Nông Quốc Huy

Giới thiệu về bản thân

Chào mừng bạn đến với trang cá nhân của Nông Quốc Huy
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
(Thường được cập nhật sau 1 giờ!)

Câu 1.
Văn bản “Áo Tết” thuộc thể loại truyện ngắn.


Câu 2.
Đề tài của văn bản là tình bạn trong sáng, hồn nhiên của trẻ em và tình cảm yêu thương, sẻ chia giữa những đứa trẻ có hoàn cảnh khác nhau trong ngày Tết.


Câu 3.

  • Sự thay đổi điểm nhìn: Văn bản chủ yếu được kể theo ngôi thứ ba, lúc đầu theo điểm nhìn của bé Em, sau đó chuyển sang bé Bích.
  • Tác dụng: Việc thay đổi điểm nhìn giúp câu chuyện khắc họa sinh động, toàn diện hơn nội tâm của hai nhân vật, thể hiện rõ sự đồng cảm, yêu thương và thấu hiểu trong tình bạn, làm cho câu chuyện trở nên tự nhiên, chân thực và cảm động hơn.

Câu 4.
Chi tiết chiếc áo đầm hồng là biểu tượng của niềm vui, sự háo hức của bé Em trong ngày Tết, đồng thời cũng là thước đo tình cảm và sự trưởng thành trong tâm hồn em.

  • Lúc đầu, chiếc áo thể hiện niềm kiêu hãnh, ham thích cái đẹp của bé Em.
  • Khi thấy bạn nghèo, em biết kiềm chế, không khoe khoang, chọn cách đơn giản, hòa đồng để bạn không buồn.
    → Chi tiết chiếc áo đầm hồng cho thấy bé Em là cô bé hồn nhiên nhưng nhân hậu, biết nghĩ cho người khác, còn bé Bích là cô bé hiền, biết cảm thông và trân trọng tình bạn.

Câu 5.
Câu chuyện dạy em rằng tình bạn chân thành không dựa vào vật chất, mà dựa vào sự yêu thương, tôn trọng và sẻ chia. Khi biết nghĩ cho bạn, biết đặt niềm vui của người khác lên trên niềm vui của mình, tình bạn mới trở nên bền chặt và đẹp đẽ. Mỗi người nên biết đồng cảm, quan tâm và sống giản dị, như cách bé Em và bé Bích đối xử với nhau.


Ta có:

  • Biên độ: \(A = \frac{12}{2} = 6 \&\text{nbsp};\text{cm}\)
  • Số dao động: \(N = 20\) trong \(t = 62.8 \&\text{nbsp};\text{s} \Rightarrow T = \frac{62.8}{20} = 3.14 \&\text{nbsp};\text{s}\)
  • Tần số góc: \(\omega = \frac{2 \pi}{T} = 2 \&\text{nbsp};\text{rad}/\text{s}\)

Vận tốc: \(v = \pm \omega \sqrt{A^{2} - x^{2}}\)

\(v = 2 \sqrt{6^{2} - \left(\right. - 2 \left.\right)^{2}} = 2 \sqrt{36 - 4} = 2 \cdot \sqrt{32} \approx 11.31 \&\text{nbsp};\text{cm}/\text{s}\)

(Chọn dấu \(+\) vì đi về vị trí cân bằng)

Gia tốc: \(a = - \omega^{2} x = - 2^{2} \cdot \left(\right. - 2 \left.\right) = 8 \&\text{nbsp};\text{cm}/\text{s}^{2}\)

Kết quả:

\(\boxed{v \approx 11.3 \&\text{nbsp};\text{cm}/\text{s} , a = 8 \&\text{nbsp};\text{cm}/\text{s}^{2}}\)

Ta có:

  • Chu kì \(T = 4 \&\text{nbsp};\text{s} \Rightarrow \omega = \frac{2 \pi}{T} = \frac{\pi}{2} \&\text{nbsp};\text{rad}/\text{s}\).
  • Quãng đường trong 6 s là \(S = 48 \&\text{nbsp};\text{cm}\).

Quãng đường trong thời gian \(t\) của dao động điều hòa:

\(S = 4 A \cdot n + S_{\text{ph} \overset{ˋ}{\hat{\text{a}}} \text{n}\&\text{nbsp};\text{d}ư}\)

Chu kì \(T = 4 \&\text{nbsp};\text{s} \Rightarrow n = \frac{6}{4} = 1\) chu kì rưỡi → quãng đường nửa chu kì dư: \(S_{\text{d}ư} = 48 - 4 A \cdot 1 = 48 - 4 A\).

Vì 1 chu kì rưỡi → nửa chu kì dư đi từ vị trí cân bằng về biên → quãng đường nửa chu kì dư = A → \(48 - 4 A = A \Rightarrow 5 A = 48 \Rightarrow A = 9.6 \&\text{nbsp};\text{cm}\).

Vì vật đi qua vị trí cân bằng lúc \(t = 0\) và hướng về biên âm:

\(x \left(\right. t \left.\right) = 9.6 cos ⁡ \left(\right. \frac{\pi}{2} t - \frac{\pi}{2} \left.\right) = 9.6 sin ⁡ \frac{\pi}{2} t \&\text{nbsp}; \left(\right. \text{cm} \left.\right)\)

Phương trình dao động:

\(\boxed{x\left(\right.t\left.\right)=9.6sin⁡\frac{\pi}{2}t\text{ cm}}\)