Nguyễn Thị Bảo Trâm

Giới thiệu về bản thân

Chào mừng bạn đến với trang cá nhân của Nguyễn Thị Bảo Trâm
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
(Thường được cập nhật sau 1 giờ!)

Đoạn trích "Hoa rừng" của Dương Thị Xuân Quý là khúc ca ngợi ca vẻ đẹp bình dị nhưng cao quý của con người trong chiến tranh. Đặc sắc nội dung trước hết nằm ở việc khắc họa hình tượng nhân vật Phước - tiêu biểu cho thế hệ phụ nữ giao liên kiên cường, dũng cảm, bất chấp bom đạn, mưa bão để bảo vệ và dẫn đường cho bộ đội. Qua hành động mang ba lô giúp, hái hoa rừng trang trí buổi lễ đoàn, Phước hiện lên không chỉ là một chiến sĩ dũng cảm mà còn là một cô gái dịu dàng, giàu tình cảm, tinh tế. Bên cạnh đó, nội dung còn thể hiện bài học sâu sắc về sự thấu hiểu qua thái độ hối hận của Đoàn trưởng Thăng và các chiến sĩ. Họ nhận ra sai lầm khi đánh giá vội vàng, từ đó trân trọng hơn sự hi sinh lặng lẽ. Hình ảnh "hoa rừng" cuối truyện là ẩn dụ tuyệt đẹp cho những con người như Phước – mỏng manh nhưng kiên cường, mọc lên từ gian khổ nhưng tỏa hương thơm ngát.

Câu 1: Phương thức biểu đạt chính: tự sự.

Câu 2: Nhân vật phước hái hoa để dùng cho buổi lễ kết nạp đoàn viên mới.

Câu 3: Những câu phẩm chất đáng quý của Phước là:

- Dũng cảm,kiên cường: Xuyên rừng trong mưa bão,bom đại.

- Tận tụy,trách nhiệm: Không quản ngại vất vả,mang ba lô hộ chiến sĩ

Câu 4:

Ngôi kể: Ngôi thứ 3

Tác dụng: Giúp người kể chuyện linh hoạt, có thể bao quát toàn bộ câu chuyện từ nhiều điểm nhìn (cả Phước và các chiến sĩ), tạo sự khách quan, chân thực và giúp khắc họa tâm lý nhân vật sâu sắc.

Câu 5 : Bài học về cách nhìn nhận người khác: Không nên vội vàng đánh giá người khác chỉ qua một vài hành động hay biểu hiện bề ngoài. Cần nhìn nhận con người một cách thấu đáo, toàn diện, biết thấu cảm và tìm hiểu hoàn cảnh của họ trước khi buông lời trách móc. Sự tôn trọng, thấu hiểu sẽ giúp chúng ta nhận ra những vẻ đẹp ẩn giấu đằng sau những vẻ ngoài bình dị (như cách nhìn về cô gái giao liên "hoa rừng").

Bài làm Nguyễn Thành Long là cây bút chuyên về truyện ngắn và ký. Truyện ngắn "Lặng lẽ Sa Pa" (viết năm 1970) là kết quả của chuyến đi thực tế Lào Cai, khắc họa thành công hình ảnh những con người lao động thầm lặng, say mê cống hiến cho đất nước trong bối cảnh xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc. Trước hết, tác phẩm gây ấn tượng qua việc xây dựng nhân vật chính – anh thanh niên làm công tác khí tượng trên đỉnh Yên Sơn cao 2600m. Anh được khắc họa với vẻ đẹp tâm hồn cao quý: lòng yêu nghề và tinh thần trách nhiệm cao độ. Dù làm việc "lặng lẽ" một mình trên đỉnh núi cao, "thèm người", anh vẫn duy trì nề nếp "ốp" đúng giờ, bất kể đêm đông giá rét. Anh không cảm thấy cô đơn vì coi công việc là bạn. Hơn nữa, anh thanh niên còn là người có lối sống ngăn nắp, giản dị, yêu đời (trồng hoa, nuôi gà, đọc sách) và sự hiếu khách, chân thành, nồng hậu khiến ông họa sĩ và cô kỹ sư xúc động. Không chỉ có anh thanh niên, "Lặng lẽ Sa Pa" còn tôn vinh những "con người lặng lẽ" khác. Đó là bác lái xe tận tâm, là ông kỹ sư vườn rau dũng cảm quên mình, là anh cán bộ nghiên cứu bản đồ sét đã dành cả đời theo dõi sét. Họ là những con người lao động bình thường nhưng có suy nghĩ cao đẹp, cống hiến hết mình mà không cần ai biết đến, không cần danh vọng. Nghệ thuật của truyện nổi bật với cốt truyện đơn giản, nhẹ nhàng nhưng giàu chất thơ. Cảnh sắc Sa Pa được miêu

Bài 2:

Cảm nhận về cảm hứng của nhà thơ trong bài "Khi mùa mưa đến" Cảm hứng chủ đạo trong bài thơ "Khi mùa mưa đến" là tình yêu thiên nhiên tha thiết, niềm vui trước mùa màng no ấm và sự gắn bó sâu nặng với quê hương của tác giả Trần Hòa Bình. Trước hết, đó là cảm xúc reo vui, trẻ lại khi đón nhận những cơn mưa đầu mùa sau thời gian "nắng không kì hẹn", qua hình ảnh nhân hóa "Mưa như gót trẻ kéo nhau về". Mưa mang đến sự hồi sinh, làm "tươi tốt một triền đê" và mang theo hương đất bãi nồng nàn. Bên cạnh đó, bài thơ còn thể hiện tâm trạng bình yên, sâu lắng qua việc đón nhận cả "hạt vui với hạt buồn", sự trân trọng những "bãi bờ" nhân hậu. Cuối cùng, cao trào là sự hy vọng "ròng ròng" vào những mùa no và sự cống hiến trọn vẹn "ta hoá phù sa". Nhìn chung, toàn bộ bài thơ là bức tranh tâm cảnh đẹp đẽ, nơi con người hòa quyện với thiên nhiên, sống trọn với niềm tin và tình yêu bền vững.

Bài 1:

Ý nghĩa câu thơ "Ta hoá phù sa mỗi bến chờ" Câu thơ cuối bài là sự đúc kết tinh tế về tâm hồn thi sĩ và triết lý sống cao đẹp. "Phù sa": Biểu tượng cho sự màu mỡ, bồi đắp, nuôi dưỡng sự sống cho đôi bờ sông, tượng trưng cho những giá trị tốt đẹp, tâm huyết và tình yêu thương mà con người dâng hiến. "Bến chờ": Tượng trưng cho quê hương, nơi mong đợi, hoặc những mảnh đời cần sự sẻ chia. "Hoá": Sự biến chuyển, hòa quyện, không còn phân chia giữa ta và bãi bờ. => Ý nghĩa: Câu thơ thể hiện sự dâng hiến thầm lặng, bền bỉ và trọn vẹn của tác giả dành cho quê hương, đất nước. Nhà thơ nguyện sống như dòng sông chở nặng phù sa, không chỉ đón nhận mưa (hạnh phúc, lộc trời) mà còn tự nguyện trở thành nguồn dưỡng chất nuôi dưỡng "bến chờ" (cuộc sống, con người) bằng tất cả tình yêu và niềm hy vọng bền vững, dài lâu.

Bài thơ "Mẹ" của tác giả Viễn Phương đã chạm đến trái tim em bằng những dòng thơ nghẹn ngào, sâu lắng về tình mẫu tử thiêng liêng. Hình ảnh người mẹ được so sánh với "đóa hoa sen" – loài hoa "lặng lẽ dưới đầm" nhưng tỏa hương thơm ngát – đã khắc họa trọn vẹn sự thanh cao, giản dị và âm thầm hy sinh cả cuộc đời cho con. Em vô cùng xúc động trước sự đối lập xót xa: mẹ thì "nghèo", "lặng lẽ", "lắt lay chiếc bóng", còn con thì khôn lớn, trở thành "đóa hoa thơm", bay đến những "chân trời gió lộng". Câu thơ "Hương đời mẹ ướp cho con" là hình ảnh hoán dụ tuyệt đẹp về tình yêu thương vô bờ bến, mẹ dành trọn tinh túy cuộc đời để nuôi dưỡng con khôn lớn. Dù cuối cùng mẹ đã "lìa xa cõi đời", nhưng hình ảnh mẹ "thành ngôi sao lên trời" mang lại cảm giác an yên, bất tử, khẳng định tình mẹ thiêng liêng sẽ mãi soi sáng cuộc đời con. Bài thơ nhắc nhở em phải biết trân trọng, yêu thương và hiếu thảo với mẹ khi còn có thể.

Bài 1:

Chi tiết "Mấy thứ vali, hộp túi của anh ta cũng co rúm lại, nhăn nhó" gợi tả sự sợ hãi, khúm núm và thái độ khép nép tột độ của anh gầy trước cấp bậc cao hơn của anh béo. Chi tiết này mang ý nghĩa phê phán thói khúm núm, nô lệ và sự phân biệt giai cấp sâu sắc trong xã hội Nga đương thời, khi bạn bè coi trọng cấp bậc hơn tình bạn. Gợi tả: Sự rúm ró không chỉ ở con người (anh gầy) mà lây lan sang cả vật dụng, thể hiện sự sợ hãi tột cùng, tâm lý tiểu nhân, khúm núm trước "quan lớn". Ý nghĩa: Phê phán: Tố cáo tâm lý nô lệ, thái độ khúm núm, khúm núm, khúm núm của nhân viên cấp dưới trước quan trên trong xã hội. Khắc họa tính cách: Cho thấy sự đối lập hoàn toàn giữa tình bạn chân thành lúc đầu và sự phân biệt giai cấp, đẳng cấp khi biết anh béo làm to. Tính nghệ thuật: Nghệ thuật nhân hóa đồ vật, làm tăng thêm sự hài hước châm biếm, làm cho cảnh tượng anh gầy khúm núm trở nên bi hài, lố bịch. Bạn có muốn phân tích sâu hơn về thái độ của anh béo hay tính cách của anh gầy không?

Nhân dịp kỷ niệm ngày thành lập trường, lớp em đã tổ chức một chuyến tham quan về nguồn đầy ý nghĩa tại đình chùa Quan Lạn, một di tích lịch sử nổi tiếng trên đảo Quan Lạn, Vân Đồn. Chuyến đi này không chỉ giúp chúng em hiểu thêm về lịch sử dân tộc mà còn để lại những kỷ niệm sâu sắc khó phai. Ngay khi đặt chân đến đảo, chúng em đã cảm nhận được không khí trong lành, mát mẻ của biển cả. Đình Quan Lạn hiện ra trước mắt với vẻ uy nghiêm, cổ kính, ẩn mình dưới những tán cây xanh mát. Đây là nơi thờ tự vua Lý Anh Tông và các vị tướng đã có công đánh giặc Nguyên Mông. Chúng em được nghe các thầy cô kể về trận chiến lịch sử oai hùng trên sông Mang, về tướng Trần Khánh Dư và những người dân Quan Lạn dũng cảm đã chiến đấu bảo vệ bờ cõi. Điều đó khiến chúng em vô cùng tự hào về truyền thống yêu nước của cha ông. Sau đó, chúng em đến thăm chùa Quan Lạn, còn được gọi là Linh Quang tự. Ngôi chùa có kiến trúc độc đáo, cổ kính, là nơi để chúng em dâng hương, cầu nguyện. Không gian thanh tịnh, yên bình của chùa đã giúp chúng em cảm thấy lòng mình lắng lại, bỏ đi những ồn ào của cuộc sống thường ngày. Chuyến đi kết thúc, nhưng những cảm xúc và bài học về lịch sử, về lòng yêu nước vẫn còn đọng lại mãi trong tâm trí chúng em. Chúng em hiểu rằng, việc giữ gìn và phát huy những giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc là trách nhiệm của thế hệ trẻ. Đây sẽ là một kỷ niệm đẹp mà em sẽ không bao giờ quên.

Câu 1: Bài thơ " cảnh ngày hè" được viết theo thể thơ: Thất ngôn xen lục ngôn.

Câu 2: Những hình ảnh thiên nhiên được được nhắc đến trong bốn dòng thơ đầu là: Hoè, thạch lựu,hồng liên.

Câu 3:Tác dụng của biện pháp tự từ đảo ngữ được dùng trong câu thơ sau là: Nhấn mạnh sự sống động, nhộn nhịp của cảnh vật và cảm giác thư thái của tác giả.

Câu 4:Trong hai dòng thơ cuối ,tác giả đã bộc lộ tình cảm,cảm xúc là: tình yêu thiên nhiên,yêu cuộc sống và mong muốn có cây đàn của vừa thuấn.

Câu 5:Chủ đề của bài thơ là:tình yêu thiên nhiên và tấm lòng vì dân vì nước.Căn cứ vào nội dung miêu tả cảnh hè và ước nguyện cuối bài thơ

Câu 6: Từ niềm vui giản dị mà Nguyễn Trãi tìm thấy trong thiên nhiên ngày hè,có thể rút ra bài học cho bản thân trong việc giữ gìn tình thần lạc quan, biết tận hưởng những điều bình dị quanh mình. Cuộc sống hiện đại đầy áp lực, nhưng chỉ cần ta biết dừng lại, quan sát những đổi thay nhỏ bé của thiên nhiên như một​ nhành hoa nở,tiếng chim hót,hay đơn giản là bầu trời xanh,ta sẽ thấy lòng mình nhẹ nhõm hơn .Tinh thần lạc quan không phải là phủ nhận khó khăn,mà là khả năng tìm thấy niềm vui ngay trong thực tại ,trân trọng những khoảnh khắc bình yên.Điều này giúp cân bằng cảm xúc,tái tạo năng lượng tích cực để đối mặt với thử thách.