Dương Ánh Dương
Giới thiệu về bản thân
Câu 1: Phương thức biểu đạt chính của văn bản “Hoa rừng” là tự sự.
Câu 2: Nhân vật Phước hái hoa để tặng hoặc dành cho một người mà cậu hết lòng trân trọng.
Câu 3: Nhân vật Phước được khắc hoạ với những phẩm chất đáng quý là: Sự chân thành và hiếu thảo; Tâm hồm trong sáng, yêu thiên nhiên; Sự kiên trì, vượt khó.
Câu 4: Văn bản sử dụng ngôi kể thứ ba.Tác dụng của việc sử dụng ngôi kể này là Giúp việc kể chuyện trở nên khách quan,bao quát được toàn bộ diễn biến câu chuyện và tâm tư của nhiều nhân vật; Tạo sự linh hoạt trong việc dẫn dắt người đọc khám phá thế giới nội tâm của Phước cũng như cái nhìn của người khác về cậu.
Câu 5: Qua văn bản “Hoa rừng”, em rút ra bài học quý giá rằng không nên đánh giá con người chỉ qua vẻ bề ngoài hay hoàn cảnh xuất thân. Đôi khi,đằng sau moptj vẻ ngoài giản dị, thậm chí là thô kệch, lại là một tâm hồn vô cùng cao đẹp, ấm áp và giàu tình yêu thương như nhân vật Phước. Chúng ta cần nhìn nhận người khác bằng đôi mắt của sự thấu hiểu và lòng trắc ẩn để nhận ra những “bông hoa” phẩm hạnh ẩn giấu trong tâm hồn họ. Trân trọng những giá trị tinh thần chân thành sẽ giúp mối quan hệ giữa người với người trở nên tốt đẹp hơn.
Bài thơ "Mẹ" của Viễn Phương đã chạm đến nơi sâu thẳm nhất trong trái tim em về tình mẫu tử thiêng liêng và cao quý. Với hình ảnh so sánh độc đáo và gần gũi, mẹ hiện lên như đóa hoa sen "lặng lẽ dưới đầm", tỏa ngát hương thơm dịu dàng dù cuộc đời nhiều nhọc nhằn, "lắt lay chiếc bóng". Em vô cùng xúc động trước sự hy sinh thầm lặng của mẹ, người đã "ướp" cả cuộc đời mình, hòa "giọt máu" và "dòng lệ" để nuôi con khôn lớn thành "đóa hoa thơm". Những câu thơ gợi lên sự biết ơn sâu sắc và cả nỗi xót xa khi nhìn lại bóng dáng gầy guộc của mẹ. Đoạn thơ không chỉ là kỷ niệm, mà còn là lời nhắc nhở nhẹ nhàng nhưng thấm thía về lòng hiếu thảo, khiến em trân trọng hơn những giây phút được yêu thương và ở bên mẹ khi còn có thể.
Nếu gặp lại một người bạn như anh gầy, em sẽ ứng xử chân thành, bình đẳng và tôn trọng, không phân biệt vị thế xã hội. Cách ứng xử khúm núm của anh gầy gợi ý cần giữ sự tự trọng, không tự ti hay xu nịnh kẻ mạnh, đồng thời phê phán thói hèn hạ và lối sống dựa dẫm.
Chi tiết này gợi tả sự khúm núm, sợ sệt và sự phân hóa giai cấp rõ rệt khi anh gầy nhận ra anh béo đã trở thành một quan chức cao cấp.Nó mang ý nghĩa phê phán thói bợ đỡ, tôn thờ địa vị xã hội, đồng thời khắc họa sâu sắc tâm lý nô lệ của nhân vật khi đối diện với quyền lực.
Tác giả Nguyễn Thành Long là một cây bút chuyên về truyện ngắn xuất sắc, các tác phẩm nổi tiếng của ông như: Giữa trong xanh (1972), Lý Sơn mùa tỏi (1980). Và đoạn trích “Lặng lẽ Sa Pa” được rút ra từ tập truyện “Giữa trong xanh”. Truyện được viết vào một chuyến nhà văn đi công tác lại Lào Cai, ca ngợi những con người sống ở nơi non xanh lặng lẽ đang ngày đêm cống hiến thầm lặng cho Tổ quốc.
Mở đầu tác phẩm là bức tranh thiên nhiên đầy chất thơ của mảnh đất Lào Cai - nơi miền Tây Bắc của Tổ quốc, nơi đây không hề mang vẻ hoang vu mà trái lại còn rất hữu tình và tráng lệ. Xe của đoàn vừa “trèo lên núi” đã thấy “mây hắt từng chiếc quạt trắng lên từ các thung lũng”, trạm dừng là nơi “con suối có thác trắng xóa”, những cây thông “rung tít trong nắng”,…Trên nền của bức tranh thiên nhiên ấy, hiện lên hình ảnh cuộc sống của con người, làm cho bức tranh càng thêm nồng nàn, ý vị “nắng chiều làm cho bó hoa càng thêm rực rỡ và làm cho cô gái cảm thấy mình rực rỡ theo”.
Trong chuyến xe lên Lào Cai ấy, có bác lái xe vui tính, cởi mở và nhiệt tình với hành khách; có ông họa sĩ già nhưng vì tình yêu nghệ thuật nên vẫn khao khát những chuyến đi thực tế tìm kiếm cái đẹp, lúc nào ông cũng trăn trở một điều “phải vẽ được một cái gì suốt đời mình thích”; bên cạnh đó là cô kĩ sư trẻ mới ra trường, tinh thần hăng hái xung phong lên Lào Cai công tác, bước vào cuộc sống bát ngát sau những năm tháng đại học khiến cho cô rất háo hức. Tại Sa Pa đoàn khách của tác giả đã được biết đến ông kĩ sư ở vườn rau, suốt đời làm việc nghiên cứu và lai tạo giống cây trồng phục vụ dân sinh và xuất khẩu.
Đồng chí ấy đã mười một năm không một ngày xa cơ quan, bỏ mặc hạnh phúc riêng tư. Tiêu biểu nhất cho con người nơi đây chính là anh thanh niên 27 tuổi làm công tác khí tượng kiêm vật lí địa cầu tại đỉnh núi Yên Sơn cao 2600 mét. Sống một mình trên đỉnh núi, anh thanh niên theo lời giới thiệu của bác lái xe là “người cô độc nhất thế gian”. Công việc của anh là đo gió, đo mưa, đo nắng, tính mây, đo chấn động mặt đất” phục vụ cho sản xuất và chiến đấu. Hoàn cảnh làm việc một mình, đôi lúc thời tiết khắc nghiệt như bão tuyết, mưa rét nhưng anh vẫn một mình xách đèn bão ra vườn lấy số liệu.
Chẳng cần có người giám sát, thúc giục, anh thanh niên vẫn làm việc với tinh thần trách nhiệm cao. Anh còn là một người rất lạc quan, yêu đời và có lối sống khoa học, sống một mình nhưng vẫn trồng hoa, chăn gà và đọc sách. Anh cũng rất nhiệt thành và chu đáo với mọi người, đồng thời rất khiêm tốn. Anh là tấm gương về một con người có lý tưởng sống đẹp, vì quê hương đất nước mà quên đi bản thân mình. Tóm lại những nhân vật trên đã tạo nên bức chân dung về những con người sống đẹp, hy sinh thầm lặng và cống hiến hết mình vì sự nghiệp của đất nước.
Có thể thấy, truyện ngắn “Lặng lẽ Sa Pa” như một bài thơ trữ tình bằng văn xuôi rất trong sáng và nhẹ nhàng. Trên nền cảnh của thiên nhiên núi rừng Sa Pa, những con người hiện lên thật đáng yêu, đáng quý và đáng trân trọng.
Cảm hứng chủ đạo trong bài thơ Khi mùa mưa đến của Trần Hòa Bình chính là sự giao hòa say đắm giữa tâm hồn con người và thiên nhiên khi đón nhận món quà của đất trời. Qua ngòi bút của tác giả, mùa mưa không chỉ là một hiện tượng thời tiết mà là một thực thể sống động, mang theo sức sống căng tràn khiến vạn vật "phổng phao", "tươi tốt". Nhà thơ đã đón nhận cơn mưa bằng tất cả các giác quan: từ thính giác nghe tiếng mưa như "gót trẻ kéo nhau về", đến xúc giác "xoè tay ta mải đón". Cảm hứng ấy còn nhuốm màu triết lý nhân văn sâu sắc khi ông nhìn thấy trong mưa sự kết nối giữa "trùng khơi và thượng nguồn", giữa hiện tại rạng rỡ và quá khứ "nhân hậu" của bãi bồi. Đặc biệt, tình yêu quê hương da diết được thể hiện rõ nét qua niềm hy vọng về những "mùa no", về sự trù phú mà phù sa mang lại. Với ngôn ngữ giàu hình ảnh và nhịp điệu da diết, bài thơ đã truyền tải một thông điệp ý nghĩa: mùa mưa chính là mùa của sự hồi sinh, của niềm tin và lòng biết ơn đối với mảnh đất quê hương.
Ý thơ "Ta hoá phù sa mỗi bến chờ" thể hiện sự cống hiến, hy sinh âm thầm nhưng bền bỉ của con người Việt Nam dành cho quê hương, tương tự như phù sa vun đắp cho đất. Hình ảnh này biểu tượng cho tình yêu thương, nuôi dưỡng tình cảm (bến chờ) và đạo lý "uống nước nhớ nguồn," thể hiện tấm lòng gắn bó, sẵn sàng hoá thân vào đất mẹ.
Bài làm
Nhân dịp kỷ niệm ngày thành lập trường, lớp em đã tổ chức một chuyến tham quan về nguồn đầy ý nghĩa tại đình chùa Quan Lạn, một di tích lịch sử nổi tiếng trên đảo Quan Lạn, Vân Đồn.
Chuyến đi này không chỉ giúp chúng em hiểu thêm về lịch sử dân tộc mà còn để lại những kỷ niệm sâu sắc khó phai. Ngay khi đặt chân đến đảo, chúng em đã cảm nhận được không khí trong lành, mát mẻ của biển cả. Đình Quan Lạn hiện ra trước mắt với vẻ uy nghiêm, cổ kính, ẩn mình dưới những tán cây xanh mát. Đây là nơi thờ tự vua Lý Anh Tông và các vị tướng đã có công đánh giặc Nguyên Mông. Chúng em được nghe các thầy cô kể về trận chiến lịch sử oai hùng trên sông Mang, về tướng Trần Khánh Dư và những người dân Quan Lạn dũng cảm đã chiến đấu bảo vệ bờ cõi. Điều đó khiến chúng em vô cùng tự hào về truyền thống yêu nước của cha ông. Sau đó, chúng em đến thăm chùa Quan Lạn, còn được gọi là Linh Quang tự. Ngôi chùa có kiến trúc độc đáo, cổ kính, là nơi để chúng em dâng hương, cầu nguyện. Không gian thanh tịnh, yên bình của chùa đã giúp chúng em cảm thấy lòng mình lắng lại, bỏ đi những ồn ào của cuộc sống thường ngày.
Chuyến đi kết thúc, nhưng những cảm xúc và bài học về lịch sử, về lòng yêu nước vẫn còn đọng lại mãi trong tâm trí chúng em. Chúng em hiểu rằng, việc giữ gìn và phát huy những giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc là trách nhiệm của thế hệ trẻ. Đây sẽ là một kỷ niệm đẹp mà em sẽ không bao giờ quên.
Câu 1: Bài thơ"Cảnh ngày hè"được viết theo thể thơ thất ngôn xen lục ngôn
Câu 2: Những hình ảnh thiên nhiên được nhắc đến trong bốn dòng thơ đầu là Hòe xanh,Thạch lựu,Hồng liên
Câu 3: Tác dụng của biện pháp tu từ đảo ngữ được sử dụng trong hai câu thơ trên là nhấn mạnh âm thanh náo nhiệt, sôi động của cuộc sống thường nhật (chợ cá) và âm thanh tự nhiên (tiếng ve), làm tăng tính biểu cảm và gợi hình cho bức tranh ngày hè.
Câu 4: Trong hai dòng thơ cuối,tác giả đã bộc lộ tình cảm,cảm xúc: Tác giả bộc lộ ước nguyện về một xã hội thái bình, dân giàu đủ khắp mọi nơi, thể hiện tấm lòng yêu nước thương dân sâu sắc.
Câu 5: Chủ đề của bài thơ là: Tình yêu thiên nhiên, cuộc sống và khát vọng về một xã hội thái bình, ấm no. Căn cứ vào bức tranh thiên nhiên tươi đẹp, cuộc sống sinh động và ước nguyện của tác giả ở cuối bài thơ.
Câu 6: Từ niềm vui giản dị mà Nguyễn Trãi tìm thấy trong thiên nhiên ngày hè, em rút ra bài học về việc trân trọng những điều bình dị xung quanh. Để giữ tinh thần lạc quan, em sẽ học cách hòa mình vào thiên nhiên, tìm kiếm vẻ đẹp trong những điều nhỏ bé, đồng thời nuôi dưỡng tâm hồn bằng những giá trị văn hóa, truyền thống tốt đẹp. Em cũng sẽ học cách sống chậm lại, lắng nghe và cảm nhận cuộc sống để tìm thấy niềm vui và ý nghĩa trong từng khoảnh khắc.