “nhà ta cháy”. Những câu thơ ngắn, dồn dập như nhịp thở gấp gáp, thể hiện sự đau đớn và phẫn uất. Không chỉ cảnh vật bị tàn phá, mà đời sống con người cũng rơi vào cảnh tang thương, chia lìa. Hình ảnh “chó ngộ một đàn / lưỡi dài lê sắc máu” gợi lên sự man rợ của kẻ thù. Đặc biệt, những hình ảnh mang tính biểu tượng như “mẹ con đàn lợn âm dương / chia lìa trăm ngả”, “đám cưới chuột đang tưng bừng rộn rã / bây giờ tan tác về đâu?” vừa gợi nhắc đến tranh Đông Hồ, vừa thể hiện nỗi đau khi những giá trị văn hóa, cuộc sống bình yên bị phá vỡ hoàn toàn.

Sự đối lập giữa quá khứ tươi đẹp và hiện tại đau thương đã làm nổi bật nỗi xót xa, tiếc nuối của tác giả trước sự tàn phá của chiến tranh. Đồng thời, đó cũng là tiếng nói tố cáo tội ác của kẻ thù và thể hiện tình yêu quê hương sâu sắc. Quê hương không chỉ là nơi chôn rau cắt rốn mà còn là nơi lưu giữ những giá trị văn hóa, tinh thần của dân tộc. Khi quê hương bị tàn phá, đó không chỉ là mất mát vật chất mà còn là nỗi đau tinh thần to lớn.

Qua đoạn thơ, Hoàng Cầm đã khắc họa thành công sự biến đổi của quê hương trước và sau chiến tranh, từ đó làm nổi bật giá trị của hòa bình và tình yêu quê hương đất nước. Đó cũng là lời nhắc nhở mỗi người cần trân trọng, gìn giữ và bảo vệ những gì tốt đẹp mà cha ông đã để lại.


Viết một bài văn có dung lượng khoảng 600 chữ phân tích đoạn thơ sau để thấy sự biến đổi của quê hương trước và sau chiến tranh.

BÊN KIA SÔNG ĐUỐNG

Bên kia sông Đuống

Quê hương ta lúa nếp thơm nồng

Tranh Đông Hồ gà lợn nét tươi trong

Màu dân tộc sáng bừng trên giấy điệp

Quê hương ta từ ngày khủng khiếp

Giặc kéo lên ngùn ngụt lửa hung tàn

Ruộng ta khô

Nhà ta cháy

Chó ngộ một đàn

Lưỡi dài lê sắc máu

Kiệt cùng ngõ thẳm bờ hoang

Mẹ con đàn lợn âm dương

Chia lìa trăm ngả

Đám cưới chuột đang tưng bừng rộn rã

Bây giờ tan tác về đâu?


Trong nền thơ ca kháng chiến chống Pháp, “Bên kia sông Đuống” của Hoàng Cầm là một tiếng lòng đau đáu hướng về quê hương Kinh Bắc yêu dấu. Đoạn thơ đã khắc họa sâu sắc sự biến đổi của quê hương trước và sau chiến tranh, qua đó thể hiện nỗi xót xa cùng tình yêu quê hương tha thiết của tác giả.

Trước hết, quê hương hiện lên trong hoài niệm với vẻ đẹp thanh bình, trù phú và đậm đà bản sắc văn hóa dân tộc. Câu thơ “quê hương ta lúa nếp thơm nồng” gợi lên một không gian quen thuộc của làng quê Bắc Bộ, nơi có những cánh đồng bát ngát, mùa màng tươi tốt, cuộc sống ấm no. Hương “lúa nếp” không chỉ là mùi thơm của nông sản mà còn là hương vị của sự gắn bó, của truyền thống lâu đời. Bên cạnh đó, hình ảnh “tranh Đông Hồ gà lợn nét tươi trong” cùng “màu dân tộc sáng bừng trên giấy điệp” đã tái hiện một nét đẹp văn hóa đặc sắc. Tranh Đông Hồ không chỉ là sản phẩm nghệ thuật mà còn là biểu tượng của đời sống tinh thần phong phú, mang đậm hồn quê. Những gam màu “tươi trong”, “sáng bừng” gợi nên một thế giới rực rỡ, đầy sức sống, thể hiện niềm tự hào sâu sắc của tác giả về quê hương.

Thế nhưng, tất cả vẻ đẹp ấy đã bị chiến tranh tàn phá khốc liệt. Bước ngoặt được thể hiện qua câu thơ “quê hương ta từ ngày khủng khiếp”, mở ra một hiện thực đau thương. Hình ảnh “giặc kéo lên ngùn ngụt lửa hung tàn” gợi cảnh tượng giặc tràn vào như một cơn bão lửa, thiêu rụi mọi thứ. Những câu thơ ngắn, dồn dập: “ruộng ta khô / nhà ta cháy” như những nhát cắt đau đớn, cho thấy sự hủy diệt cả về vật chất lẫn tinh thần. Cánh đồng từng trù phú nay khô cằn, mái nhà từng ấm áp nay chỉ còn tro tàn.

Không chỉ dừng lại ở đó, tác giả còn khắc họa sự tàn bạo của kẻ thù qua hình ảnh “chó ngộ một đàn / lưỡi dài lê sắc máu”. Đây là một ẩn dụ đầy ám ảnh, biến quân giặc thành loài thú dữ khát máu, gieo rắc nỗi kinh hoàng khắp nơi. Quê hương rơi vào cảnh “kiệt cùng ngõ thẳm bờ hoang”, không gian trở nên hoang vu, tiêu điều, sự sống như bị đẩy đến tận cùng.

Đặc biệt, những hình ảnh lấy từ tranh Đông Hồ như “mẹ con đàn lợn âm dương”, “đám cưới chuột” đã tạo nên một sự đối lập đầy xót xa. Nếu trong quá khứ, đó là những hình ảnh biểu tượng cho sự sung túc, vui tươi, hạnh phúc thì nay lại “chia lìa trăm ngả”, “tan tác về đâu?”. Nghệ thuật đối lập giữa quá khứ và hiện tại đã làm nổi bật sự biến đổi đau đớn của quê hương: từ yên bình, no đủ đến tan hoang, đổ nát. Đồng thời, đó cũng là sự mất mát của những giá trị văn hóa truyền thống, khiến nỗi đau càng thêm sâu sắc.

Qua đoạn thơ, Hoàng Cầm không chỉ tái hiện một cách chân thực sự biến đổi của quê hương trước và sau chiến tranh mà còn bộc lộ tình yêu quê hương tha thiết và nỗi căm phẫn trước tội ác của kẻ thù. Sự đối lập giữa hai bức tranh đã làm nổi bật giá trị của hòa bình, nhắc nhở mỗi người biết trân trọng những gì mình đang có và ý thức bảo vệ quê hương, đất nước. Đây chính là giá trị nhân văn sâu sắc mà đoạn thơ để lại trong lòng người đọc.



Đề số 1 SVIP
In bài
Bài 1
Xem hướng dẫn Bình luận (1013)
I. ĐỌC HIỂU (4.0 ĐIỂM)

TIẾC THƯƠNG SINH THÁI

Bước sang năm 2022, chúng ta nghe thấy và nhìn thấy biến đổi khí hậu ở mọi nơi, cả ở ngoài đời thực, cả trong ngôn ngữ và trong nghệ thuật. Giữa một thế giới nơi tất cả các giọng nói - hay thậm chí là giọng hát - đều gợi nhắc về một thảm kịch toàn cầu đang cận kề, biến đổi khí hậu đã đi vào tâm thức của mọi người và tác động sâu sắc đến đời sống tinh thần. Một hậu quả đáng chú ý là sự xuất hiện của hiện tượng tâm lí “tiếc thương sinh thái” (ecological grief).

Cụm từ “tiếc thương sinh thái” xuất hiện lần đầu trong một bài viết vào năm 2018 của hai nhà khoa học xã hội Ashlee Cunsolo và Neville R. Ellis, trong đó họ định nghĩa tiếc thương sinh thái là nỗi đau khổ trước những mất mát về sinh thái mà con người hoặc là đã trải qua, hoặc là tin rằng đang ở phía trước. Những mất mát này có thể đa dạng, ví dụ như sự biến mất của các loài sinh vật hay sự thay đổi ở các cảnh quan quan trọng đối với đời sống tinh thần, song điểm chung là chúng đều do biến đổi khí hậu gây ra và đều khiến tâm trí con người phản ứng tương tự như khi mất người thân. Theo Cunsolo và Ellis, tiếc thương sinh thái là một phản ứng có thể đoán trước được, nhất là ở những cộng đồng vẫn còn sinh sống, làm việc và giữ các mối quan hệ văn hoá mật thiết với môi trường tự nhiên. Hai tác giả này đưa ra hai trường hợp cụ thể: những người Inuit ở miền Bắc Canada và những người làm nghề trồng trọt ở Australia. Lúc được hỏi về sự thay đổi môi trường chóng vánh ở nơi mình sống, cả hai cộng đồng này đều có chung những cảm xúc như nỗi thất vọng, u sầu, hay thậm chí là ý nghĩ muốn tự sát, mặc dù họ sinh sống ở hai nơi hoàn toàn khác nhau về mặt địa lí, phong tục tập quán, và còn bị ảnh hưởng bởi các loại thiên tai hoàn toàn khác nhau.

[...] Như bất kì vấn đề sức khỏe tâm thần nào khác, nỗi tiếc thương sinh thái ăn sâu vào tâm trí một người và thường xuyên đẩy họ vào trạng thái khủng hoảng hiện sinh. Cunsolo và Ellis ghi nhận câu trả lời của một người Inuit như sau: “Inuit là dân tộc băng biển. Băng biển không còn, làm sao chúng tôi còn là dân tộc băng biển được nữa?”. Và những cảm xúc như vậy thực sự cũng chẳng còn xa lạ gì nữa: khi rừng Amazon bốc cháy năm 2019, các tộc người bản địa ở Brazil như người Tenharim, người Guató và người Guarani đều đã nói rằng họ đang mất hết tất cả và khó có thể gìn giữ được truyền thống văn hoá của mình khi mà cánh rừng quê hương đang bốc cháy ngùn ngụt. [...] Có thể thấy, đối với người ở nơi “tiền tuyến” của biến đổi khí hậu - cho dù là cộng đồng địa phương hay là các nhà nghiên cứu thực địa, việc chứng kiến và cảm nhận trực tiếp hậu quả của biến đổi khí hậu đã để lại tác động tâm lí nghiêm trọng, bởi những người này đã lâu ngày gần gũi và gắn bó với môi trường đang bị hủy hoại. [...]

Tiếc thay, sau hàng thập kỉ biết đến mối nguy hại của biến đổi khí hậu, nỗi tiếc thương sinh thái đã bắt đầu ảnh hưởng tới cả người ở hậu phương. Tháng 12/2021, Caroline Hickman và cộng sự công bố một cuộc thăm dò về cảm xúc trước biến đổi khí hậu của 1,000 trẻ em và thanh thiếu niên từ mỗi quốc gia trong tổng số 10 nước Anh, Australia, Ấn Độ, Bồ Đào Nha, Brazil, Hoa Kì, Nigeria, Pháp, Phần Lan và Philippines. Trong số những người được hỏi, 59% thấy “rất hoặc cực kì lo” về biến đổi khí hậu, và 45% thừa nhận rằng cảm xúc của họ về biến đổi khí hậu có ảnh hưởng tiêu cực đến cuộc sống thường ngày. Nỗi lo về biến đổi khí hậu và sự chấp nhận tận thế đang cận kề đều là các cảm xúc không hiếm gặp ở những người trẻ ngày nay, nhất là kể từ khi đại dịch COVID-19 bắt đầu.

(Nguyễn Bình, Báo điện tử Tia sáng, 25/1/2022)

Thực hiện các yêu cầu từ 1 đến 5 (trình bày ngắn gọn):

Câu 1. Theo bài viết trên, hiện tượng tiếc thương sinh thái là gì?

Câu 2. Bài viết trên trình bày thông tin theo trình tự nào?

Câu 3. Tác giả đã sử dụng những bằng chứng nào để cung cấp thông tin cho người đọc?

Câu 4. Anh/chị hãy nhận xét về cách tiếp cận vấn đề biến đổi khí hậu của tác giả trong văn bản.

Câu 5. Thông điệp sâu sắc nhất mà anh/chị nhận được từ bài viết trên là gì?


Câu 1

Hiện tượng “tiếc thương sinh thái” là nỗi đau khổ, mất mát về mặt tinh thần của con người trước sự suy thoái, biến mất của môi trường tự nhiên do biến đổi khí hậu gây ra, với cảm xúc tương tự như khi mất đi người thân.


Câu 2

Bài viết trình bày thông tin theo trình tự:
Giải thích khái niệm → phân tích, chứng minh bằng dẫn chứng cụ thể → mở rộng vấn đề và nêu thực trạng hiện nay.


Câu 3

Tác giả sử dụng các bằng chứng:

  • Nghiên cứu khoa học của Ashlee Cunsolo và Neville R. Ellis.
  • Ví dụ thực tế: người Inuit ở Canada, nông dân Australia, các cộng đồng bản địa ở Brazil.
  • Số liệu khảo sát (1.000 thanh thiếu niên ở 10 quốc gia).
    → Những bằng chứng này cụ thể, xác thực, có tính khoa học và thực tiễn cao.

Câu 4

Cách tiếp cận vấn đề của tác giả:

  • Mới mẻ, độc đáo: tiếp cận biến đổi khí hậu từ góc độ tâm lí con người (tiếc thương sinh thái), không chỉ dừng ở môi trường.
  • Toàn diện và nhân văn: cho thấy tác động sâu sắc của biến đổi khí hậu đến đời sống tinh thần và văn hóa.
  • Thuyết phục: kết hợp lí lẽ với dẫn chứng khoa học và thực tế.

Câu 5

Thông điệp sâu sắc nhất:
Con người cần nhận thức rõ tác động nghiêm trọng của biến đổi khí hậu không chỉ với môi trường mà còn với đời sống tinh thần, từ đó nâng cao ý thức bảo vệ thiên nhiên, gìn giữ hệ sinh thái để bảo vệ chính tương lai của mình.

Trong nền thơ ca kháng chiến chống Pháp, “Bên kia sông Đuống” của Hoàng Cầm là một tiếng lòng đau đáu hướng về quê hương Kinh Bắc yêu dấu. Đoạn thơ đã khắc họa sâu sắc sự biến đổi của quê hương trước và sau chiến tranh, qua đó thể hiện nỗi xót xa cùng tình yêu quê hương tha thiết của tác giả.

Trước hết, quê hương hiện lên trong hoài niệm với vẻ đẹp thanh bình, trù phú và đậm đà bản sắc văn hóa dân tộc. Câu thơ “quê hương ta lúa nếp thơm nồng” gợi lên một không gian quen thuộc của làng quê Bắc Bộ, nơi có những cánh đồng bát ngát, mùa màng tươi tốt, cuộc sống ấm no. Hương “lúa nếp” không chỉ là mùi thơm của nông sản mà còn là hương vị của sự gắn bó, của truyền thống lâu đời. Bên cạnh đó, hình ảnh “tranh Đông Hồ gà lợn nét tươi trong” cùng “màu dân tộc sáng bừng trên giấy điệp” đã tái hiện một nét đẹp văn hóa đặc sắc. Tranh Đông Hồ không chỉ là sản phẩm nghệ thuật mà còn là biểu tượng của đời sống tinh thần phong phú, mang đậm hồn quê. Những gam màu “tươi trong”, “sáng bừng” gợi nên một thế giới rực rỡ, đầy sức sống, thể hiện niềm tự hào sâu sắc của tác giả về quê hương.

Thế nhưng, tất cả vẻ đẹp ấy đã bị chiến tranh tàn phá khốc liệt. Bước ngoặt được thể hiện qua câu thơ “quê hương ta từ ngày khủng khiếp”, mở ra một hiện thực đau thương. Hình ảnh “giặc kéo lên ngùn ngụt lửa hung tàn” gợi cảnh tượng giặc tràn vào như một cơn bão lửa, thiêu rụi mọi thứ. Những câu thơ ngắn, dồn dập: “ruộng ta khô / nhà ta cháy” như những nhát cắt đau đớn, cho thấy sự hủy diệt cả về vật chất lẫn tinh thần. Cánh đồng từng trù phú nay khô cằn, mái nhà từng ấm áp nay chỉ còn tro tàn.

Không chỉ dừng lại ở đó, tác giả còn khắc họa sự tàn bạo của kẻ thù qua hình ảnh “chó ngộ một đàn / lưỡi dài lê sắc máu”. Đây là một ẩn dụ đầy ám ảnh, biến quân giặc thành loài thú dữ khát máu, gieo rắc nỗi kinh hoàng khắp nơi. Quê hương rơi vào cảnh “kiệt cùng ngõ thẳm bờ hoang”, không gian trở nên hoang vu, tiêu điều, sự sống như bị đẩy đến tận cùng.

Đặc biệt, những hình ảnh lấy từ tranh Đông Hồ như “mẹ con đàn lợn âm dương”, “đám cưới chuột” đã tạo nên một sự đối lập đầy xót xa. Nếu trong quá khứ, đó là những hình ảnh biểu tượng cho sự sung túc, vui tươi, hạnh phúc thì nay lại “chia lìa trăm ngả”, “tan tác về đâu?”. Nghệ thuật đối lập giữa quá khứ và hiện tại đã làm nổi bật sự biến đổi đau đớn của quê hương: từ yên bình, no đủ đến tan hoang, đổ nát. Đồng thời, đó cũng là sự mất mát của những giá trị văn hóa truyền thống, khiến nỗi đau càng thêm sâu sắc.

Qua đoạn thơ, Hoàng Cầm không chỉ tái hiện một cách chân thực sự biến đổi của quê hương trước và sau chiến tranh mà còn bộc lộ tình yêu quê hương tha thiết và nỗi căm phẫn trước tội ác của kẻ thù. Sự đối lập giữa hai bức tranh đã làm nổi bật giá trị của hòa bình, nhắc nhở mỗi người biết trân trọng những gì mình đang có và ý thức bảo vệ quê hương, đất nước. Đây chính là giá trị nhân văn sâu sắc mà đoạn thơ để lại trong lòng người đọc.

Câu 1 (0.5 điểm):
Phương thức biểu đạt chính: Nghị luận (kết hợp với biểu cảm và miêu tả).


Câu 2 (0.5 điểm):
Nội dung:
Văn bản gửi gắm thông điệp về việc con người trong cuộc sống thường vô tình gây tổn thương đến thiên nhiên, vạn vật và cả con người xung quanh. Từ đó, tác giả nhắc nhở chúng ta cần sống tinh tế, biết yêu thương, trân trọng và nâng niu mọi điều trong cuộc sống.


Câu 3 (1.0 điểm):
Biện pháp tu từ trong đoạn (7): Nhân hoá (kết hợp điệp cấu trúc).

  • Ví dụ: “Mặt đất ngàn đời quen tha thứ”, “đại dương quen độ lượng”, “những nẻo đường quen nhẫn nhịn”…
  • Phân tích:
    • Tác giả gán cho thiên nhiên những phẩm chất của con người như “tha thứ”, “độ lượng”, “nhẫn nhịn”.
    • Qua đó làm nổi bật sự bao dung, âm thầm chịu đựng của thiên nhiên và vạn vật trước những tổn thương mà con người gây ra.
    • Đồng thời, biện pháp này góp phần bộc lộ thái độ trăn trở, thức tỉnh con người sống có ý thức hơn.

Câu 4 (1.0 điểm):
Tác giả nói “Thỉnh thoảng bàn chân nên bị gai đâm” vì:

  • “Gai đâm” là hình ảnh ẩn dụ cho những va vấp, đau đớn trong cuộc sống.
  • Khi bị đau, con người mới giật mình nhận ra cảm giác tổn thương là có thật, từ đó biết đồng cảm với nỗi đau của người khác và của vạn vật.
  • Ý nghĩa: cần có những trải nghiệm, thậm chí là đau đớn, để con người sống sâu sắc, biết yêu thương và cẩn trọng hơn trong hành động.

Câu 5 (1.0 điểm):
Bài học ý nghĩa nhất:
Con người cần sống biết yêu thương, trân trọng và không làm tổn thương vạn vật cũng như những người xung quanh.

  • Mỗi hành động dù nhỏ cũng có thể gây tổn thương.
  • Vì vậy cần sống tinh tế, có ý thức và trách nhiệm.
  • Đồng thời phải biết đồng cảm, đặt mình vào vị trí của người khác.

Bài 2

Câu 1 (2.0 điểm): Viết đoạn văn (~200 chữ)

Con người không tồn tại tách rời mà luôn gắn bó mật thiết với thế giới xung quanh, vì vậy biết yêu thương vạn vật là một phẩm chất cần thiết. Vạn vật – từ cỏ cây, sông suối đến muôn loài – đều có sự sống và giá trị riêng, góp phần tạo nên sự cân bằng của tự nhiên. Khi con người biết yêu thương vạn vật, chúng ta sẽ có ý thức bảo vệ môi trường, trân trọng từng sự sống nhỏ bé và sống hài hòa hơn với thiên nhiên. Ngược lại, sự thờ ơ, vô cảm sẽ dẫn đến những hành động tàn phá, làm tổn hại đến hệ sinh thái và cuối cùng chính con người phải gánh chịu hậu quả. Hơn nữa, tình yêu với vạn vật cũng chính là nền tảng nuôi dưỡng lòng nhân ái, giúp con người sống sâu sắc và giàu cảm xúc hơn. Một người biết nâng niu một chiếc lá, một cánh hoa cũng sẽ biết trân trọng con người và cuộc sống. Vì thế, hãy bắt đầu từ những hành động nhỏ như không xả rác, bảo vệ cây xanh, yêu thương động vật… để góp phần làm cho thế giới trở nên tốt đẹp hơn.


Câu 2 (4.0 điểm): Bài văn (~600 chữ)

Bài thơ “Bên kia sông Đuống” của Hoàng Cầm là một bức tranh giàu cảm xúc về quê hương Kinh Bắc, đặc biệt thể hiện rõ sự biến đổi đau đớn của quê hương trước và sau chiến tranh.

Trước hết, quê hương hiện lên trong kí ức với vẻ đẹp thanh bình, trù phú và đậm đà bản sắc dân tộc. Hình ảnh “lúa nếp thơm nồng” gợi nên một vùng quê giàu có, ấm no, nơi con người gắn bó với đồng ruộng. Những giá trị văn hóa truyền thống cũng được khắc họa rõ nét qua “tranh Đông Hồ gà lợn nét tươi trong”, “màu dân tộc sáng bừng trên giấy điệp”. Đó không chỉ là những sản phẩm nghệ thuật mà còn là linh hồn của quê hương, là niềm tự hào về bản sắc dân tộc lâu đời. Tất cả tạo nên một bức tranh quê hương yên bình, tươi đẹp và giàu sức sống.

Thế nhưng, từ khi chiến tranh xảy ra, quê hương đã trải qua những biến đổi khủng khiếp. Tác giả sử dụng những hình ảnh dữ dội để diễn tả sự tàn phá của giặc: “giặc kéo lên ngùn ngụt lửa hung tàn”, “ruộng ta khô”, “nhà ta cháy”. Những câu thơ ngắn, dồn dập như nhịp thở gấp gáp, thể hiện sự đau đớn và phẫn uất. Không chỉ cảnh vật bị tàn phá, mà đời sống con người cũng rơi vào cảnh tang thương, chia lìa. Hình ảnh “chó ngộ một đàn / lưỡi dài lê sắc máu” gợi lên sự man rợ của kẻ thù. Đặc biệt, những hình ảnh mang tính biểu tượng như “mẹ con đàn lợn âm dương / chia lìa trăm ngả”, “đám cưới chuột đang tưng bừng rộn rã / bây giờ tan tác về đâu?” vừa gợi nhắc đến tranh Đông Hồ, vừa thể hiện nỗi đau khi những giá trị văn hóa, cuộc sống bình yên bị phá vỡ hoàn toàn.

Sự đối lập giữa quá khứ tươi đẹp và hiện tại đau thương đã làm nổi bật nỗi xót xa, tiếc nuối của tác giả trước sự tàn phá của chiến tranh. Đồng thời, đó cũng là tiếng nói tố cáo tội ác của kẻ thù và thể hiện tình yêu quê hương sâu sắc. Quê hương không chỉ là nơi chôn rau cắt rốn mà còn là nơi lưu giữ những giá trị văn hóa, tinh thần của dân tộc. Khi quê hương bị tàn phá, đó không chỉ là mất mát vật chất mà còn là nỗi đau tinh thần to lớn.

Qua đoạn thơ, Hoàng Cầm đã khắc họa thành công sự biến đổi của quê hương trước và sau chiến tranh, từ đó làm nổi bật giá trị của hòa bình và tình yêu quê hương đất nước. Đó cũng là lời nhắc nhở mỗi người cần trân trọng, gìn giữ và bảo vệ những gì tốt đẹp mà cha ông đã để lại.




Nhận phản hồi phù hợp với nhu cầu của bạn

Đăng nhập để nhận câu trả lời dựa trên các đoạn chat đã lưu, cũng như tạo hình ảnh và tải lên tệp.

Đăng nhập Câu 1 (2.0 điểm): Viết đoạn văn khoảng 200 chữ phân tích bài thơ Tự miễn của Hồ Chí Minh.

Câu 2 (4.0 điểm): Viết một bài văn có dung lượng khoảng 600 chữ trình bày suy nghĩ của anh/chị về ý nghĩa của những thử thách trong cuộc sống.

Câu 1 (khoảng 200 chữ):

Bài thơ Tự miễn của Hồ Chí Minh thể hiện rõ phong thái ung dung, bản lĩnh kiên cường và tinh thần lạc quan của người chiến sĩ cách mạng trong hoàn cảnh gian khó. “Tự miễn” là tự giải thoát về tinh thần, không để hoàn cảnh khắc nghiệt trói buộc ý chí. Trong bài thơ, Bác không né tránh thực tại tù đày mà đối diện với nó bằng thái độ bình thản, coi đó như một thử thách tất yếu. Qua hình ảnh giản dị nhưng giàu sức gợi, người đọc cảm nhận được tinh thần tự do nội tại – dù thân thể bị giam cầm nhưng tâm hồn vẫn hướng ra ngoài, rộng mở và thanh thản. Giọng thơ nhẹ nhàng, sâu lắng mà ẩn chứa sức mạnh nội tâm lớn lao. Điều đó cho thấy quan niệm sống tích cực: con người có thể vượt lên hoàn cảnh nếu giữ vững niềm tin và ý chí. Bài thơ không chỉ phản ánh tâm hồn cao đẹp của Hồ Chí Minh mà còn gửi gắm thông điệp sâu sắc về nghị lực sống: tự giải thoát mình khỏi những ràng buộc tiêu cực để giữ vững tinh thần tự do và hướng tới tương lai.


Câu 2 (khoảng 600 chữ):

Trong hành trình sống của mỗi con người, thử thách là điều không thể tránh khỏi. Có người e ngại, tìm cách né tránh, nhưng cũng có người dũng cảm đối diện và trưởng thành từ chính những khó khăn ấy. Thực tế cho thấy, thử thách không chỉ là trở ngại mà còn mang ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với sự phát triển của mỗi cá nhân.

Trước hết, thử thách là môi trường để con người rèn luyện ý chí và bản lĩnh. Khi đứng trước khó khăn, con người buộc phải huy động toàn bộ năng lực, sự kiên trì và lòng quyết tâm để vượt qua. Chính trong quá trình ấy, chúng ta hiểu rõ hơn về bản thân: điểm mạnh, điểm yếu và giới hạn của mình. Nếu không có thử thách, con người dễ rơi vào trạng thái tự mãn, thiếu động lực phấn đấu. Ngược lại, những va vấp giúp ta học cách đứng dậy, kiên cường hơn và không dễ bị khuất phục trước nghịch cảnh.

Bên cạnh đó, thử thách còn là cơ hội để tích lũy kinh nghiệm và tri thức. Mỗi lần thất bại là một bài học quý giá, giúp ta điều chỉnh cách suy nghĩ và hành động. Những người thành công hiếm khi đạt được mục tiêu ngay từ lần đầu; họ thường phải trải qua nhiều lần vấp ngã. Điều quan trọng không phải là tránh thất bại, mà là biết rút ra điều gì từ thất bại đó. Chính những trải nghiệm khó khăn đã làm nên chiều sâu trong suy nghĩ và sự chín chắn trong hành động của con người.

Hơn nữa, thử thách giúp ta trân trọng hơn những giá trị của cuộc sống. Khi trải qua gian nan, con người sẽ hiểu rõ hơn giá trị của hạnh phúc, của thành công và của những điều tưởng chừng rất bình dị. Một người chưa từng đối mặt với khó khăn sẽ khó cảm nhận trọn vẹn ý nghĩa của sự nỗ lực và thành quả đạt được. Nhờ thử thách, ta biết quý trọng những gì mình có và sống có trách nhiệm hơn với bản thân cũng như với người khác.

Tuy nhiên, để thử thách thực sự có ý nghĩa, con người cần có thái độ đúng đắn. Nếu bi quan, chán nản hay dễ dàng buông xuôi, thử thách sẽ trở thành gánh nặng khiến ta thất bại. Ngược lại, nếu giữ vững niềm tin, tinh thần lạc quan và ý chí vươn lên, thử thách sẽ trở thành bệ phóng đưa ta đến thành công. Điều quan trọng là phải biết cân bằng giữa nỗ lực và sự tỉnh táo, không cố chấp nhưng cũng không dễ dàng từ bỏ.

Trong cuộc sống hiện đại, khi mọi thứ ngày càng phát triển nhanh chóng, thử thách càng trở nên đa dạng và phức tạp hơn. Nhưng dù ở hoàn cảnh nào, chúng ta cũng cần hiểu rằng khó khăn là một phần tất yếu của cuộc sống. Thay vì sợ hãi, hãy học cách đón nhận và biến nó thành cơ hội để hoàn thiện bản thân.

Tóm lại, thử thách không phải là rào cản mà chính là động lực giúp con người trưởng thành. Nhờ có thử thách, ta rèn luyện được ý chí, tích lũy kinh nghiệm và hiểu sâu sắc hơn giá trị của cuộc sống. Vì vậy, mỗi người hãy dũng cảm đối diện với khó khăn, bởi chính những thử thách hôm nay sẽ làm nên một phiên bản tốt đẹp hơn của chính mình trong tương lai.


4 điểm) Đọc văn bản sau và trả lời các câu hỏi:

CA SỢI CHỈ

Mẹ tôi là một đoá hoa,

Thân tôi trong sạch, tôi là cái bông.

Xưa tôi yếu ớt vô cùng,

Ai vò cũng đứt, ai rung cũng rời.

Khi tôi đã thành chỉ rồi,

Cũng còn yếu lắm, ăn ngồi không ngon,

Mạnh gì sợi chỉ con con,

Khôn thiêng biết có vuông tròn cho chăng!

Càng dài lại càng mỏng manh,

Thế gian ai sợ chi anh chỉ xoàng!

Nhờ tôi có nhiều đồng bang,

Họp nhau sợi dọc, sợi ngang rất nhiều.

Dệt nên tấm vải mỹ miều,

Đã bền hơn lụa, lại điều hơn da.

Đố ai bứt xé cho ra,

Đó là lực lượng, đó là vẻ vang.

Hỡi ai con cháu Hồng Bàng,

Chúng ta phải biết kết đoàn mau mau.

Yêu nhau xin nhớ lời nhau,

Việt Minh hội ấy mau mau phải vào.

(Thơ Hồ Chí Minh, Cảnh Nguyên và Hồ Văn Sơn biên soạn, trang 73)

Câu 1 (0.5 điểm): Xác định phương thức biểu đạt chính được sử dụng trong bài thơ.

Câu 2 (0.5 điểm): Nhân vật “tôi” trong bài thơ đã trở thành sợi chỉ từ vật gì?

Câu 3 (1.0 điểm): Xác định và phân tích một biện pháp tu từ trong đoạn thơ sau:

Nhờ tôi có nhiều đồng bang,

Họp nhau sợi dọc, sợi ngang rất nhiều.

Dệt nên tấm vải mỹ miều,

Đã bền hơn lụa, lại điều hơn da.

Đố ai bứt xé cho ra,

Đó là lực lượng, đó là vẻ vang.

Câu 4 (1.0 điểm): Sợi chỉ có những đặc tính nào? Theo anh/chị, sức mạnh của sợi chỉ nằm ở đâu?

Câu 5 (1.0 điểm): Bài học ý nghĩa nhất anh/chị rút ra từ bài thơ là gì?

Câu 1 (0,5 điểm):
Phương thức biểu đạt chính: biểu cảm (kết hợp với tự sự và nghị luận).


Câu 2 (0,5 điểm):
Nhân vật “tôi” trong bài thơ đã trở thành sợi chỉ từ bông (cái bông).


Câu 3 (1,0 điểm):

  • Biện pháp tu từ: Ẩn dụ (kết hợp với hình ảnh tượng trưng).
  • Phân tích:
    Hình ảnh “sợi dọc, sợi ngang” dệt thành “tấm vải mỹ miều” là ẩn dụ cho sự đoàn kết của con người. Một sợi chỉ riêng lẻ thì yếu ớt, nhưng khi liên kết lại thành nhiều sợi sẽ tạo nên sức mạnh lớn lao, bền chắc “đố ai bứt xé cho ra”. Qua đó, tác giả nhấn mạnh sức mạnh của tinh thần đoàn kết, đồng lòng sẽ tạo nên “lực lượng” và “vẻ vang”.

Câu 4 (1,0 điểm):

  • Đặc tính của sợi chỉ:
    • Ban đầu rất yếu ớt, mỏng manh, dễ đứt.
    • Khi đứng một mình thì nhỏ bé, không có sức mạnh đáng kể.
    • Khi liên kết với nhiều sợi khác thì trở nên bền chắc, khó bị phá vỡ.
  • Sức mạnh của sợi chỉ:
    Nằm ở sự đoàn kết, gắn bó với nhau. Khi nhiều sợi chỉ hợp lại, chúng tạo thành sức mạnh to lớn, bền vững.

Câu 5 (1,0 điểm):
Bài học ý nghĩa nhất:
Con người cần biết đoàn kết, gắn bó và hợp tác với nhau. Mỗi cá nhân riêng lẻ có thể yếu, nhưng khi chung sức đồng lòng sẽ tạo nên sức mạnh lớn lao, có thể vượt qua khó khăn và đạt được thành công.


Câu 1 (2.0 điểm): Viết đoạn văn khoảng 200 chữ phân tích bài thơ Ca sợi chỉ của Hồ Chí Minh.

Câu 2 (4.0 điểm): Viết một bài văn có dung lượng khoảng 600 chữ trình bày suy nghĩ của anh/chị về vai trò của sự đoàn kết.

Bạn chưa trả

Câu 1 (2,0 điểm): Viết đoạn văn khoảng 200 chữ

Bài thơ Ca sợi chỉ của Hồ Chí Minh là một tác phẩm giàu ý nghĩa, thể hiện sâu sắc tư tưởng về sức mạnh của tinh thần đoàn kết. Mở đầu bài thơ, hình ảnh “tôi” – từ một cái bông yếu ớt, “ai vò cũng đứt, ai rung cũng rời” – gợi lên sự nhỏ bé, mong manh của cá nhân khi đứng một mình. Khi trở thành sợi chỉ, “tôi” vẫn “mỏng manh”, chưa có sức mạnh đáng kể. Tuy nhiên, bước ngoặt của bài thơ xuất hiện khi sợi chỉ biết liên kết với “nhiều đồng bang”, hợp thành “sợi dọc, sợi ngang” để dệt nên “tấm vải mỹ miều”. Hình ảnh ẩn dụ này đã làm nổi bật chân lí: sự đoàn kết tạo nên sức mạnh bền vững, “đố ai bứt xé cho ra”. Qua đó, tác giả không chỉ ca ngợi giá trị của tinh thần gắn bó mà còn gửi gắm lời kêu gọi thiết tha về sự đoàn kết dân tộc. Giọng thơ giản dị, gần gũi nhưng giàu tính thuyết phục, kết hợp với hình ảnh quen thuộc trong đời sống đã giúp bài thơ trở nên dễ hiểu mà sâu sắc, mang ý nghĩa giáo dục lớn lao đối với mỗi con người.


Câu 2 (4,0 điểm): Bài văn khoảng 600 chữ

Trong cuộc sống, không ai có thể tồn tại và phát triển một cách trọn vẹn nếu chỉ đơn độc. Chính vì vậy, sự đoàn kết luôn giữ vai trò vô cùng quan trọng, trở thành một trong những yếu tố quyết định sức mạnh và thành công của con người cũng như của cả cộng đồng.

Trước hết, đoàn kết là sự gắn bó, hợp tác, đồng lòng giữa các cá nhân trong một tập thể nhằm hướng tới mục tiêu chung. Khi con người biết đoàn kết, họ sẽ tạo nên sức mạnh tổng hợp to lớn. Một cá nhân có thể nhỏ bé, hữu hạn về năng lực, nhưng khi nhiều người cùng chung sức, họ có thể làm nên những điều phi thường. Lịch sử dân tộc Việt Nam là minh chứng rõ ràng cho điều đó. Nhờ tinh thần đoàn kết, nhân dân ta đã vượt qua biết bao khó khăn, thử thách, chiến thắng nhiều kẻ thù xâm lược hùng mạnh để giành và giữ vững độc lập dân tộc. Tinh thần ấy luôn được hun đúc và phát huy qua các thời kì lịch sử.

Không chỉ trong chiến tranh, trong cuộc sống hiện đại, đoàn kết vẫn đóng vai trò thiết yếu. Trong học tập, khi học sinh biết hợp tác, trao đổi kiến thức, họ sẽ tiến bộ nhanh hơn. Trong công việc, một tập thể đoàn kết sẽ làm việc hiệu quả hơn, dễ dàng đạt được mục tiêu chung. Ngay cả trong những hoàn cảnh khó khăn như thiên tai, dịch bệnh, sự đoàn kết giữa con người với con người cũng giúp xã hội vượt qua khủng hoảng. Có thể nói, đoàn kết chính là “chìa khóa” để giải quyết nhiều vấn đề phức tạp trong cuộc sống.

Tuy nhiên, trong thực tế, không phải ai cũng nhận thức đầy đủ về vai trò của đoàn kết. Vẫn còn những cá nhân sống ích kỉ, chỉ biết đến lợi ích riêng mà quên đi lợi ích chung. Những hành động như chia rẽ, đố kị, thiếu hợp tác không chỉ làm suy yếu tập thể mà còn kìm hãm sự phát triển của chính bản thân mỗi người. Vì vậy, mỗi chúng ta cần ý thức rõ trách nhiệm của mình trong việc xây dựng và giữ gìn tinh thần đoàn kết.

Để phát huy sức mạnh của đoàn kết, mỗi cá nhân cần học cách tôn trọng, lắng nghe và hỗ trợ người khác. Đồng thời, cần đặt lợi ích chung lên trên lợi ích cá nhân, biết chia sẻ, cảm thông và cùng nhau vượt qua khó khăn. Đoàn kết không phải là sự hòa tan cá tính riêng, mà là sự kết hợp hài hòa giữa cái tôi cá nhân và cái chung của tập thể.

Tóm lại, đoàn kết là nguồn sức mạnh vô giá của con người và xã hội. Nhận thức được điều đó, mỗi chúng ta cần chủ động vun đắp tinh thần đoàn kết trong mọi hoàn cảnh. Chỉ khi biết gắn bó, đồng lòng, con người mới có thể tạo nên những giá trị lớn lao và hướng tới một tương lai tốt đẹp hơn.


Đọc văn bản sau và trả lời các câu hỏi:

TỰ MIỄN

(Tự khuyên mình)

Phiên âm:

Một hữu đông hàn tiều tụy cảnh,

Tương vô xuân noãn đích huy hoàng;

Tai ương bả ngã lai đoàn luyện,

Sử ngã tinh thần cánh khẩn trương.

Dịch nghĩa:

Không có cảnh mùa đông tiêu điều rét mướt,

Sẽ không có mùa xuân ấm áp huy hoàng;

Tai ương rèn luyện ta,

Khiến cho tinh thần ta càng thêm hăng hái.

Dịch thơ:

Ví không có cảnh đông tàn,

Thì đâu có cảnh huy hoàng ngày xuân;

Nghĩ mình trong bước gian truân,

Tai ương rèn luyện tinh thần thêm hăng.

(Thơ Hồ Chí Minh, Cảnh Nguyên và Hồ Văn Sơn biên soạn, trang 380-381)

Câu 1 (0.5 điểm): Xác định phương thức biểu đạt chính được sử dụng trong bài thơ.

Câu 2 (0.5 điểm): Bài thơ được viết theo thể thơ nào?

Câu 3 (1.0 điểm): Xác định và phân tích một biện pháp tu từ trong đoạn thơ sau:

Một hữu đông hàn tiều tụy cảnh,

Tương vô xuân noãn đích huy hoàng;

Câu 4 (1.0 điểm): Tai ương vốn là những điều tiêu cực, song trong bài thơ này, đối với nhân vật trữ tình, tai ương có ý nghĩa gì?

Câu 5 (1.0 điểm): Bài học ý nghĩa nhất anh/chị rút ra từ bài thơ là gì?

Câu 1 (0,5 điểm):
Phương thức biểu đạt chính: biểu cảm (kết hợp với nghị luận).


Câu 2 (0,5 điểm):
Bài thơ được viết theo thể thơ tứ tuyệt (thất ngôn tứ tuyệt Đường luật).


Câu 3 (1,0 điểm):

  • Biện pháp tu từ: Ẩn dụ (kết hợp với phép đối).
  • Phân tích:
    Hình ảnh “đông hàn” (mùa đông lạnh lẽo, tiêu điều) ẩn dụ cho khó khăn, gian khổ; “xuân noãn” (mùa xuân ấm áp, huy hoàng) ẩn dụ cho thành công, hạnh phúc. Hai vế câu thơ đối nhau làm nổi bật quy luật: phải trải qua gian khổ mới có được thành quả tốt đẹp. Qua đó, tác giả khẳng định ý nghĩa tích cực của thử thách trong cuộc sống.

Câu 4 (1,0 điểm):
Trong bài thơ, tai ương không chỉ là điều tiêu cực mà còn mang ý nghĩa rèn luyện và tôi luyện con người. Đối với nhân vật trữ tình, tai ương giúp con người trở nên mạnh mẽ hơn, làm cho tinh thần thêm “khẩn trương” (hăng hái, vững vàng), từ đó vượt qua khó khăn và trưởng thành.


Câu 5 (1,0 điểm):
Bài học ý nghĩa nhất:
Cần biết đối diện và vượt qua khó khăn, thử thách trong cuộc sống với tinh thần lạc quan. Chính những gian truân, nghịch cảnh sẽ giúp con người rèn luyện ý chí, bản lĩnh và trở nên mạnh mẽ hơn để đạt tới thành công.