Nguyễn Bảo Châu

Giới thiệu về bản thân

Chào mừng bạn đến với trang cá nhân của Nguyễn Bảo Châu
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
(Thường được cập nhật sau 1 giờ!)

Câu 1

Ngày 5.6.1911, Nguyễn Tất Thành dưới tên gọi Văn Ba đã quyết tâm ra đi tìm đường cứu nước.

Câu 2

Thông tin được trình bày theo trình tự thời gian.

Câu 3

– Phương tiện phi ngôn ngữ: Hình ảnh "Bến Nhà Rồng ngày nay là nơi thu hút khách du lịch".

– Tác dụng:

+ Giúp hỗ trợ biểu đạt thông tin, giúp người đọc hình dung được vẻ đẹp, khung cảnh của Bến Nhà Rồng.

+ Giúp văn bản trở nên sinh động, hấp dẫn.

Câu 4

– Các thông tin trong văn bản triển khai cụ thể những dấu ấn ấy:

+ Bến Nhà Rồng gắn với sự kiện Bác Hồ ra đi tìm đường cứu nước.

+ Gắn với những mốc lịch sử quan trọng của dân tộc và Thành phố Hồ Chí Minh.

– Nhan đề định hướng nội dung, làm rõ các dấu ấn lịch sử của Bến Nhà Rồng qua các giai đoạn được thể hiện qua các thông tin cơ bản.

Câu 5

– Học sinh trả lời theo quan điểm cá nhân và đưa ra lí giải phù hợp.

– Gợi ý trả lời: Việc gìn giữ, bảo tồn các di tích lịch sử có ý nghĩa vô cùng quan trọng:

+ Di tích lịch sử là nơi lưu giữ dấu ấn của quá khứ, giúp các thế hệ sau hiểu hơn về lịch sử dân tộc.

+ Di tích lịch sử là nơi giáo dục lòng yêu nước, niềm tự hào và biết ơn đối với những người đi trước.

+ Nếu không được bảo tồn, các di tích có thể bị mai một, xuống cấp theo thời gian, làm mất đi những dấu tích, "chứng nhân" lịch sử của dân tộc.v

Câu 1.


Thể thơ: Tám chữ.


Câu 2.


Đề tài: Khung cảnh bến đò ngày mưa.


Câu 3.


– HS xác định được một biện pháp tu từ có trong bài thơ: Nhân hóa, so sánh, liệt kê.


– HS phân tích được tác dụng của biện pháp tu từ đó:


+ Nhân hóa: Tre rũ rợi ven bờ chen ướt át; Vài quán hàng không khách đứng xo ro;... khiến cho sự vật hiện lên sinh động hơn.


+ So sánh: Ngoài đường lội họa hoằn người đến chợ/ Thúng đội đầu như đội cả trời mưa. Hình ảnh so sánh gợi lên trong tâm tưởng của bạn đọc khung cảnh ảm đạm, tiêu điều trong một ngày mưa ở bến đò.


+ Liệt kê: Chỉ ra những hình ảnh cảnh vật, con người trong ngày mưa tại bến đò, góp phần khắc họa chi tiết khung cảnh ảm đạm, tiêu điều ấy.


Câu 4.


– Bức tranh bến đò ngày mưa được tác giả miêu tả qua những hình ảnh: Tre rũ rợi, chuối bơ phờ, dòng sông trôi rào rạt, con thuyền đậu trơ vơ, quán hàng đứng xo ro, quán hàng đứng xo ro, một bác lái ghé vào hút điếu, bà hàng sù sụ sặc hơi, ho, họa hoằn có người đến chợ, họa hoằn có con thuyền ghé chở, thúng đội đầu như đội cả trời mưa.


– Những hình ảnh đó gợi cho em cảm nhận về một khung cảnh ảm đạm, hoang vắng, tiêu điều.


Câu 5.


Bức tranh bến đò ngày mưa là một bức tranh vắng lặng, ảm đạm, đơn điệu và tẻ nhạt, ẩn chứa nỗi buồn man mác. Dù bức tranh cảnh vật có bóng dáng của con người nhưng hình ảnh con người đều ít ỏi, dường như chỉ là "một", "họa hoằn" mới xuất hiện; còn khi xuất hiện thì hầu hết con người đều trong trạng thái mệt mỏi, buồn lặng, càng tô đậm thêm sự đơn điệu, ảm đạm của cảnh vật. Như vậy, qua bức tranh này, bài thơ gợi lên nỗi buồn man mác, sự lạnh lẽo, cô đơn trước cuộc sống vắng lặng, tiêu điều nơi đây.



Câu 1.


Thể thơ: Tám chữ.


Câu 2.


Đề tài: Khung cảnh bến đò ngày mưa.


Câu 3.


– HS xác định được một biện pháp tu từ có trong bài thơ: Nhân hóa, so sánh, liệt kê.


– HS phân tích được tác dụng của biện pháp tu từ đó:


+ Nhân hóa: Tre rũ rợi ven bờ chen ướt át; Vài quán hàng không khách đứng xo ro;... khiến cho sự vật hiện lên sinh động hơn.


+ So sánh: Ngoài đường lội họa hoằn người đến chợ/ Thúng đội đầu như đội cả trời mưa. Hình ảnh so sánh gợi lên trong tâm tưởng của bạn đọc khung cảnh ảm đạm, tiêu điều trong một ngày mưa ở bến đò.


+ Liệt kê: Chỉ ra những hình ảnh cảnh vật, con người trong ngày mưa tại bến đò, góp phần khắc họa chi tiết khung cảnh ảm đạm, tiêu điều ấy.


Câu 4.


– Bức tranh bến đò ngày mưa được tác giả miêu tả qua những hình ảnh: Tre rũ rợi, chuối bơ phờ, dòng sông trôi rào rạt, con thuyền đậu trơ vơ, quán hàng đứng xo ro, quán hàng đứng xo ro, một bác lái ghé vào hút điếu, bà hàng sù sụ sặc hơi, ho, họa hoằn có người đến chợ, họa hoằn có con thuyền ghé chở, thúng đội đầu như đội cả trời mưa.


– Những hình ảnh đó gợi cho em cảm nhận về một khung cảnh ảm đạm, hoang vắng, tiêu điều.


Câu 5.


Bức tranh bến đò ngày mưa là một bức tranh vắng lặng, ảm đạm, đơn điệu và tẻ nhạt, ẩn chứa nỗi buồn man mác. Dù bức tranh cảnh vật có bóng dáng của con người nhưng hình ảnh con người đều ít ỏi, dường như chỉ là "một", "họa hoằn" mới xuất hiện; còn khi xuất hiện thì hầu hết con người đều trong trạng thái mệt mỏi, buồn lặng, càng tô đậm thêm sự đơn điệu, ảm đạm của cảnh vật. Như vậy, qua bức tranh này, bài thơ gợi lên nỗi buồn man mác, sự lạnh lẽo, cô đơn trước cuộc sống vắng lặng, tiêu điều nơi đây.



câu 1

bài làm

nhân vật Sherlock Holmes hiện lên với hình ảnh một thám tử tài ba, thông minh phi thường  tinh thần quan sát nhạy bén. Holmes luôn quan sát tỉ mỉ từng chi tiết nhỏ  người khác thường bỏ qua, từ  thế, cử chỉ đến vật dụng xung quanh, từ đó suy diễn ra các thông tin quan trọng để giải quyết vụ án. Sự logic, suy luận sắc bén cùng khả năng kết nối các chi tiết rời rạc thành một bức tranh toàn cảnh khiến Holmes trở nên đặc biệt  đáng nể. Không chỉ vậy, nhân vật còn thể hiện lòng kiên nhẫn, tập trung cao độ  tinh thần công  vững chắc, sẵn sàng đi đến tận cùng sự thật. Sự kết hợp giữa trí tuệ vượt trội  phẩm chất đạo đức làm cho Holmes vừa  hình mẫu  tưởng của một thám tử, vừa  biểu tượng của sự uyên bác  tinh thần khám phá khoa học. Đoạn trích không chỉ miêu tả hành động điều tra  còn làm nổi bật  tính độc đáo, sáng tạo   duy phân tích nghiêm ngặt của nhân vật, tạo nên sức hấp dẫn lâu bền đối với độc giả. Sherlock Holmes  thế hiện lên như một nhân vật thấm sâu trí tuệ  nhân văn, vĩnh viễn gắn liền với văn hóa trinh thám thế giới.

câu 2

Trong thời đại hội nhập quốc tế sâu rộng, đất nước ta đang đứng trước nhiều cơ hội phát triển nhưng cũng đối mặt với không ít thách thức. Thế hệ trẻ – những người sẽ kế tục sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc – mang trên vai một trách nhiệm to lớn, vừa là nghĩa vụ, vừa là sứ mệnh cao cả.

Hội nhập quốc tế mở ra cánh cửa để chúng ta tiếp cận tri thức, khoa học – công nghệ tiên tiến, giao lưu văn hóa và mở rộng hợp tác kinh tế. Tuy nhiên, đi cùng với đó là sự cạnh tranh gay gắt, nguy cơ mai một bản sắc văn hóa và những tác động tiêu cực từ các trào lưu, lối sống lệch lạc. Trong bối cảnh ấy, trách nhiệm của thế hệ trẻ không chỉ dừng lại ở việc học tập, rèn luyện để nâng cao tri thức và kỹ năng, mà còn phải giữ gìn, phát huy những giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc.

Người trẻ cần chủ động trang bị cho mình tư duy sáng tạo, khả năng ngoại ngữ, kỹ năng làm việc nhóm và tinh thần hội nhập để có thể tự tin bước ra thế giới. Đồng thời, phải nuôi dưỡng lòng yêu nước, ý thức tự tôn dân tộc, biết chọn lọc tinh hoa nhân loại mà không đánh mất bản sắc Việt Nam. Mỗi cá nhân, dù ở bất kỳ lĩnh vực nào, cũng có thể đóng góp cho đất nước bằng những hành động thiết thực: nghiên cứu khoa học, khởi nghiệp sáng tạo, tham gia các hoạt động cộng đồng, bảo vệ môi trường, hay đơn giản là sống có trách nhiệm và tử tế.

Trách nhiệm của thế hệ trẻ hôm nay chính là tiếp nối và phát huy những thành quả cha ông để lại, đồng thời tạo dựng một Việt Nam năng động, văn minh và giàu bản sắc trong mắt bạn bè quốc tế. Khi mỗi người trẻ ý thức được vai trò của mình và nỗ lực hết mình, đất nước sẽ vững vàng tiến bước trên con đường hội nhập và phát triển bền vững.

câu 1

Bài thơ Việt Nam quê hương ta đã khắc họa một bức tranh đất nước tươi đẹp, giàu sức sống và đậm đà bản sắc dân tộc. Qua những hình ảnh giản dị mà gợi cảm, tác giả đã đưa người đọc đi qua những miền quê thanh bình, nơi có lũy tre xanh, cánh đồng lúa chín vàng, dòng sông êm đềm và những con người cần cù, hiền hậu. Mỗi câu thơ như một nét vẽ tinh tế, vừa chan chứa tình yêu quê hương, vừa gợi niềm tự hào về truyền thống kiên cường, bất khuất của dân tộc Việt Nam. Đọc bài thơ, em cảm nhận rõ hơn vẻ đẹp của thiên nhiên đất nước – không chỉ đẹp ở cảnh sắc mà còn đẹp ở tâm hồn con người. Từng câu chữ như nhắc nhở chúng ta biết trân trọng, giữ gìn và phát huy những giá trị tốt đẹp mà cha ông đã gây dựng. Bài thơ không chỉ là lời ca ngợi quê hương, mà còn là lời nhắn gửi thế hệ trẻ hôm nay hãy yêu nước bằng những hành động thiết thực, góp phần xây dựng Tổ quốc ngày càng giàu mạnh. Với em, Việt Nam quê hương ta là một khúc hát ngọt ngào, ấm áp, khiến tình yêu quê hương trong tim càng thêm sâu đậm.


câu 2

Tinh thần dân tộc là một giá trị thiêng liêng, kết tinh từ lịch sử dựng nước và giữ nước hàng nghìn năm của dân tộc Việt Nam. Đó là tình yêu quê hương, niềm tự hào về truyền thống, ý chí kiên cường và khát vọng vươn lên để bảo vệ, xây dựng đất nước

Từ thuở dựng nước, cha ông ta đã phải đối mặt với biết bao thử thách: thiên tai khắc nghiệt, giặc ngoại xâm liên tiếp. Chính trong gian khó ấy, tinh thần dân tộc đã trở thành sợi dây gắn kết mọi người, giúp dân tộc ta chiến thắng những kẻ thù mạnh hơn gấp bội. Những chiến công vang dội như Bạch Đằng, Chi Lăng, Điện Biên Phủ hay Đại thắng mùa Xuân 1975 đều là minh chứng hùng hồn cho sức mạnh ấy.

Tinh thần dân tộc không chỉ thể hiện trong chiến tranh mà còn tỏa sáng trong hòa bình. Đó là sự đoàn kết, tương thân tương ái khi đồng bào gặp thiên tai; là niềm tự hào khi văn hóa, thể thao, khoa học Việt Nam vươn ra thế giới; là ý thức giữ gìn tiếng Việt, phong tục, tập quán và truyền thống tốt đẹp. Trong thời đại hội nhập, tinh thần dân tộc còn là động lực để mỗi người Việt Nam học hỏi, sáng tạo, khẳng định bản sắc nhưng vẫn hòa nhập với cộng đồng quốc tế.Tuy nhiên, bên cạnh những biểu hiện tích cực, vẫn còn một bộ phận người chưa ý thức đầy đủ về tinh thần dân tộc, dễ bị cuốn theo lối sống thực dụng, thờ ơ với các giá trị truyền thống. Điều đó đòi hỏi mỗi chúng ta, đặc biệt là thế hệ trẻ, phải nuôi dưỡng lòng yêu nước bằng những hành động thiết thực: học tập tốt, lao động sáng tạo, sống có trách nhiệm với cộng đồng và đất nước.

Tinh thần dân tộc là ngọn lửa bất diệt trong trái tim mỗi người Việt Nam. Giữ gìn và phát huy ngọn lửa ấy chính là cách chúng ta tri ân quá khứ, sống trọn vẹn với hiện tại và xây dựng tương lai tươi sáng cho Tổ quốc.



Câu 1. 

Thể thơ: Lục bát.

Câu 2. 

Phương thức biểu đạt chính của bài thơ: Biểu cảm. 

Câu 3. 

– HS xác định được một biện pháp tu từ trong khổ thơ: Lặp cấu trúc (Ta đi ta nhớ ...), điệp từ (nhớ), liệt kê (rừng, dòng sông, đồng ruộng, khoai ngô, bữa cơm rau muống, quả cà giòn tan).

– HS phân tích được tác dụng của một biện pháp tu từ: 

+ Lặp cấu trúc: Nhấn mạnh tình yêu, nỗi nhớ của người con xa quê dành cho quê của mình. 

+ Điệp từ: Khẳng định nỗi nhớ của người con xa quê dành cho quê hương thông qua những sự vật quen thuộc, bình dị như núi đồng ruộng, khoai ngô. 

+ Liệt kê: Chỉ ra những sự vật bình dị, quen thuộc của quê hương như núi rừng, dòng sông, đồng ruộng, khoai ngô, bữa cơm rau muống, quả cà giòn tan, qua đó thể hiện tình yêu, sự trân trọng của người con xa quê dành cho quê hương của mình. 

Câu 4. 

Con người Việt Nam hiện lên trong bài thơ với những phẩm chất:

– Dũng cảm, anh hùng: Khi đất nước lâm nguy, con người Việt Nam sẵn sàng vùng lên đấu tranh, đánh tan quân thù: Đạp quân thù xuống đất đen.

– Hiền hòa, chăm chỉ, cần cù: Mặt người vất vả in sâu/ Gái trai cũng một áo nâu nhuộm bùn; Súng gươm vứt bỏ lại hiền như xưa.

– Thủy chung, trọng tình: Yêu ai yêu trọn tấm tình thuỷ chung; Nước bâng khuâng những chuyến đò/ Đêm đêm còn vọng câu hò Trương Chi;...

– Khéo léo, tinh tế: Tay người như có phép tiên/ Trên tre lá cũng dệt nghìn bài thơ;... 

Câu 5. 

 Đề tài: Vẻ đẹp của quê hương, đất nước. 

– Chủ đề: Tình yêu, sự trân trọng, ngợi ca dành cho vẻ đẹp và con người quê hương, đất nước. 

Câu 1. 

Thể loại: Truyện trinh thám. 

Câu 2. 

Ngôi kể: Ngôi thứ ba. 

Câu 3. 

– HS chỉ ra được kiểu câu ghép: Câu ghép đẳng lập.  

– HS xác định được quan hệ ý nghĩa giữa các vế của câu ghép:

+ Vế 1: Tôi bắt đầu xem xét đoạn đường dẫn đến ngôi nhà.

+ Vế 2: tôi thấy rõ những vệt bánh xe, loại xe nhỏ hai chỗ chở thuê.

+ Vế 3: tôi biết chắc là xe này đã đậu ở đấy đêm trước.

=> Các vế câu được nối với nhau bởi kết từ , thể hiện quan hệ bổ sung giữa các vế câu. 

Câu 4. 

Vụ án này được coi là một vụ án nan giải, hóc búa vì:

– Trên thi thể của nạn nhân không hề có vết thương nào nhưng trong căn phòng lại có nhiều vết máu.

– Tại hiện trường vụ án có nhiều điểm đáng ngờ như chiếc nhẫn cưới, chữ viết “Rache” trên mé tường tối tăm và dưới thi thể của nạn nhân thứ hai.

– Hai vụ án xảy ra liên tiếp khiến cho các điều tra viên phải đau đầu vì khó mà xác định được nghi phạm và động cơ gây án thực sự.  

Câu 5. 

– HS dựa vào cách lập luận của Holmes trong văn bản để đưa ra nhận xét khái quát.  

– Ví dụ: Holmes là một thám tử tài ba vì ông có cách lập luận vô cùng chặt chẽ, giàu sức thuyết phục:

+ Trước một vụ án nan giải, ông đã tư duy ngược để tìm ra hung thủ thực sự dựa trên cái nhìn khách quan, công bằng.

+ Ông còn tận dụng được triệt để các manh mối, dù là manh mối nhỏ nhất bị cảnh sát bỏ qua để xác lập nên các giả thiết, thu hẹp các khả năng để từ đó tìm ra hung thủ. 

Câu 1. 

Thể loại: Truyện trinh thám. 

Câu 2. 

Ngôi kể: Ngôi thứ ba. 

Câu 3. 

– HS chỉ ra được kiểu câu ghép: Câu ghép đẳng lập.  

– HS xác định được quan hệ ý nghĩa giữa các vế của câu ghép:

+ Vế 1: Tôi bắt đầu xem xét đoạn đường dẫn đến ngôi nhà.

+ Vế 2: tôi thấy rõ những vệt bánh xe, loại xe nhỏ hai chỗ chở thuê.

+ Vế 3: tôi biết chắc là xe này đã đậu ở đấy đêm trước.

=> Các vế câu được nối với nhau bởi kết từ , thể hiện quan hệ bổ sung giữa các vế câu. 

Câu 4. 

Vụ án này được coi là một vụ án nan giải, hóc búa vì:

– Trên thi thể của nạn nhân không hề có vết thương nào nhưng trong căn phòng lại có nhiều vết máu.

– Tại hiện trường vụ án có nhiều điểm đáng ngờ như chiếc nhẫn cưới, chữ viết “Rache” trên mé tường tối tăm và dưới thi thể của nạn nhân thứ hai.

– Hai vụ án xảy ra liên tiếp khiến cho các điều tra viên phải đau đầu vì khó mà xác định được nghi phạm và động cơ gây án thực sự.  

Câu 5. 

– HS dựa vào cách lập luận của Holmes trong văn bản để đưa ra nhận xét khái quát.  

– Ví dụ: Holmes là một thám tử tài ba vì ông có cách lập luận vô cùng chặt chẽ, giàu sức thuyết phục:

+ Trước một vụ án nan giải, ông đã tư duy ngược để tìm ra hung thủ thực sự dựa trên cái nhìn khách quan, công bằng.

+ Ông còn tận dụng được triệt để các manh mối, dù là manh mối nhỏ nhất bị cảnh sát bỏ qua để xác lập nên các giả thiết, thu hẹp các khả năng để từ đó tìm ra hung thủ. 

Bảng giá trị của \(y\) tương ứng với giá trị của \(x\) như sau:

 

\(x\)

 

 

\(- 4\)

 

 

\(- 2\)

 

 

\(0\)

 

 

\(2\)

 

 

\(4\)

 

 

\(y = - \frac{1}{4} x^{2}\)

 

\(- 4\)

\(- 1\)

\(0\)

\(- 1\)

\(- 4\)

Vẽ các điểm \(A \left(\right. - 4 ; - 4 \left.\right) ,\) \(B \left(\right. - 2 ; - 1 \left.\right)\)\(O \left(\right. 0 ; 0 \left.\right) ,\) \(C \left(\right. 2 ; - 1 \left.\right) ,\) \(D \left(\right. 4 ; - 4 \left.\right)\) thuộc đồ thị hàm số \(y = - \frac{1}{4} x^{2}\) trong mặt phẳng \(O x y\).

Vẽ đường parabol đi qua các điểm trên, ta nhận được đồ thị của hàm số \(y = - \frac{1}{4} x^{2}\).

loading...

b)

- Thay \(x = - 8\) vào đồ thị của hàm số \(y = - \frac{1}{4} x^{2}\) ta được: \(y = - \frac{1}{4} \left(\right. - 8 \left.\right)^{2} = - 16\),

Do đó điểm \(E \left(\right. - 8 ; - 16 \left.\right)\) thuộc đồ thị hàm số đã cho.

- Thay \(x = - \frac{1}{3}\) vào đồ thị của hàm số \(y = - \frac{1}{4} x^{2}\) ta được: \(y = - \frac{1}{4} \left(\right. - \frac{1}{3} \left.\right)^{2} = - \frac{1}{36}\),

Do đó điểm \(F \left(\right. - \frac{1}{3} ; - \frac{1}{36} \left.\right)\) thuộc đồ thị hàm số đã cho.

- Thay \(x = \frac{2}{5}\) vào đồ thị của hàm số \(y = - \frac{1}{4} x^{2}\) ta được: \(y = - \frac{1}{4} \left(\right. \frac{2}{5} \left.\right)^{2} = - \frac{4}{100} \neq \frac{4}{100}\),

Do đó điểm \(Q \left(\right. \frac{2}{5} ; \frac{4}{100} \left.\right)\) không thuộc đồ thị hàm số đã cho.

Ta thay tọa độ x vào hàm số y=2x2 để xem có đúng bằng y của điểm đó không.

  • Điểm M(-4; 32):
    y=2(−4)2=2⋅16=32.
    M thuộc đồ thị.
  • Điểm N(−12;12):
    y=2(−12)2=2⋅14=12.
    N thuộc đồ thị.
  • Điểm Q(34;916):
    y=2(34)2=2⋅916=1816=98.
    Trong khi tung độ của Q là 916.
    Q không thuộc đồ thị.