Phí Bảo Ngọc

Giới thiệu về bản thân

Chào mừng bạn đến với trang cá nhân của Phí Bảo Ngọc
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
(Thường được cập nhật sau 1 giờ!)

Câu 1. Xác định luận đề của văn bản.
Luận đề của văn bản là: ý nghĩa nghệ thuật của chi tiết “cái bóng” trong Chuyện người con gái Nam Xương, qua đó khẳng định tài năng kể chuyện của Nguyễn Dữ và nhấn mạnh việc lên án thói ghen tuông mù quáng của con người.


Câu 2. Theo người viết, truyện Chuyện người con gái Nam Xương hấp dẫn bởi tình huống truyện độc đáo nào?
Theo người viết, truyện hấp dẫn bởi tình huống người chồng sau nhiều năm chinh chiến trở về, lại bị chính lời nói ngây thơ của đứa con về “người cha chỉ nín thin thít” và “người đàn ông đêm nào cũng đến” làm cho nghi ngờ vợ, dẫn đến bi kịch. Tình huống chỉ được tháo gỡ khi đứa con chỉ vào cái bóng của người cha và gọi đó là “cha Đản”.


Câu 3. Mục đích của việc người viết nhắc đến tình huống truyện ở phần mở đầu văn bản là gì?
Việc nhắc đến tình huống truyện ở phần mở đầu nhằm:

  • Thu hút người đọc, tạo sự tò mò về nguyên nhân bi kịch.
  • Định hướng vấn đề nghị luận, từ đó dẫn dắt người đọc đi sâu vào phân tích chi tiết “cái bóng” – yếu tố then chốt tạo nên tình huống truyện độc đáo.

Câu 4. Chỉ ra một chi tiết được trình bày khách quan và một chi tiết được trình bày chủ quan trong đoạn (2). Nhận xét về mối quan hệ giữa hai cách trình bày đó.

  • Chi tiết trình bày khách quan:

    “Ngày xưa chưa có tivi, đến cả ‘rối hình’ cũng không có, tối tối con cái thường quây quần quanh cha mẹ, ông bà, chơi trò soi bóng trên tường…”

  • Chi tiết trình bày chủ quan:

    “Có lẽ vì muốn con luôn cảm thấy người cha vẫn có mặt ở nhà, và để tự an ủi mình…”

Nhận xét:
Cách trình bày khách quan giúp tạo cơ sở hiện thực, đáng tin, còn cách trình bày chủ quan thể hiện sự suy đoán giàu cảm xúc, nhân văn của người viết. Hai cách kết hợp chặt chẽ, làm cho lập luận vừa hợp lí vừa thấm thía, tăng sức thuyết phục cho văn bản.


Câu 5. Từ văn bản, cho biết vì sao người viết cho rằng chi tiết cái bóng là một chi tiết nghệ thuật đặc sắc.
Người viết cho rằng chi tiết cái bóng là chi tiết nghệ thuật đặc sắc vì:

  • xuất phát từ đời sống sinh hoạt rất bình thường, tự nhiên và hợp lí.
  • Từ một trò chơi dân gian, chi tiết này được nâng lên thành cái cớ nghệ thuật tạo nên tình huống truyện độc đáo, gây ra toàn bộ bi kịch.
  • Chi tiết cái bóng còn thể hiện sâu sắc tấm lòng yêu chồng, thương con của Vũ Nương, đồng thời làm nổi bật thói ghen tuông mù quáng – đối tượng phê phán chính của tác phẩm.

Câu 1

Nhân vật Dung trong đoạn trích Hai lần chết của Thạch Lam là hình ảnh tiêu biểu cho số phận người phụ nữ nghèo trong xã hội cũ, chịu nhiều bất công và đau khổ. Sinh ra trong một gia đình sa sút, Dung lớn lên trong sự lạnh nhạt, không được yêu thương, rồi lại bị chính mẹ ruột đem bán làm vợ để đổi lấy tiền. Cuộc sống làm dâu của Dung là chuỗi ngày lao động cực nhọc, bị mẹ chồng hành hạ, em chồng hắt hủi, còn người chồng thì nhu nhược, vô tâm. Không chỉ bị bóc lột về sức lao động, Dung còn bị tước đoạt quyền được cảm thông, chia sẻ. Đau đớn hơn, khi tìm về gia đình ruột thịt, nàng vẫn không nhận được sự chở che, khiến mọi hi vọng hoàn toàn sụp đổ. Trong tuyệt vọng, Dung từng khao khát cái chết như một lối thoát, cho thấy bi kịch tinh thần đến tận cùng của nhân vật. Qua hình tượng Dung, Thạch Lam thể hiện niềm xót thương sâu sắc đối với người phụ nữ và kín đáo tố cáo xã hội phong kiến vô nhân đạo đã dồn họ đến bước đường cùng.

Câu 2.

bình đẳng giới là một trong những vấn đề xã hội quan trọng, thể hiện trình độ văn minh và tiến bộ của nhân loại. Bình đẳng giới không chỉ là sự công bằng giữa nam và nữ về quyền lợi, nghĩa vụ mà còn là sự tôn trọng giá trị, năng lực và cơ hội phát triển của mỗi con người, không phân biệt giới tính.

Trong xã hội hiện nay, bình đẳng giới đã có nhiều chuyển biến tích cực. Phụ nữ ngày càng được học tập, tham gia lao động, giữ những vị trí quan trọng trong các lĩnh vực kinh tế, chính trị, khoa học. Nam giới cũng dần được nhìn nhận công bằng hơn trong vai trò chăm sóc gia đình, nuôi dạy con cái. Điều đó cho thấy nhận thức xã hội về giới đã có bước tiến đáng kể.

Tuy nhiên, trên thực tế, bình đẳng giới vẫn chưa được thực hiện trọn vẹn. Ở nhiều nơi, phụ nữ vẫn chịu định kiến “trọng nam khinh nữ”, bị hạn chế cơ hội học tập, việc làm hoặc phải gánh vác phần lớn trách nhiệm gia đình. Ngược lại, nam giới cũng chịu những áp lực vô hình khi bị buộc phải “mạnh mẽ”, “trụ cột”, không được bộc lộ cảm xúc. Những định kiến ấy khiến cả hai giới đều bị tổn thương và kìm hãm sự phát triển cá nhân.

Bình đẳng giới không phải là sự hơn thua giữa nam và nữ mà là sự tôn trọng và chia sẻ. Để thực hiện điều đó, cần thay đổi nhận thức từ gia đình, nhà trường đến xã hội; xóa bỏ định kiến giới; tạo cơ hội công bằng cho mọi người phát triển theo năng lực và ước mơ của mình.

Là thế hệ trẻ, học sinh cần có thái độ đúng đắn về bình đẳng giới: tôn trọng bạn bè, không phân biệt giới tính, lên tiếng trước những hành vi bất công. Khi mỗi người biết sống công bằng và nhân ái, xã hội sẽ ngày càng văn minh và tốt đẹp hơn.