Đặng Thị Lan
Giới thiệu về bản thân
Đoạn trích trong Văn tế thập loại chúng sinh đã thể hiện sâu sắc tấm lòng nhân đạo bao la của Nguyễn Du đối với những số phận bất hạnh trong xã hội cũ. Bằng điệp ngữ “Cũng có kẻ…”, tác giả khắc họa hàng loạt cảnh đời éo le: người lính bỏ mình nơi chiến trận, kẻ lỡ làng duyên phận, người phụ nữ chịu “một đời phiền não”, những phận người chết đường chết chợ không nơi nương tựa. Hình ảnh “mạng người như rác”, “ngọn lửa ma trơi”, “hộp cháo lá đa” gợi nên cái chết thảm thương, cô quạnh, làm nổi bật hiện thực tàn khốc của chiến tranh và bất công xã hội. Giọng điệu khi thì xót xa, khi thì ai oán, câu hỏi tu từ “Kiếp sinh ra thế biết là tại đâu?” như lời day dứt trước nỗi đau thân phận con người. Nghệ thuật liệt kê kết hợp với ngôn ngữ giàu tính tạo hình, giàu cảm xúc đã tạo nên âm hưởng bi thương, lay động lòng người. Qua đó, Nguyễn Du không chỉ bày tỏ niềm thương cảm sâu sắc mà còn thể hiện tư tưởng nhân văn tiến bộ, trân trọng và bênh vực những kiếp người nhỏ bé, bất hạnh.
Hình tượng “nàng Vọng Phu” trong đoạn thơ gợi lên nỗi ám ảnh về sự chờ đợi đến hóa đá của người vợ có chồng ra trận. Nàng hiện lên cô đơn giữa “mưa, gió”, giữa “mây trời”, mang trong mình niềm tin son sắt nhưng cũng chất chứa bao khổ đau. Câu hỏi day dứt “Thế để đâu những lời / Ta đã hẹn với người ta thương nhớ?” như xoáy sâu vào bi kịch của lời thề dang dở. Người chồng “chẳng bao giờ về nữa”, thời gian “mấy ngàn năm” trôi qua cùng bao biến động của đất nước, còn nàng thì vẫn đứng đó, hóa đá trong nỗi cô đơn và chờ đợi. Nhưng sự hóa đá ấy không chỉ là thân xác mà còn là hóa đá của niềm tin, của nỗi đợi chờ triền miên. Qua hình tượng Vọng Phu, tác giả bày tỏ niềm xót thương sâu sắc đối với số phận người phụ nữ trong chiến tranh, đồng thời ngợi ca đức thủy chung, son sắt của họ. Nàng Vọng Phu trở thành biểu tượng cho nỗi đau và vẻ đẹp bền bỉ của người vợ Việt Nam qua bao thời đại
Trong bài thơ Chân quê của Nguyễn Bính, nhân vật “em” hiện lên là hình ảnh cô gái thôn quê mộc mạc nhưng đang có sự đổi thay sau khi đi tỉnh về. Trước hết, “em” vốn gắn với vẻ đẹp truyền thống, giản dị: áo tứ thân, khăn mỏ quạ, quần nái đen – những trang phục đậm hồn quê. Tuy nhiên, khi “hôm qua em đi tỉnh về”, em đã khoác lên mình “khăn nhung, quần lĩnh rộn ràng”, “áo cài khuy bấm”, mang dáng vẻ thị thành. Sự thay đổi ấy khiến nhân vật trữ tình xót xa, lo lắng trước nguy cơ phai nhạt nét chân quê. Qua những câu hỏi dồn dập, ta cảm nhận được “em” tuy không trực tiếp bộc lộ tâm trạng nhưng trở thành biểu tượng cho lớp người trẻ đứng trước sự giao thoa giữa quê và tỉnh, giữa truyền thống và hiện đại. Dù có chút “hương đồng gió nội bay đi ít nhiều”, hình ảnh “em” vẫn gợi vẻ duyên dáng, đáng yêu và nhắc nhở con người biết trân trọng, gìn giữ bản sắc quê hương.