Lý Như Quỳnh
Giới thiệu về bản thân
a. Trình bày đặc điểm dân cư Nhật bản
: Đặc điểm dân cư Nhật Bản
Nhật Bản là quốc gia có dân số đông, đứng thứ 11 trên thế giới.
Tỉ lệ gia tăng dân số tự nhiên rất thấp, dân số đang có xu hướng giảm.
Cơ cấu dân số già: tỉ lệ người cao tuổi cao và đang tăng nhanh, tỉ lệ trẻ em thấp.
Tuổi thọ trung bình cao nhất thế giới.
Dân cư phân bố không đồng đều, tập trung chủ yếu ở các vùng ven biển
b. Cơ cấu dân số theo tuổi có sự ảnh hưởng như thế nào đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của Nhật Bản?
: Ảnh hưởng của cơ cấu dân số già hóa
Tích cực:
Dân số già có trình độ học vấn và kinh nghiệm làm việc cao, là nguồn nhân lực chất lượng cho các ngành kinh tế.
Tiêu cực:
Thiếu hụt lao động trẻ, dẫn đến tình trạng thiếu nhân lực trong một số ngành.
Tăng gánh nặng cho hệ thống an sinh xã hội và phúc lợi y tế do số người phụ thuộc cao.
Chi phí chăm sóc người cao tuổi tăng, ảnh hưởng đến ngân sách quốc gia và gia đình..
Đặc điểm nổi bật của vùng kinh tế Trung ương và Viễn Đông (Liên bang Nga)
Vùng Trung ương:
Là vùng kinh tế lâu đời và phát triển nhất của Liên bang Nga, nằm ở trung tâm phần châu Âu.
Tập trung nhiều ngành công nghiệp quan trọng như dệt may, hóa chất và chế tạo máy.
Thủ đô Mát-xcơ-va và nhiều thành phố lớn khác nằm trong vùng này.
Vùng Viễn Đông:
Giàu tài nguyên thiên nhiên.
Phát triển mạnh các ngành công nghiệp khai thác khoáng sản, khai thác gỗ, đánh bắt và chế biến hải sản.
Là cửa ngõ quan trọng để hội nhập kinh tế khu vực châu Á - Thái Bình Dương.
câu 1
Bài thơ “Đây thôn Vĩ Dạ” của Hàn Mặc Tử là bức tranh thiên nhiên xứ Huế trong trẻo, tinh khôi, đồng thời gửi gắm nỗi niềm cô đơn, khắc khoải của thi nhân. Mở đầu bài thơ là cảnh thôn Vĩ hiện lên tươi sáng với nắng mới, vườn xanh, lá trúc che ngang mặt chữ điền – một vẻ đẹp thanh sạch, hiền hòa. Sang khổ thơ thứ hai, không gian trở nên chia lìa: “Gió theo lối gió, mây đường mây”, hình ảnh gió – mây vốn song hành nay tách biệt gợi cảm giác xa cách, buồn thương. Dòng nước buồn thiu, hoa bắp lay càng làm tăng nỗi hiu quạnh. Đến khổ cuối, cảnh và người chìm vào cõi mộng ảo, mờ nhòa; câu hỏi “Ai biết tình ai có đậm đà?” như một tiếng thở dài đầy hoài nghi. Bài thơ là sự vận động của cảm xúc từ hy vọng đến chia lìa, rồi rơi vào cô đơn, thể hiện khát khao giao cảm mãnh liệt nhưng đầy tuyệt vọng của Hàn Mặc Tử.
câu 2
Trong cuộc sống, mỗi con người đều phải đối diện với khó khăn, thử thách. Chính vì vậy, ý chí và nghị lực trở thành yếu tố quan trọng giúp ta vượt qua nghịch cảnh và khẳng định giá trị bản thân. Ý chí là sự quyết tâm, kiên định theo đuổi mục tiêu; nghị lực là sức mạnh tinh thần giúp con người không gục ngã trước thất bại. Người có ý chí, nghị lực sẽ không dễ dàng bỏ cuộc, dù con đường phía trước còn nhiều chông gai.
Thực tế cho thấy, thành công không đến với những ai sống hời hợt, thiếu quyết tâm. Thomas Edison từng thất bại hàng nghìn lần trước khi phát minh ra bóng đèn điện. Thầy giáo Nguyễn Ngọc Ký – dù bị liệt hai tay – vẫn kiên trì tập viết bằng chân để trở thành nhà giáo ưu tú. Những con người ấy đã chứng minh rằng nghịch cảnh không thể đánh bại được tinh thần bền bỉ và niềm tin mãnh liệt vào bản thân
Ý chí và nghị lực còn giúp ta rèn luyện bản lĩnh sống. Khi gặp thất bại trong học tập hay công việc, nếu biết đứng dậy, rút kinh nghiệm và tiếp tục cố gắng, ta sẽ trưởng thành hơn sau mỗi lần vấp ngã. Ngược lại, nếu dễ nản lòng, buông xuôi, ta sẽ đánh mất cơ hội và dần trở nên thụ động, phụ thuộc. Cuộc sống vốn không bằng phẳng; chỉ những ai đủ mạnh mẽ mới có thể đi đến đích.
Tuy nhiên, ý chí không phải là sự cố chấp mù quáng. Nghị lực cần đi cùng với mục tiêu đúng đắn và phương pháp phù hợp. Kiên trì nhưng cũng phải biết lắng nghe, học hỏi và điều chỉnh bản thân. Khi có ước mơ, ta cần xây dựng kế hoạch cụ thể, từng bước thực hiện và không ngừng hoàn thiện mình.
Tóm lại, ý chí và nghị lực là hành trang không thể thiếu trên con đường đời. Nhờ có chúng, con người có thể biến thử thách thành cơ hội, biến ước mơ thành hiện thực. Khi giữ vững niềm tin và quyết tâm, ta sẽ đủ sức vượt qua mọi khó khăn để chạm tới thành công.
câu 1 : Biểu cảm (chủ yếu): bộc lộ tâm trạng khắc khoải, nhớ thương, cô đơn.
Miêu tả: miêu tả cảnh thôn Vĩ, sông nước, trăng, mây…
Tự sự (yếu tố nhỏ): lời hỏi “Sao anh không về chơi thôn Vĩ?” tạo tình huống giao tiế
câu 2 : Bài thơ viết về cảnh đẹp thôn Vĩ (Huế) và qua đó thể hiện tình yêu thiên nhiên, yêu cuộc sống cùng nỗi buồn cô đơn, khát khao được giao cảm của nhà thơ.
câu 3 : Chỉ ra và nêu cảm nhận về một hình ảnh thơ mang tính tượng trưng.
Ví dụ: “gió theo lối gió, mây đường mây”
Hình ảnh gió – mây vốn gắn bó nhưng lại chia lìa → tượng trưng cho sự xa cách, chia ly.
Thể hiện tâm trạng cô đơn, mặc cảm, cảm giác bị tách khỏi cuộc đời của Hàn Mặc Tử.
Hoặc hình ảnh: “trăng”
Trăng tượng trưng cho vẻ đẹp tinh khiết, cho khát vọng yêu thương và giao cảm.
câu 4 : Phân tích tác dụng của biện pháp tu từ trong khổ thơ cuối.
Khổ cuối có các biện pháp:
Câu hỏi tu từ: “Ai biết tình ai có đậm đà?”
→ Thể hiện nỗi hoài nghi, băn khoăn về tình người, tình đời.
Điệp từ “ai”
→ Tăng cảm giác mơ hồ, xa vắng, không xác định.
Hình ảnh ảo – thực đan xen (khách đường xa, áo em trắng quá nhìn không ra…)
→ Gợi thế giới mờ ảo, thể hiện tâm trạng tuyệt vọng, khắc khoải.
câu 5 : Nhận xét về cấu tứ của bài thơ.
Bài thơ có cấu tứ theo mạch cảm xúc:
Cảnh thực → cảnh ảo → tâm trạng.
Ba khổ thơ như ba lớp không gian:
Khổ 1: Cảnh thôn Vĩ tươi sáng.
Khổ 2: Không gian sông nước chia lìa.
Khổ 3: Không gian mộng ảo, đầy hoài nghi.
Cảm xúc vận động từ hy vọng → chia lìa → hoài nghi, cô đơn.