Trần Đỗ Linh Đan
Giới thiệu về bản thân
Từ xưa, các trò chơi dân gian đã giúp con người, đặc biệt là trẻ em giải trí, thư giãn. Một trong những trò chơi thú vị, hấp dẫn nhất mà chắc hẳn nhiều người sẽ biết đến là cướp cờ.
Trò chơi cướp cờ có quy tắc, luật chơi khá đơn giản. Về số lượng người, trò chơi này không hạn chế. Tuy nhiên, người chơi phải chia làm hai đội nên tổng số người chơi phải là chẵn. Mỗi đội thường có từ ba đến năm thành viên. Một người sẽ được cử làm quản trò.
Không gian chơi thường ở những nơi rộng rãi, thoáng mát và bằng phẳng như sân trường, nhà thể chất… Đầu tiên, người chơi sẽ phải chọn vật làm “cờ”. Đây là vật mà hai bên đội sẽ phải cạnh tranh để giành được. Người chơi thể sử dụng khăn đỏ, cành cây… làm “cờ”. Tiếp đến, người chơi sẽ phải kẻ sân chơi. Giữa sân chơi vẽ một vòng tròn có đường kính khoảng 20 - 25cm. Ở giữa vòng tròn, đặt vật làm cờ. Ở mỗi đầu sân, kẻ hai đường thẳng song song, đối xứng với nhau qua vòng tròn, cách vòng tròn khoảng 6 đến 7m. Đây là vị trí đứng của mỗi đội.
Trò chơi cướp cờ giúp rèn luyện phản xạ, sự dẻo dai và nhanh nhẹn của mỗi người. Không chỉ vậy, trò chơi này còn giúp rèn luyện tinh thần đồng đội, khả năng hợp tác của mỗi người. Đây là một trò chơi rất hấp dẫn, thú vị.
hắc đến trò chơi dân gian của Việt Nam, chúng ta không thể không nhắc đến thả diều. Một trò chơi xuất hiện từ rất lâu rồi nhưng vẫn còn tồn tại đến tận ngày hôm nay.
Trò chơi thả diều đã có từ ngàn xưa, được hình thành trong quá trình sinh hoạt và lao động của người Việt Nam Ở Việt Nam. Với tuổi thơ của rất nhiều người, hình ảnh những cánh diều trên cánh đồng quê đã trở nên vô cùng quen thuộc. Hay hình ảnh những chú bé chăn trâu ngồi vắt vẻo trên lưng trâu thả diều đã trở thành một biểu tượng của làng quê Việt Nam.
Cánh diều thường có hình trăng lưỡi liềm. Khung diều làm bằng cật tre mềm, khi nâng lên phải nhẹ nhưng vẫn giữ được độ chắc chắn. Cánh diều có hình dáng cong cong, nhìn từ xa giống như là hình lưỡi liềm. Nguyên liệu chính dùng để làm diều là giấy bản. Cách làm diều trông có vẻ đơn giản nhưng vẫn đòi hỏi sự khéo léo mới có thể làm được. Diều sáo là một loại hình diều được ưa chuộng bởi khi lên cao, tiếng gió thổi vào cây sáo sẽ tạo thành âm thanh du dương, tha thiết.
Thả diều là một trò chơi dân gian thú vị, hấp dẫn của mọi lứa tuổi. Người chơi sẽ dựa vào sức gió của thiên nhiên để đưa diều lên cao qua một sợi dây dài. Gió không mạnh quá và không được nhẹ quá. Thời điểm thích hợp nhất là buổi chiều gió lộng. Hình ảnh những đứa trẻ tụ tập trên những khu đất trống cùng nhau hò hét, chạy theo cánh diều đã là hình ảnh quen thuộc ở làng quê Việt Na,
Ngày nay, diều vẫn nhận được sự yêu thích của mọi tầng lớp thế hệ qua những hình dáng, màu sắc đầy sáng tạo. Các cuộc thi thả diều lớn được tổ chức thường niên và nhận được nhiều sự quan tâm của mọi người.
Xem thêm tại: https://loigiaihay.com/thuyet-minh-ve-quy-tac-hoac-luat-le-tro-choi-tha-dieu-lop-7-a161841.html
Pháo đất là trò chơi tập thể, có nhiều người tham dự và được chia thành các đội khác nhau. Người chơi pháo đất không chỉ có trẻ con mà còn có cả người lớn. Tùy vào từng đối tượng và lứa tuổi mà kĩ năng và yêu cầu làm pháo sẽ khác nhau. Ở một số lễ hội, pháo đất đa phần có kích thước lớn, chủ yếu dành cho những thanh niên trai tráng, có sức khỏe và thân hình vạm vỡ trong làng.
Để chơi được pháo đất cần có không gian rộng rãi như sân đình, sân làng. Đúng như tên gọi, pháo đất được làm từ loại đất có độ dẻo cao là đất sét. Người dân làm pháo đất bằng cách phơi khô đất sét thô, đập nhỏ và rồi lọc qua nước cho thật dẻo. Cuối cùng, đất được nhặt hết xơ, sạn. Đất được làm kĩ càng thì cho tiếng nổ càng to và vang.
Sau khi hiệu lệnh bắt đầu vang lên, mỗi đội hoặc người chơi sẽ được giao một phần đất để làm pháo. Để làm pháo, người chơi cần nặn lòng pháo hình bầu dục, vuốt nhẵn mép cho thật phẳng. Vành của pháo đất phải được nặn sao cho nó có thể úp khít xuống mặt sân chơi. Vành pháo nếu đạt đến độ chỉnh xác và tỉ mỉ sẽ cho ra được tiếng nổ to, vang. Kết thúc thời gian chuẩn bị, người chơi sẽ tiến hành nổ pháo bằng cách lấy tay cầm đáy và gieo xuống đất sao cho vành pháo tiếp xúc với bề mặt sân chơi. Nếu tiếng pháo của ai nổ to nhất thì người đó sẽ giành chiến thắng.
Pháo đất ra đời đã lâu song đến nay, trò chơi này vẫn được lưu truyền trong văn hóa dân gian và trở thành nét đẹp văn hóa. Thú vui ấy không chỉ rèn luyện cho mỗi người tính tỉ mẩn, cẩn thận mà còn tạo nên bầu không khí tươi vui, rộn ràng. Mọi người sẽ được đắm chìm trong những tiếng cười rộn rã và cùng nhau thưởng thức những tràng pháo "đinh tai nhức óc". Đây quả là một trò chơi đặc sắc trong kho tàng văn hóa Việt Nam.
Trong lịch sử dân tộc Việt Nam, thời kỳ phong kiến đã ghi dấu nhiều chiến công hiển hách chống giặc ngoại xâm. Một trong những vị anh hùng kiệt xuất mà em vô cùng kính phục là Lý Thường Kiệt, vị tướng tài ba dưới triều Lý, người đã lãnh đạo quân dân ta đánh tan quân Tống trong cuộc kháng chiến năm 1075 – 1077.
Lý Thường Kiệt vốn tên là Ngô Tuấn, quê ở Thăng Long. Ông có dáng người cao lớn, khỏe mạnh, khuôn mặt vuông vức, vầng trán rộng biểu hiện trí tuệ minh mẫn. Đôi mắt ông sáng quắc, luôn ánh lên sự quyết đoán và lòng dũng cảm. Khi khoác lên mình bộ giáp sắt, cưỡi ngựa ra trận, ông hiện lên oai phong lẫm liệt, như một vị thần hộ mệnh của đất nước. Giọng nói sang sảng, dõng dạc của ông khiến quân sĩ thêm phần tin tưởng, còn giặc thù thì khiếp sợ.
Một sự việc có thật gắn liền với tên tuổi Lý Thường Kiệt là trận Như Nguyệt năm 1077. Khi quân Tống tràn sang xâm lược nước ta, ông đã cho quân ta lập phòng tuyến bên bờ sông Như Nguyệt. Đêm ấy, trong tiếng trống trận dồn dập, ông cho quân sĩ đọc vang bài thơ “Nam quốc sơn hà”. Giọng đọc sang sảng vang vọng khắp núi sông, hòa cùng tiếng gió, tiếng nước, khiến quân sĩ như được tiếp thêm sức mạnh. Lời thơ khẳng định chủ quyền dân tộc, như một lời thề sắt đá:
"Nam quốc sơn hà Nam đế cư,
Tiệt nhiên định phận tại thiên thư.
Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm,
Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư."
Nghe những lời ấy, quân sĩ Đại Việt càng thêm quyết tâm, ánh mắt sáng rực niềm tin chiến thắng. Còn quân Tống thì hoang mang, lo sợ, nhuệ khí giảm sút. Dưới sự chỉ huy tài tình của Lý Thường Kiệt, quân ta đã đánh tan quân xâm lược, bảo vệ vững chắc bờ cõi.
Hình ảnh Lý Thường Kiệt trong trận Như Nguyệt thật oai phong: dáng đứng hiên ngang trên bờ sông, ánh mắt kiên định, giọng nói vang vọng như tiếng sấm. Ông không chỉ là một vị tướng tài ba mà còn là người khơi dậy tinh thần yêu nước, biến thơ ca thành vũ khí tinh thần sắc bén.
Chiến thắng Như Nguyệt đã khẳng định tài thao lược của Lý Thường Kiệt và để lại cho dân tộc một áng thơ bất hủ – bản tuyên ngôn độc lập đầu tiên của nước ta. Hình ảnh vị tướng với dáng vẻ oai phong, ánh mắt sáng ngời niềm tin sẽ mãi là tấm gương sáng cho thế hệ trẻ noi theo.
Trong lịch sử dân tộc Việt Nam, có rất nhiều nhân vật đã để lại dấu ấn sâu đậm. Một trong những người mà em vô cùng kính phục là Trần Hưng Đạo, vị tướng tài ba đã ba lần lãnh đạo quân dân Đại Việt đánh bại giặc Nguyên – Mông.
Trần Hưng Đạo có dáng người cao lớn, gương mặt uy nghi, vầng trán rộng biểu hiện trí tuệ minh mẫn. Đôi mắt ông sáng quắc, luôn toát lên sự quyết đoán và lòng dũng cảm. Mỗi khi ông mặc áo giáp, cưỡi ngựa ra trận, dáng vẻ oai phong lẫm liệt khiến quân sĩ thêm phần tin tưởng, giặc thù thì khiếp sợ.
Một sự việc mà em nhớ nhất là trận Bạch Đằng năm 1288. Hôm ấy, dưới sự chỉ huy của Trần Hưng Đạo, quân dân ta đã chuẩn bị bãi cọc ngầm dưới lòng sông. Khi đoàn thuyền giặc Nguyên – Mông tiến vào, ông ra lệnh cho quân ta vừa đánh vừa nhử giặc vào trận địa. Nước triều rút, thuyền giặc mắc cạn vào bãi cọc, quân ta đồng loạt tấn công. Trần Hưng Đạo đứng trên mũi thuyền, tay cầm kiếm chỉ huy, giọng nói vang dội khích lệ tinh thần binh sĩ. Khuôn mặt ông rạng rỡ, ánh mắt sáng ngời niềm tin chiến thắng. Cuối cùng, quân giặc thảm bại, nhiều thuyền bị đâm thủng, xác giặc chất đầy sông Bạch Đằng.
Chiến thắng ấy không chỉ bảo vệ đất nước khỏi sự xâm lăng mà còn ghi dấu tên tuổi Trần Hưng Đạo vào lịch sử dân tộc như một vị anh hùng kiệt xuất
Câu chuyện về Trần Hưng Đạo giúp em hiểu rằng sức mạnh của lòng yêu nước, trí tuệ và sự đoàn kết có thể chiến thắng mọi kẻ thù. Hình ảnh vị tướng với dáng vẻ oai phong, ánh mắt kiên định sẽ mãi là tấm gương sáng cho thế hệ trẻ noi theo.
Quê hương em – Bắc Ninh – không chỉ nổi tiếng với làn điệu dân ca quan họ ngọt ngào, mà còn là nơi sinh ra nhiều nhân vật lịch sử kiên trung. Trong số đó, em luôn nhớ đến đồng chí Ngô Gia Tự, người con ưu tú của làng Tam Sơn, Từ Sơn.
Ngô Gia Tự khi còn trẻ có dáng người gầy nhưng rắn rỏi, khuôn mặt sáng sủa, đôi mắt đen sâu thẳm luôn ánh lên sự thông minh và nghị lực. Mái tóc ông thường được chải gọn gàng, toát lên vẻ nghiêm nghị của một người trí thức. Dáng đi nhanh nhẹn, giọng nói dõng dạc khiến bất cứ ai gặp cũng cảm nhận được khí chất mạnh mẽ và quyết đoán.
Một sự việc mà người dân quê em thường kể lại là vào năm 1929, khi phong trào cách mạng đang sôi nổi, Ngô Gia Tự đã cùng các đồng chí thành lập Chi bộ Cộng sản đầu tiên ở Bắc Kỳ. Hôm ấy, trong căn nhà nhỏ ở phố Hàng Than, Hà Nội, ông mặc bộ áo dài nâu giản dị, gương mặt rạng rỡ nhưng ánh mắt đầy quyết tâm. Ông đứng lên phát biểu, giọng nói vang vọng, khẳng định con đường cách mạng là con đường duy nhất để giành lại độc lập cho dân tộc. Những người có mặt đều bị cuốn hút bởi phong thái và niềm tin sắt đá của ông.
Dù tuổi đời còn trẻ, Ngô Gia Tự đã trở thành ngọn lửa thắp sáng niềm tin cho bao thanh niên Bắc Ninh và khắp nơi. Sau này, khi bị thực dân Pháp bắt giam, ông vẫn giữ dáng vẻ hiên ngang, ánh mắt kiên định không hề nao núng. Cuộc đời ông khép lại trên biển cả năm 1935, nhưng hình ảnh người thanh niên gầy gò, đôi mắt sáng rực niềm tin cách mạng vẫn sống mãi trong lòng quê hương.
Câu chuyện về Ngô Gia Tự là niềm tự hào của Bắc Ninh. Ngoại hình giản dị nhưng khí chất mạnh mẽ của ông đã trở thành biểu tượng cho tinh thần bất khuất. Thế hệ trẻ chúng em học được từ ông bài học: sống có lý tưởng, dám hy sinh vì đất nước, và luôn giữ vững niềm tin vào con đường mình đã chọn.
a) Thể tích của hình hộp chữ nhật đã cho là:
\(V = x \left(\right. x - 1 \left.\right) \left(\right. x + 1 \left.\right) = x^{3} - x\)
b) Tại \(x = 4\), thể tích của hình hộp chữ nhật là:
\(V = 4^{3} - 4 = 60\) (đơn vị thể tích)
\(-\) | \(2 x^{4}\) | \(- 3 x^{3}\) | \(- 3 x^{2}\) | \(+ 6 x\) | \(- 2\)
|
\(x^{2} - 2\) |
\(2 x^{4}\) |
| \(- 4 x^{2}\) |
|
|
\(2 x^{2} - 3 x + 1\) | |
| \(-\) | \(- 3 x^{3}\) | \(+ x^{2}\) | \(+ 6 x\) | \(- 2\) |
|
| \(- 3 x^{3}\) |
| \(+ 6 x\) |
|
| |
|
| \(-\) | \(x^{2}\) |
| \(- 2\) |
|
|
| \(x^{2}\) |
| \(- 2\) |
| |
|
|
|
|
| \(0\) |
|
5x(4x2−2x+1)−2x(10x2−5x+2)=−36
\(5 x . 4 x^{2} + 5 x . \left(\right. - 2 x \left.\right) + 5 x . 1 + \left(\right. - 2 x \left.\right) . 10 x^{2} + \left(\right. - 2 x \left.\right) . \left(\right. - 5 x \left.\right) + \left(\right. - 2 x \left.\right) . 2 = - 36\)
\(20 x^{3} + \left(\right. - 10 x^{2} \left.\right) + 5 x + \left(\right. - 20 x^{3} \left.\right) + 10 x^{2} + \left(\right. - 4 x \left.\right) = - 36\)
\(\left(\right. 20 x^{3} - 20 x^{3} \left.\right) + \left(\right. - 10 x^{2} + 10 x^{2} \left.\right) + \left(\right. 5 x - 4 x \left.\right) = - 36\)
\(x = - 36\)
Vậy \(x = - 36\).
a) \(P \left(\right. x \left.\right) + Q \left(\right. x \left.\right)\)
\(= \left(\right. x^{4} - 5 x^{3} + 4 x - 5 \left.\right) + \left(\right. - x^{4} + 3 x^{2} + 2 x + 1 \left.\right)\)
\(= x^{4} - 5 x^{3} + 4 x - 5 - x^{4} + 3 x^{2} + 2 x + 1\)
\(= \left(\right. x^{4} - x^{4} \left.\right) - 5 x^{3} + 3 x^{2} + \left(\right. 4 x + 2 x \left.\right) + \left(\right. 1 - 5 \left.\right)\)
\(= - 5 x^{3} + 3 x^{2} + 6 x - 4\)
b) \(R \left(\right. x \left.\right) = P \left(\right. x \left.\right) - Q \left(\right. x \left.\right)\)
\(= \left(\right. x^{4} - 5 x^{3} + 4 x - 5 \left.\right) - \left(\right. - x^{4} + 3 x^{2} + 2 x + 1 \left.\right)\)
\(= x^{4} - 5 x^{3} + 4 x - 5 + x^{4} - 3 x^{2} - 2 x - 1\)
\(= \left(\right. x^{4} + x^{4} \left.\right) - 5 x^{3} - 3 x^{2} + \left(\right. 4 x - 2 x \left.\right) + \left(\right. - 1 - 5 \left.\right)\)
\(= 2 x^{4} - 5 x^{3} - 3 x^{2} + 2 x - 6\)