Trương Yến Trang
Giới thiệu về bản thân
CÂU 1:
Các di tích lịch sử là những “chứng nhân” quý giá của quá khứ, góp phần lưu giữ bản sắc văn hóa dân tộc, nhưng hiện nay nhiều nơi đang đứng trước nguy cơ xuống cấp nghiêm trọng. Sự xuống cấp của di tích có thể hiểu là tình trạng hư hỏng, mai một về kiến trúc, giá trị và ý nghĩa do tác động của thời gian, con người và môi trường. Để hạn chế tình trạng này, trước hết cần nâng cao ý thức của cộng đồng trong việc bảo vệ di sản thông qua giáo dục và tuyên truyền. Bên cạnh đó, Nhà nước cần đầu tư kinh phí trùng tu, tôn tạo đúng cách, tránh làm sai lệch giá trị gốc của di tích. Đồng thời, việc quản lý du lịch tại các di tích cũng cần được siết chặt, hạn chế tình trạng xả rác, vẽ bậy hay phá hoại. Thực tế, tại nhiều di tích như Văn Miếu – Quốc Tử Giám, việc lắp đặt hệ thống bảo vệ và tăng cường giám sát đã giúp cải thiện đáng kể tình trạng xâm hại di sản. Có thể khẳng định, bảo vệ di tích lịch sử là trách nhiệm chung của toàn xã hội. Là một học sinh, em cần nâng cao ý thức, tham gia giữ gìn vệ sinh, không có những hành vi làm tổn hại đến các di tích, góp phần bảo tồn giá trị văn hóa cho các thế hệ mai sau.
CÂU 2:
Lê Quý Đôn đã từng nói :''Thơ phát khởi từ trong lòng người ta''. Bởi thơ ca bao giờ cũng là tấm gương của tâm hồn, là tiếng nói tình cảm của con người, là những rung động của trái tim trước cuộc đời .Và điều đó được thể hiện trọn vẹn qua bài thơ '' Đường vào Yên Tử'' của Hoàng Quang Thuận . Bài thơ đã để lại ấn tượng trong lòng người đọc những rung cảm về vẻ đẹp thiên nhiên núi rừng Yên Tử vừa hùng vĩ,vừa thơ mộng.
Bài thơ ''Đường vào Yên Tử''của Hoàng Quang Thuận được in trong tập Thi vân Yên Tử của NXB Giáo dục ,là một khúc ca thấm đẫm cảm xúc của tác giả trước vẻ đẹp thiên nhiên và không gian tâm linh thiêng liêng ,đã khác hoạ chân thực bức tranh núi rừng Yên Tử hùng vĩ,thơ mộng.Qua đó thể hiện tình yêu thiên nhiên,tình yêu quê hương đất nước da diết của nhà thơ.
Mạch cảm xúc của bài thơ đi từ cái nhìn quan sát đầy tinh tế về núi rừng Yên Tử của nhà thơ và đọng lại là cảm nhận sâu sắc và tình yêu về vẻ đẹp thiên nhiên của Núi rừng Yên Tử .
Nếu mạch cảm xúc là nhạc điệu chính của bài thơ,thì từng câu chữ như những nốt nhạc ngân vang ,đưa người đọc chìm đắm vào thế giới hình ảnh giàu sức gợi.Khổ thơ mở đầu đã khắc hoạ con đường vào Yên Tử và vẻ đẹp của thiên nhiên :
''Đường vào Yên Tử có khác xưa
Vẹt đá mòn chân lễ hội mùa
Trập trùng núi biếc cây xanh lá
Đàn bướm tung bay trong nắng trưa.''
Những câu thơ mở đầu,tác giả đã miêu tả con đường Yên Tử với những dấu ấn thời gian vừa quen thuộc vừa mới mẻ. Câu thơ "Đường vào Yên Tử có khác xưa'' gợi lên sự thay đổi theo thời gian và khiến chúng ta tò mò về vẻ đẹp hiện tại. Hình ảnh''Vẹt đá mòn chân lễ hội mùa'' gợi lên không gian Yên Tử là một nơi thiêng liêng ,thể hiện sức hút lâu dài,cổ kính của Yên Tử. Hai câu thơ tiếp theo mở rộng được khung cảnh thiên nhiên với màu xanh ''trập trùng'' của núi rừng ''Trập trùng núi biếc cây xanh lá/Đàn bướm tung bay trong nắng trưa.'' . Hình ảnh ''đàn bướm tung bay'' thể hiện khung cảnh tràn đầy sức sống , tạo nên không gian trong trẻo ,tươi tắn rộn ràng mà lại thanh bình.Khổ thơ đầu nhẹ nhàng như tiếng dạo đầu , dẫn dắt người đọc vào không gian đầy xúc cảm của những câu thơ tiếp theo.
Mạch cảm xúc tiếp tục lan toả và lắng động ở những câu thơ cuối , để lại những dấu ấn khó phai trong lòng độc giả. Khép lại bài thơ là bức tranh núi rừng Yên Tử hùng vĩ,trùng điệp.
''Cây rừng phủ núi thành từng lớp
Muôn vạn đài sen mây đong đưa
Trông như đám khói người Dao vậy
Thấp thoáng trời cao những mái chùa..''
Khổ thơ cuối khắc hoạ vẻ đẹp Yên tử nhưng gắn liền với tâm linh. Hình ảnh thơ''Cây rừng phủ núi thành từng lớp'' đã tạo nên sự bao trùm dày đặc của thiên nhiên. Kết hợp với hình ảnh'' Muôn vạn đài sen mây đong đưa'' tác giả sử dụng yếu tố tạo sự liên tưởng độc đáo , tạo cảm giác thơ mộng mà huyền ảo. Tác giả sử dụng biện pháp tu từ so sánh '' Trông như đám khói người Dao vậy''không chỉ giàu sức gợi mà còn đưa đời sống nhân dân vào bức tranh thiên nhiên làm cho cảnh vật thêm gần gũi và chân thực. Câu thơ cuối khép lại là hình ảnh ''Trông như đám khói người Dao vậy'' làm cho bài thơ gợi lên điểm đến linh thiêng ''chùa'' hình ảnh ẩn hiện giữa mây không chỉ là một hình ảnh đẹp mà còn mang ý nghĩa giá trị sâu sắc về tâm linh trong cuộc sống. Khổ thơ cuối tựa như một nốt lặng trầm,gói gọn những thông điệp đầy nhân văn và tình cảm sâu sắc của nhà thơ.
Như một cái chạm tay khẽ nhẹ vào tâm hồn người yêu thơ. Bài thơ''Đường vào Yên Tử'' nhẹ nhàng và tinh tế như chính tác giả của nó.Tac phẩm đã để lại cho người đọc ấn tượng sâu sắc về sự phóng túng và cái tôi dạt dào cảm xúc.
''Thơ bắt rễ từ lòng người,nở hoa nơi từ ngữ''. Thật vậy, bài thơ''Đường vào Yên Tử'' không chỉ hấp dẫn người đọc bởi nội dung đặc sắc mà còn bởi nghệ thuật vô cùng độc đáo.Thể thơ bảy chữ,mềm mại ,hài hoà với mạch cảm xúc.Ngôn ngữ thơ giàu sức gợi,hình ảnh gần gũi,quen thuộc. Ngắt nhịp linh hoạt 3/4 , 3/2/2,...Biện pháp tu từ so sánh,nhân hoá được tác giả vận dụng linh hoạt,khéo léo,tạp chiều sâu cho tác phẩm. Như vậy,chính sự kết hợp hài hoà giữa nội dung và nghệ thuật đã làm nên vẻ đẹp bất tận của bài thơ,khiến nó trở thành dấu ấn khó phai trong lòng độc giả .
''Văn học nằm ngoài những quy luật của sự băng hoại''.Bài thơ''Đường vào Yên Tử'' nói riêng và nhà thơ Hoàng Quang Thuận nói chung cũng nằm ngoài những quy luật ấy bơi nó không chỉ thức tỉnh mà còn đưa ru người đọc những giá trị tinh thần sâu sắc . Đồng thời,bài thơ còn như một lời khẽ nhắc nhở mỗi chúng ta hãy yêu thiên nhiên,yêu quê hương đất nước, trân trọng , giữ gìn những giá trị truyền thống . Chính vì thế, thơ Hoàn Quang Thuận luôn hiện hữu trong tâm trí của độc giả hôm qua,hôm nay, và mãi mãi mai sau.
Câu 1 : văn bản trên thuộc kiểu văn bản thông tin
Câu 2: Đối tượng thông tin được đề cập đến trong văn bản là đô thị cổ Hội An
Câu 3: thông tin trong câu văn: “Thương cảng Hội An hình thành từ thế kỷ XVI, thịnh đạt nhất trong thế kỷ XVII-XVIII, suy giảm dần từ thế kỷ XIX, để rồi chỉ còn là một đô thị vang bóng một thời.”. được trình bày theo trình tự thời gian : các giai đoạn hình thành,phát triển/sự suy giảm dần của thương cảng Hội An qua các thời kỳ.
Câu 4: Phương tiện phi ngôn ngữ được sử dụng trong văn bản là hình ảnh
-> tác dụng:
+tổ chức thông tin theo một trình tự logic,hợp lí,liên kết các phần, làm tăng tính cụ thể,sinh động,hấp dẫn và trực quan
+nhấn mạnh và làm nổi bật các thông tin cơ bản,giúp người đọc hình dung rõ nét về đô thị cổ Hội An
+thể hiện thái độ tự hào,trân trọng,ngợi ca của tác giả về đô thị cổ Hội An
Câu 5 :
-mục đích : cung cấp thông tin cơ bản về lịch sử , văn hoá của Đô thị cổ Hội An
-nội dung:
+giới thiệu được giá trị vẻ đẹp và giá trị lịch sử ở Đô thị cổ Hội An
+cung cấp cho người đọc nhiều thông tin hữu ích và mở rộng kiến thức về Đô thị cổ Hội An