Nguyễn Ngọc Bích

Giới thiệu về bản thân

Chào mừng bạn đến với trang cá nhân của Nguyễn Ngọc Bích
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
(Thường được cập nhật sau 1 giờ!)
Nhân vật Dế Mèn trong "Bài học đường đời đầu tiên" (trích Dế Mèn phiêu lưu ký của Tô Hoài) là hình tượng văn học thiếu nhi đặc sắc, để lại bài học sâu sắc về sự trưởng thành. Dế Mèn nổi bật với đặc điểm ngoại hình cường tráng, tính cách hung hăng, kiêu ngạo nhưng biết nhận sai và sửa lỗi, thể hiện qua hành động hối hận sau khi gián tiếp gây ra cái chết cho Dế Choắt.  Bài văn phân tích nhân vật Dế Mèn Trong nền văn học thiếu nhi Việt Nam, tác phẩm “Dế Mèn phiêu lưu ký” của nhà văn Tô Hoài luôn có một sức hấp dẫn đặc biệt. Trong đó, nhân vật chính - Dế Mèn - được xây dựng vô cùng sống động với những nét tính cách đối lập, từ một kẻ hung hăng, kiêu ngạo đã trưởng thành nhờ “bài học đường đời đầu tiên”. Trước hết, Dế Mèn hiện lên là một chàng dế thanh niên cường tráng, khỏe mạnh. Tô Hoài đã sử dụng những từ ngữ miêu tả rất sắc nét: đôi càng “mẫm bóng”, cái vuốt “cứng nhọn”, đôi cánh “dài xuống tận chấm đuôi”, cái đầu “to ra và nổi từng tảng, rất bướng”, và đặc biệt là “hai cái răng đen nhánh” lúc nào cũng nhai ngoàm ngoạp. Hình ảnh này tạo cảm giác về một sức sống căng tràn, một vẻ đẹp khỏe mạnh nhưng cũng tiềm ẩn sự bướng bỉnh, ngông cuồng.  Tuy nhiên, ngoại hình khỏe mạnh đi liền với tính cách kiêu ngạo và hung hăng. Dế Mèn tự phụ về sức mạnh của mình, cho rằng mình là “tay ghê gớm”, có thể “đứng đầu thiên hạ”. Mèn thường xuyên đi bắt nạt những người hàng xóm yếu thế, như trêu chị Cốc, xem thường người anh em hàng xóm yếu ớt là Dế Choắt. Sự kiêu ngạo ấy khiến Mèn trở nên nhẫn tâm, không biết thương xót, chỉ biết sống cho riêng mình và thói hung hăng bậy bạ.  Đỉnh điểm của sự trưởng thành là khi Dế Mèn gián tiếp gây ra cái chết của Dế Choắt. Hành động trêu chị Cốc của Mèn đã khiến Dế Choắt - một người hàng xóm gầy yếu, tội nghiệp - phải chịu tai họa. Khi thấy Choắt bị mổ đến kiệt sức, Mèn "nằm im thin thít" sợ hãi. Nhưng chính cái chết của Dế Choắt đã thức tỉnh Mèn. Đứng trước nấm mồ của người bạn, Mèn "đứng lặng giờ lâu", suy nghĩ sâu sắc về "bài học đường đời đầu tiên". Mèn ân hận, tự trách mình, hối hận về sự nhát gan và sự hung hăng bậy bạ của mình. Hành động chôn cất Choắt và nỗi ân hận sâu sắc cho thấy Mèn đã bắt đầu nhận ra giá trị của tình thương và trách nhiệm.  Tóm lại, qua ngòi bút miêu tả tâm lý và ngoại hình sắc sảo của Tô Hoài, nhân vật Dế Mèn hiện lên thật chân thực. Từ một chú dế kiêu ngạo, Mèn đã biết nhận lỗi và hứa sống chan hòa, bài học đó không chỉ dành cho Mèn mà còn là bài học về nhân cách cho mọi người đọc.


Một thông điệp ý nghĩa từ bài thơ “Mùa xuân chín” của Hàn Mặc Tử là: hãy trân trọng vẻ đẹp của cuộc sống và tuổi trẻ khi còn đang ở độ rực rỡ nhất. Mùa xuân trong bài thơ hiện lên đầy sức sống nhưng cũng gợi nỗi bâng khuâng, nuối tiếc. Điều đó nhắc con người biết nâng niu những khoảnh khắc tươi đẹp vì chúng sẽ nhanh chóng qua đi. Thông điệp này có ý nghĩa bởi tuổi trẻ và hạnh phúc không tồn tại mãi mãi, nếu không biết trân trọng ta sẽ dễ dàng đánh mất.

Nhan đề “Mùa xuân chín” của Hàn Mặc Tử gợi nhiều liên tưởng giàu ý nghĩa.

  • Trước hết, “xuân” là mùa đẹp nhất trong năm – biểu tượng của sự sống, tuổi trẻ, tình yêu và khởi đầu.
  • Từ “chín” thường dùng để chỉ trạng thái đạt đến độ viên mãn, tròn đầy, rực rỡ nhất.

→ Vì vậy, “Mùa xuân chín” gợi liên tưởng đến mùa xuân đang ở độ đẹp nhất, tràn đầy sức sống, căng tràn nhựa sống của thiên nhiên và con người.

Đồng thời, nhan đề còn gợi nghĩ đến:

  • Tuổi trẻ đang độ xuân thì, tươi non nhưng cũng bắt đầu chín muồi trong cảm xúc.
  • Tình yêu, khát vọng sống đang dâng đầy, mãnh liệt và tha thiết.
  • Một vẻ đẹp vừa rực rỡ vừa man mác, bởi “chín” cũng hàm ý báo hiệu sự chuyển mùa, dễ gợi nỗi bâng khuâng, tiếc nuối.

-> Như vậy, nhan đề không chỉ tả cảnh mà còn mở ra mạch cảm xúc vừa say mê trước vẻ đẹp mùa xuân, vừa phảng phất nỗi nhớ thương, khắc khoải của thi nhân.

Bài học em rút ra từ truyện “Con lừa và bác nông dân” là:

Trong cuộc sống, khi gặp khó khăn hay nghịch cảnh, chúng ta không nên tuyệt vọng hay bỏ cuộc. Giống như con lừa, thay vì cam chịu khi bị đổ đất lên người, nó đã bình tĩnh, kiên trì và biết biến những điều bất lợi thành cơ hội để vươn lên.

Câu chuyện dạy chúng ta phải có ý chí, nghị lực và sự thông minh để vượt qua thử thách. Đôi khi chính những khó khăn tưởng chừng như chôn vùi ta lại là “bậc thang” giúp ta tiến lên nếu ta biết cố gắng và không nản lòng.

Bài 1:

Đọc truyện ngắn Vừa nhắm mắt vừa mở cửa sổ, em rất ấn tượng về nhân vật người bố. Ông là một người cha tuyệt vời với những phẩm chất tốt đẹp và cao thượng.

Người cha xuất hiện qua lời kể của nhân vật tôi, với một hình tượng cao lớn và ấm áp. Ông đã truyền cho con trai mình tình yêu chan hòa với thiên nhiên, cây cối xung quanh mình. Ông không truyền những tình cảm ấy một cách sáo rỗng, mà gửi gắm qua những trò chơi thú vị trong chính khu vườn của gia đình. Ông dạy cho con trai mình cách cảm nhận, nhìn ngắm và dạo chơi trong khu vườn bằng khứu giác, bằng vị giác, chứ không chỉ bằng thị giác như thông thường. Nhờ vậy, mà cậu bé đã cảm nhận thiên nhiên bằng cả trái tim và tâm hồn mình. Rồi từ đó, bằng một cách bình dị mà cậu yêu thiên nhiên như một người bạn thân thiết.

Người bố không chỉ làm cha, mà ông còn là một người thầy, một người bạn của con trai mình. Ông đồng hành cạnh bên con trong từng bước trưởng thành của cuộc đời. Ông không chỉ dạy con cách yêu và cảm nhận thiên nhiên, mà còn dạy cho con những điều hay lẽ phải của cuộc sống qua những điều nhỏ nhặt. Tựa như khi ông ân cần giải thích cho con về giá trị của một món quà. Không phải một món quà đắt tiền mới là quý giá. Mà những món quà chứa đựng tâm sức, tình cảm của người tặng mới thực sự quý giá, như trái ổi được lựa chọn kĩ lưỡng, hay một nụ hôn chúc ngủ ngon. Sự sâu sắc và thấu hiểu của tâm hồn người cha đã thể hiện trọn vẹn qua bài học này. Sự gần gũi giữa người bố dành cho con trai mình, còn thể hiện qua những bí mật của riêng hai người. Cái nháy mắt ngầm hiểu của ông với con trai trước người khác, về bí quyết nghe được những âm thanh từ xa khiến em cảm nhận được mối quan hệ sâu sắc của hai cha con họ. Tất cả đã được tạo nên bởi một người bố quá đỗi yêu thương con và giàu sự thấu hiểu.

Không chỉ là một người cha tuyệt vời, người bố trong đoạn trích còn hiện lên với dáng vẻ của một con người mạnh mẽ, cao thượng. Điều đó thể hiện qua hành động ông thả vội bát cơm, chạy vụt ra sông để nhảy xuống nước cứu cu Tí bị đuối nước. Hành động mạnh mẽ và dứt khoát ấy thể hiện bản lĩnh và tình yêu thương con người của ông. Có lẽ chính vì vậy mà ông được mọi người yêu quý, trân trọng. Được bạn của con trai thường ưu ái mang sang tặng những quả ổi ngon nhất. Và cách ông nâng niu những món quà nhỏ bé ấy lại càng khẳng định thêm cho nhân cách cao đẹp ấy.Có thể nói, nhân vật người bố trong đoạn trích Vừa nhắm mắt vừa mở cửa sổ là một biểu tượng tuyệt vời về hình tượng người cha trong lòng em. Ông ấy là một vầng sáng ấm áp và vững chãi đồng hành bên cạnh con trai của mình, giúp con có một tuổi thơ tươi đẹp.

Bài 2:

Trong kho tàng văn học dân gian Việt Nam, có rất nhiều câu chuyện cổ tích hay, để lại nhiều bài học sâu sắc và ý nghĩa. Truyện Tấm Cám là một trong số những tác phẩm như thế, nhân vật cô Tấm là điển hình cho vẻ đẹp của phụ nữ Việt Nam, vừa đẹp người lại đẹp nết, dù sống trong hoàn cảnh khó khăn nhưng vẫn giữ được tính cách nhân hậu, đảm đang, chính vì thế nàng đã có được hạnh phúc sau cùng.

Xây dựng lên Tấm là một cô gái mồ côi cha mẹ, phải sống với mẹ con dì ghẻ. Tấm bị bắt làm việc vất vả, nặng nhọc và bị đối xử bất công. Có thể nhận thấy được chính với hoàn cảnh Tấm tiêu biểu cho hoàn cảnh của người con riêng trong chuyện cổ tích. Thế nhưng Tấm lại có phẩm chất hiền lành, chăm chỉ chịu thương chịu khó. Tấm chính là hiện thân cho cái thiện, cái đẹp ở người lao động. Hình ảnh cô Tấm hiền lành chăm chỉ là thế nhưng phải chịu đựng, cam chịu sự đày đọa bất công của mẹ con Cám. Tấm đã phải làm việc vất vả còn Cám thì được nuông chiều. Giỏ tép do chính Tấm bắt cực nhọc lại bị Cám cướp mất, chính Cám đã cướp đi thành quả lao động của Tấm. Cho đến khi cả khi làng mở hội thì Tấm cũng ngoan ngoãn làm theo lời dì dặn mà không cãi lại cũng không dám chốn đi. Lúc này đây thì Tấm lại khóc và con người hiền lành ấy cũng được bụt giúp đỡ, khi Tấm đã trở thành hoàng hậu thì Tấm vẫn bị mẹ con Cám hãm hại hết lần này đến lần khác. Với ngôi vị hoàng hậu và cuộc sống giàu sang cũng chưa đủ để cứu Tấm khỏi âm mưu hãm hại của dì ghẻ. Thế rồi không chỉ thế Tấm đã rất nhiều lần chết đi sống lại và hóa thân vào nhiều thứ từ hóa thân thành chim vàng anh, rồi thành cây xoan đào, hay cũng là hiện hình vào khung cửi rồi vào quả thị và trở thành người. Cô Tấm luôn luôn phản kháng quyết liệt hóa thân và hồi sinh để đấu tranh giành sự sống và hạnh phúc.

Hình ảnh đẹp của Tấm mà giúp chúng ta hiểu hơn phần nào cuộc sống của người lao động trong xã hội cũ. Những con người này thấp cổ bé họng và bỗng nhiên bị chà đạp bất công và không có quyền nói lên tiếng nói của mình. Chính vì thế mà họ gửi những ước mơ của mình, niềm tin vào cuộc sống tốt đẹp hơn, hạnh phúc hơn vào trong cổ tích bình chứa ước mơ của dân gian xưa.

Bài 3:

Em bé thông minh là một truyện dân gian ca ngợi sự kết tinh của vẻ đẹp trí tuệ tài năng và kinh nghiệm. Nhân vật trung tâm của truyện là một em bé thông minh. Thông qua những thử thách, em bé đã thể hiện được sự đề cao của trí tuệ dân gian.

Trí thông minh của em bé được trổ tài trong bốn lần. Lần thứ nhất, trước câu hỏi oái oăm của tên quan: “Trâu… cày một ngày được mấy đường?” thì em bé đã hỏi vặn lại: “Ngựa… đi một ngày được mấy bước?”. Lần thứ hai, vua ban cho làng em 3 thúng gặp nếp, 3 con trâu đực, hạn trong 3 năm, trâu ấy phải đẻ thành 9 con. Thật kì quặc vì trâu đực sao đẻ được? Có loại trâu nào đẻ được 3 con trong 3 năm? Em đã tìm cách gặp được vua. Cuộc đối đáp của em cũng rất thông minh. Em gặp vua và em khóc vì mẹ đã chết mà cha em không đẻ được em bé nào nữa… Lần thứ ba, vua vẫn chưa tin em bé này thông minh, nên đã sai sứ mang đến một con chim sẻ bắt cha con em phải dọn thành ba mâm thức ăn. Em đã gửi sứ giả một chiếc kim đem về tâu với đứa vua rèn cho ba con dao. Trong điều kiện thủ công lạc hậu, thô sơ thì một cái kim không thể nào rèn được ba con dao. Đã không có dao, hoặc chưa có dao thì chưa thể giết được sẻ để dọn cỗ cho vua. Rất dí dỏm, thú vị. Em bé thông minh lắm: Em đã lấy cái không thể nào làm được để giải thích sự việc thành không thể nào được? Không thể nào rèn một chiếc kim thành ba con dao cũng như không thể giết một con chim sẻ dọn thành ba cỗ thức ăn được! Lần thứ tư, em đọ trí với sứ giả một nước láng giềng. Làm sao xe sợi chỉ luồn qua đường ruột ốc xoắn? Trong lúc Trạng Nguyên, đại thần, văn võ bá quan vô kế khả thi thì em bé ung dung, hát lên một bài vè.

Câu đố tưởng là hóc hiểm nhưng đối với em bé thì rất dễ! Em đã làm cho vị sứ nước láng giềng phải thán phục khi nhìn thấy con kiến càng kéo sợi chỉ qua ruột con ốc xoắn.

Có thể nói, thông qua nhân vật Em bé thông minh ta càng thêm cảm phục về trí tuệ, sự dũng cảm và lòng bao dung của ông cha ta khi xưa.


Sự khác biệt trong hành động và suy nghĩ của bác nông dân với con lừa thể hiện rõ qua câu chuyện:

  • Bác nông dân:
    • Suy nghĩ: Cho rằng con lừa đã già, không còn có ích nên quyết định lấp giếng, coi như chôn luôn con lừa.
    • Hành động: Nhờ hàng xóm xúc đất đổ xuống giếng để lấp lại, mặc kệ con lừa kêu la.
  • Con lừa:
    • Suy nghĩ: Ban đầu hoảng sợ, kêu cứu; sau đó hiểu ra tình huống và bình tĩnh tìm cách thoát thân.
    • Hành động: Mỗi khi bị đổ đất lên lưng, nó lắc cho đất rơi xuống rồi bước lên trên lớp đất đó, nhờ vậy dần dần lên khỏi miệng giếng.

-> Qua đó cho thấy bác nông dân có phần phũ phàng, bỏ cuộc, còn con lừa thì kiên trì, thông minh và biết vượt khó để tự cứu mình.


Trong kho tàng truyện cổ tích và truyền thuyết Việt Nam, có rất nhiều nhân vật để lại ấn tượng sâu sắc. Trong số đó, em đặc biệt yêu thích nhân vật Thánh Gióng trong truyền thuyết Thánh Gióng – biểu tượng rực rỡ cho tinh thần yêu nước và sức mạnh phi thường của dân tộc.

Trước hết, Thánh Gióng là nhân vật mang màu sắc kì ảo ngay từ khi ra đời. Mẹ Gióng chỉ ướm chân vào một vết chân lạ ngoài đồng mà thụ thai và sinh ra Gióng. Đến ba tuổi, cậu bé vẫn chưa biết nói, biết cười, đặt đâu nằm đó. Chi tiết này vừa tạo sự huyền bí, vừa báo hiệu một con người đặc biệt. Sự im lặng kéo dài suốt ba năm ấy như đang chờ đợi một thời khắc quan trọng để bộc lộ sức mạnh tiềm ẩn.

Phẩm chất nổi bật nhất của Thánh Gióng là lòng yêu nước và ý thức trách nhiệm đối với dân tộc. Khi nghe sứ giả tìm người tài cứu nước chống giặc Ân, Gióng bỗng cất tiếng nói đầu tiên, xin được ra trận. Tiếng nói ấy không chỉ đánh dấu sự trưởng thành kì diệu mà còn thể hiện tinh thần sẵn sàng gánh vác vận mệnh đất nước. Từ một đứa trẻ lên ba, Gióng vươn mình thành tráng sĩ cao lớn, oai phong, chứng tỏ sức mạnh thần kì của nhân dân khi Tổ quốc lâm nguy.

Bên cạnh đó, Thánh Gióng còn tiêu biểu cho sức mạnh đoàn kết của cộng đồng. Dân làng góp gạo nuôi Gióng, thợ rèn ngày đêm rèn ngựa sắt, roi sắt, áo giáp sắt. Nhờ sự chung tay ấy, Gióng có đủ điều kiện ra trận. Khi roi sắt gãy, Gióng nhổ tre bên đường đánh giặc. Hình ảnh bụi tre làng trở thành vũ khí thể hiện tinh thần sáng tạo, kiên cường và bất khuất của người Việt. Chiến thắng của Gióng không chỉ là chiến công của một cá nhân mà là chiến thắng của toàn dân.

Sau khi đánh tan giặc, Thánh Gióng không nhận vinh hoa phú quý mà cưỡi ngựa bay về trời. Chi tiết này khẳng định tầm vóc phi thường và sự cao cả của người anh hùng: chiến đấu chỉ vì nghĩa lớn, không màng danh lợi. Nhân dân đã tôn vinh Gióng là Phù Đổng Thiên Vương, lập đền thờ để tưởng nhớ công lao của người anh hùng cứu nước.

Qua hình tượng Thánh Gióng, truyền thuyết ca ngợi tinh thần yêu nước, ý chí quật cường và sức mạnh đoàn kết của dân tộc Việt Nam. Nhân vật để lại trong em niềm tự hào và bài học sâu sắc: mỗi người, dù bình thường, cũng có thể làm nên điều phi thường khi biết đặt lợi ích của đất nước lên trên hết.

Thánh Gióng vì thế không chỉ là một nhân vật truyền thuyết mà còn là biểu tượng sống mãi trong tâm thức dân tộc Việt Nam.

Truyện ngụ ngôn Đẽo cày giữa đường là một câu chuyện dân gian quen thuộc, gửi gắm bài học sâu sắc về sự thiếu chính kiến và thói ba phải trong cuộc sống. Nhân vật trung tâm của truyện – người thợ mộc – tuy xuất hiện giản dị nhưng lại mang ý nghĩa tiêu biểu, đại diện cho kiểu người không có lập trường, dễ dao động trước ý kiến của người khác.

Trước hết, người thợ mộc là người chăm chỉ và có ý định làm ăn. Anh mang gỗ ra giữa đường để đẽo cày với mong muốn bán được sản phẩm. Điều này cho thấy anh có tinh thần lao động và mong muốn kiếm sống bằng sức mình. Tuy nhiên, ngay từ đầu, cách làm của anh đã bộc lộ sự thiếu suy tính: đẽo cày giữa nơi đông người qua lại, để ai cũng có thể nhìn vào và góp ý. Chính hoàn cảnh ấy đã mở đầu cho chuỗi hành động sai lầm về sau.

Đặc điểm nổi bật nhất của người thợ mộc là thiếu chính kiến, dễ nghe theo người khác. Mỗi khi có người đi qua góp ý, anh đều lập tức làm theo mà không suy nghĩ xem lời khuyên đó có hợp lý hay không. Người bảo đẽo to thì anh đẽo to; người bảo đẽo nhỏ thì anh lại đẽo nhỏ; người khác chê chưa được, anh tiếp tục sửa đổi. Sự thay đổi liên tục ấy cho thấy anh không có lập trường, không tin vào kinh nghiệm và tay nghề của chính mình. Anh hoàn toàn bị chi phối bởi những ý kiến trái chiều xung quanh.

Bên cạnh đó, người thợ mộc còn thể hiện sự thiếu bản lĩnh và thiếu tự tin. Nếu có niềm tin vào khả năng của mình, anh đã không dễ dàng nghe theo những lời góp ý tùy tiện. Việc ai nói gì cũng làm theo chứng tỏ anh sợ bị chê cười, sợ làm sai, nhưng lại không đủ sáng suốt để phân biệt đúng – sai. Kết quả là khúc gỗ ban đầu có thể làm nên một chiếc cày tốt, cuối cùng bị đẽo nhỏ dần, biến thành một vật vô dụng. Cái kết ấy không chỉ là sự thất bại trong công việc mà còn là hậu quả tất yếu của lối sống thiếu chủ kiến.

Qua nhân vật người thợ mộc, truyện phê phán thói a dua, ba phải – nghe theo số đông một cách mù quáng. Đồng thời, câu chuyện cũng gửi gắm bài học sâu sắc: trong cuộc sống, mỗi người cần có lập trường, biết lắng nghe nhưng phải chọn lọc, suy nghĩ kỹ trước khi hành động. Nếu không, ta sẽ giống như người thợ mộc trong truyện – mất công sức mà không đạt được kết quả gì.

Tóm lại, nhân vật người thợ mộc trong Đẽo cày giữa đường là hình tượng tiêu biểu cho kiểu người thiếu chính kiến, dễ dao động và thiếu bản lĩnh. Thông qua nhân vật này, truyện dân gian đã để lại một bài học có giá trị bền vững về cách sống và cách làm việc trong cuộc đời.

tui cũng ko biết. Lạ thật. Chắc máy lỗi