Lê Phạm Hà Phương
Giới thiệu về bản thân
-Thay đổi ở dậy thì: +Thể chất: cao nhanh, thay đổi cơ quan sinh dục (nam vỡ giọng, nữ có kinh nguyệt). +Tâm lí: dễ xúc động, quan tâm ngoại hình, thích độc lập. -Vì sao cần hạn chế tảo hôn: +Cơ thể, tâm lí chưa hoàn thiện → ảnh hưởng sức khỏe (nhất là sinh con sớm). +Dễ bỏ học, nghèo đói, chất lượng dân số thấp. -Cách hạn chế: +Tuyên truyền giáo dục. +Nâng cao nhận thức, thực hiện đúng pháp luật.
-Nông nghiệp: gieo trồng, thu hoạch đúng lúc. → Cơ sở: mỗi giai đoạn cây có nhu cầu khác nhau. Diệt sâu hại: tiêu diệt ở giai đoạn ấu trùng. → Cơ sở: các giai đoạn vòng đời có đặc điểm khác nhau. -Chăn nuôi: cho ăn, chăm sóc theo từng tuổi. → Cơ sở: nhu cầu dinh dưỡng thay đổi theo giai đoạn.
-Sinh trưởng: là sự tăng lên về kích thước và khối lượng cơ thể do tăng số lượng và kích thước tế bào.
-Phát triển: là quá trình biến đổi về chất, bao gồm sự phân hóa tế bào, hình thành cơ quan và hoàn thiện chức năng sống.
-Ví dụ: sâu → nhộng → bướm; trẻ em dậy thì trở thành người trưởng thành.
Câu 1: bài làm
Đoạn trích trong Truyện Kiều của Nguyễn Du thể hiện nhiều đặc sắc nghệ thuật tiêu biểu. Trước hết, tác giả sử dụng thể thơ lục bát uyển chuyển, giàu nhạc điệu, góp phần diễn tả tinh tế cảm xúc và tính cách nhân vật. Nghệ thuật xây dựng nhân vật nổi bật qua bút pháp ước lệ kết hợp với tả thực: Từ Hải hiện lên là bậc anh hùng với khí phách phi thường, còn Thúy Kiều lại hiện ra là người con gái thông minh, sắc sảo, giàu lòng tự trọng. Đặc biệt, nghệ thuật đối thoại được khai thác hiệu quả, giúp bộc lộ rõ tâm lí và sự đồng điệu giữa hai nhân vật. Ngôn ngữ thơ trang trọng, giàu hình ảnh, sử dụng nhiều từ Hán Việt tạo sắc thái cổ kính và trang nghiêm. Ngoài ra, các biện pháp tu từ như ẩn dụ, so sánh góp phần làm nổi bật vẻ đẹp lí tưởng của nhân vật. Tất cả đã tạo nên một đoạn thơ vừa giàu giá trị thẩm mĩ, vừa thể hiện sâu sắc tài năng nghệ thuật của Nguyễn Du.
Câu 2: bài làm
Lòng tốt là một phẩm chất quý giá của con người, có khả năng xoa dịu và chữa lành những vết thương trong cuộc sống. Tuy nhiên, như ý kiến đã nêu: “Lòng tốt của con người có thể chữa lành các vết thương nhưng lòng tốt cũng cần đôi phần sắc sảo, nếu không chẳng khác nào con số không tròn trĩnh”, lòng tốt nếu không đi kèm sự tỉnh táo sẽ dễ trở nên vô nghĩa, thậm chí gây hại. Trước hết, lòng tốt là sự quan tâm, sẻ chia và giúp đỡ người khác bằng sự chân thành. Trong cuộc sống, một hành động tử tế có thể mang lại niềm tin, hy vọng và động lực cho những người đang gặp khó khăn. Lòng tốt giúp con người xích lại gần nhau hơn, làm cho xã hội trở nên ấm áp và nhân văn. Không ít trường hợp, chỉ một lời động viên hay một hành động giúp đỡ nhỏ cũng đủ để thay đổi cuộc đời của một con người. Tuy nhiên, lòng tốt cần đi kèm với sự sáng suốt. Nếu giúp đỡ một cách mù quáng, không phân biệt đúng sai, ta có thể vô tình tiếp tay cho những hành vi sai trái. Ví dụ, việc cho tiền người ăn xin giả, hay bênh vực người có lỗi chỉ vì thương hại, đều là những biểu hiện của lòng tốt thiếu suy nghĩ. Khi đó, lòng tốt không còn mang lại giá trị tích cực mà còn gây ra hệ lụy xấu cho xã hội. Vì vậy, mỗi người cần biết cân bằng giữa trái tim và lí trí. Lòng tốt phải đặt đúng chỗ, đúng người và đúng cách. Giúp đỡ người khác không chỉ là cho đi mà còn là giúp họ tự đứng lên, tự thay đổi cuộc sống của mình. Một hành động tử tế đúng đắn sẽ có giá trị lâu dài và bền vững hơn nhiều so với sự giúp đỡ nhất thời nhưng thiếu suy xét. Là học sinh, chúng ta cần rèn luyện lòng nhân ái nhưng cũng phải biết suy nghĩ chín chắn trước khi hành động. Hãy biết giúp đỡ bạn bè khi cần thiết, nhưng cũng cần góp ý, nhắc nhở khi bạn mắc lỗi. Chỉ khi đó, lòng tốt mới thực sự trở thành sức mạnh tích cực trong cuộc sống. Tóm lại, lòng tốt là điều vô cùng cần thiết, nhưng nó chỉ phát huy ý nghĩa khi đi cùng sự tỉnh táo và hiểu biết. Biết cho đi đúng cách chính là biểu hiện cao đẹp nhất của lòng tốt.
Câu 1: → Thể thơ: Lục bát
Câu 2: → Từ Hải và Thúy Kiều gặp nhau ở lầu xanh (chốn thanh lâu).
Câu 3: → Nhận xét về Thúy Kiều: -Thông minh, khéo léo trong lời nói -Nhún nhường nhưng rất tinh tế -Biết giữ phẩm giá, không tự ti -Có tấm lòng sâu sắc, biết suy nghĩ cho tương lai
Câu 4: → Nhận xét về Từ Hải: -Là người anh hùng: mạnh mẽ, khí phách -Tự tin, bản lĩnh, dám hành động -Trân trọng tài sắc và con người Thúy Kiều -Có tầm nhìn lớn, không tầm thường
Câu 5: → Cảm xúc: -Ngưỡng mộ vẻ đẹp tài năng và nhân cách của Thúy Kiều -Khâm phục khí phách anh hùng của Từ Hải -Ấn tượng với cuộc gặp gỡ tri kỉ, đẹp và đặc biệt → Vì: đoạn trích thể hiện sự đồng điệu tâm hồn và sự trân trọng lẫn nhau giữa hai nhân vật.
Câu 1 : Đoạn trích Dấu chân người lính của Nguyễn Minh Châu đã khắc họa vẻ đẹp tâm hồn giàu cảm xúc và kiên cường của những con người trên tuyến đường Trường Sơn. Ở Nết, ta bắt gặp nỗi nhớ quê da diết, chan chứa tình yêu thương dành cho mẹ, cho những đứa em thơ, cho mái ấm nghèo nàn mà thân thương. Chính nỗi nhớ ấy đã trở thành nguồn sức mạnh tinh thần để cô vượt qua những nhọc nhằn gian khổ. Không chỉ nhạy cảm, tinh tế với nỗi nhớ nhà, Nết còn hiện lên thật cứng cỏi, kiên gan: nén chặt nỗi đau mất mẹ, mất em, cô không cho phép mình khóc mà quyết nghiến răng làm việc, chiến đấu để trả thù cho những người thân đã khuất. Cùng với Nết, Dự và những người lính Trường Sơn cũng hiện lên thật đẹp trong tình đồng chí, đồng đội thấu hiểu, sẻ chia, nâng đỡ lẫn nhau trong bom đạn chiến tranh. Qua hình tượng nhân vật và những chi tiết đầy sức gợi, Nguyễn Minh Châu đã khéo léo kết hợp trần thuật tinh tế, ngôn ngữ giàu cảm xúc, xây dựng tình huống giàu kịch tính để làm nổi bật tâm hồn trong sáng, nhân hậu nhưng kiên cường bất khuất của những con người trên tuyến đường huyền thoại. Chính họ đã làm nên sức mạnh tinh thần góp phần vào chiến thắng vĩ đại của dân tộc.
Hãy cùng nhau nâng cao ý thức và tinh thần trách nhiệm xã hội, hãy tham gia vào các hoạt động cộng đồng, hãy đóng góp những ý kiến và hành động tích cực để xây dựng một đất nước phồn thịnh, giàu mạnh và công bằng. Bằng tinh thần cống hiến và sự nỗ lực không ngừng, chúng ta có thể vượt qua mọi thử thách, đồng hành cùng nhau trên con đường phát triển bền vững và hạnh phúc cho đất nước và nhân dân Việt Nam. Hãy cùng nhau đứng lên, hãy cùng nhau cống hiến, vì đất nước, vì tương lai xanh sáng của chúng ta!
Câu 1 : truyện thơ nôm
Câu 2: Văn bản là lời của nhân vật Thúy Kiều, nói với Kim Trọng để kể lại hoàn cảnh và những biến cố của mình.
Câu 3: Tóm tắt sự kiện chính:
-Kim Trọng trở lại vườn Thúy, cảnh vật hoang tàn, không còn người xưa. -Hỏi thăm mới biết gia đình Kiều gặp biến cố: cha và em bị bắt, nhà tan tác. -Thúy Kiều đã bán mình chuộc cha, nhờ Thúy Vân thay mình trả nghĩa Kim Trọng. -Kim Trọng tìm đến nơi ở mới, gặp lại gia đình Kiều và nghe kể rõ sự tình.
Câu 4 :Tác dụng của bút pháp tả cảnh ngụ tình:
-Miêu tả cảnh hoang vắng, tiêu điều (cỏ mọc, rêu phong, gai góc…). -Gợi sự đổi thay, tan tác, đối lập với quá khứ êm đềm. -Qua đó thể hiện tâm trạng: đau xót, bàng hoàng, tiếc nuối của Kim Trọng khi trở lại chốn cũ.
Câu 5:Hình ảnh “hoa đào vẫn cười” gợi cảnh vật không đổi nhưng con người đã thay đổi → thể hiện nỗi tiếc nuối, xót xa trước sự đổi thay và mất mát.
Cho mày vinh hiển dự mình quyền sang?
Đàn kêu: Ai chém xà vương,
Đem nàng công chúa triều đường về đây? Điệp khúc "Đàn kêu: Ai chém..." lặp đi lặp lại như một bản án luận tội. Tiếng đàn liệt kê rành rọt từng công trạng của Thạch Sanh mà Lý Thông đã cướp công. Hắn không chỉ là kẻ lừa đảo, chiếm đoạt công lao mà còn là kẻ "phụ nghĩa", "vong ân", "bất nhân", "quên ơn người giồng". Những từ ngữ mạnh mẽ này thể hiện thái độ căm phẫn tột độ của nhân dân đối với thói đời bạc bẽo, vong ơn bội nghĩa. Tiếng đàn đã lật tẩy bộ mặt thật của Lý Thông trước bàn dân thiên hạ, đòi lại công bằng cho Thạch Sanh. Bên cạnh đó, tiếng đàn còn là lời trách móc nhẹ nhàng, nỉ non đối với công chúa: Đàn kêu năn nỉ trong lòng,
Tiếng ti tiếng trúc đều cùng như ru.
...Đàn kêu thấu đến cung phi,
Trách nàng công chúa vậy thì sai ngoa. Đây là cung bậc cảm xúc khác biệt, từ đanh thép chuyển sang thâm tình. Tiếng đàn gợi nhắc lại lời thề ước dưới hang sâu, trách công chúa đã vội vàng phụ bạc. Qua đó, ta thấy được tâm trạng vừa đau đớn, vừa thiết tha của Thạch Sanh, và cũng là sự đề cao tình nghĩa thủy chung trong quan niệm đạo đức dân gian. Về nghệ thuật, thành công của trích đoạn nằm ở việc sử dụng thể thơ lục bát biến thể (hoặc thơ Nôm năm chữ), nhịp điệu linh hoạt, phù hợp với từng cung bậc cảm xúc. Biện pháp nghệ thuật nhân hóa "Đàn kêu" được sử dụng xuyên suốt, biến cây đàn vô tri thành một nhân vật biết nói, biết luận tội, biết giãi bày. Cấu trúc lặp cú pháp "Đàn kêu: Ai chém...", "Đàn kêu: Hỡi Lý Thông mày...", "Đàn kêu: Sao ở bất nhân..." tạo hiệu ứng mạnh mẽ, dồn dập, tăng sức thuyết phục và tố cáo. Lời thơ mộc mạc, gần gũi nhưng giàu sức biểu cảm. Tóm lại, trích đoạn truyện thơ Thạch Sanh là một minh chứng hùng hồn cho sức mạnh của nghệ thuật (ở đây là tiếng đàn thần) trong việc đấu tranh cho công lí. Bằng nghệ thuật nhân hóa, lặp cấu trúc và giọng văn đanh thép, tác giả dân gian đã khẳng định niềm tin mãnh liệt vào sự chiến thắng của cái thiện trước cái ác, thể hiện rõ nét tư tưởng và đạo lí truyền thống cao đẹp của dân tộc Việt Nam.
Câu 1: Chủ đề của văn bản là gì?
Chủ đề: Giới thiệu về vẻ đẹp lộng lẫy, tinh xảo và sự phát triển của kiến trúc cung đình Thăng Long qua các triều đại (Lý, Trần, Lê), dựa trên các phát hiện khảo cổ học và thư tịch cổ, đồng thời nhấn mạnh sự bí ẩn và những giá trị còn chưa được khám phá hết của di sản này.
Câu 2: Thông tin trong văn bản được triển khai theo trật tự nào?
Văn bản triển khai theo trật tự tổng hợp – phân tích – tổng kết, cụ thể:
Mở đầu: Giới thiệu chung về vẻ đẹp kiến trúc hoàng cung (to lớn, tráng lệ), sự bí ẩn, và vị trí quan trọng của Thăng Long (thời Lý-Trần-Lê).
Phát triển (Phân tích):
Thời Lý: Nền móng kiên cố, bộ vì đặt trên chân tảng đá sen, đấu củng đơn giản, mái hiên ít nhô ra.
Thời Trần: Kế thừa và sáng tạo ngói sen, phong cách mạnh mẽ hơn.
Thời Lê: Chịu ảnh hưởng Nho giáo, hoa mỹ hơn (ngói men vàng, xanh), quy định chặt chẽ.
Kết thúc: Khẳng định những khám phá khảo cổ mới chỉ là bước đầu, còn nhiều điều cần nghiên cứu sâu hơn, nhưng đã hé lộ vẻ đẹp tuyệt vời.
Câu 3: Phân tích tác dụng của biện pháp tu từ trong câu:
"Vẻ đẹp thực sự của kiến trúc được phô diễn bởi các loại ngói lợp, người xưa gọi bằng các mỹ từ như: “kim ngõa - ngói men vàng”, “ngân ngõa - ngói men bạc, “bích ngõa - ngói men xanh”, “uyên ngõa - ngói uyên ương” và “liên ngõa - ngói sen”."
Biện pháp tu từ: Liệt kê (kể tên), đặt tên (gọi bằng mỹ từ), ẩn dụ (ngói "sen", "vảy cá", "chim", "hạt châu"), so sánh (mái hiên bay như chim, ngói như vảy cá).
Tác dụng:
Làm nổi bật sự phong phú, đa dạng, tinh xảo, cầu kỳ của vật liệu lợp ngói thời xưa.
Gợi hình ảnh cụ thể, sinh động về màu sắc, hình dáng (vàng, bạc, xanh, uyên ương, sen), giúp người đọc hình dung rõ hơn vẻ đẹp "nguy nga tráng lệ" của cung điện.
Tăng tính thuyết phục, khẳng định sự tinh tế, đẳng cấp cao trong kiến trúc và thẩm mỹ của người Việt cổ.
Câu 4: Chỉ ra và nêu tác dụng của các phương tiện giao tiếp phi ngôn ngữ.
Các phương tiện: Hình ảnh minh họa (Hình 1-11: tượng rồng, phượng, sư tử, ngói, chân tảng đá, mặt bằng).
Tác dụng:
Hỗ trợ giải thích: Giúp người đọc hình dung rõ hơn về các chi tiết kiến trúc, vật liệu (ngói, tượng trang trí, kết cấu móng) mà văn bản mô tả, vì không thể thấy tận mắt công trình gốc.
Tăng tính hấp dẫn: Mang lại giá trị thị giác, làm phong phú nội dung, tạo hứng thú, và