ミ★CUSHINVN★彡

Giới thiệu về bản thân

Bảng điểm treo trước lớp như một bản án im lặng, không cần lên tiếng nhưng mỗi con số rơi xuống đều đủ sắc để cứa vào lòng tự trọng vốn đã mỏng manh. Tôi đứng đó, giữa những ánh mắt lướt qua rất nhanh, nghe rõ nhịp tim mình chùng xuống, nghe cả những tiếng thở dài mà chẳng ai buồn để ý. Người ta nhìn tôi qua vài vạch mực xanh đỏ trên giấy, rồi vội vàng gán cho tôi một vị trí quen thuộc: kẻ chậm, kẻ yếu, kẻ không đủ cố gắng. Nhưng họ đâu thấy những đêm tôi thức đến mỏi mắt, những lần gục xuống bàn vì kiệt sức, hay những buổi sáng đến lớp với một cơ thể rã rời nhưng vẫn phải giả vờ như mình ổn. Tôi cố gắng không phải để hơn ai, mà chỉ để không bị bỏ lại phía sau. Cố gắng đến mức mệt mỏi trở thành thói quen, đến mức nỗi đau cũng học cách im lặng. Điểm số hôm nay có thể thấp, nhưng chí tôi thì chưa từng cúi đầu; tôi không thua, tôi chỉ đang âm thầm trả giá theo cách mà rất ít người đủ kiên nhẫn để nhìn thấy. Giữa một lớp học ồn ào và một cuộc sống luôn hối hả, tôi tồn tại lặng lẽ như một người đứng bên lề. Tôi không quá nổi bật, cũng chẳng đủ giỏi để khiến ai phải nhớ tên. Tôi quen với việc đứng ở rìa của mọi câu chuyện, nhìn người khác cười nói, tiến lên, rồi tự hỏi vì sao mình vẫn ở đây mà lại cảm thấy xa lạ đến vậy. Có những lúc tôi thấy bản thân giống như một cái bóng, vẫn hiện diện, vẫn đi qua ngày tháng, nhưng không ai thật sự nhìn thấy. Tôi mang trong mình nhiều cảm xúc hơn những gì tôi thể hiện, những nỗi buồn không bật thành nước mắt mà lắng xuống, nặng nề, đè lên từng suy nghĩ. Tôi học cách tự an ủi mình, tự nuốt vào trong những tổn thương, bởi tôi hiểu không phải ai cũng đủ kiên nhẫn để lắng nghe một tâm hồn đã quá mệt mỏi. Dần dần, tôi chọn im lặng, không phải vì hết đau, mà vì nói ra cũng chẳng làm nỗi buồn vơi đi. Có những ngày tôi thức dậy mà không biết mình đang cố gắng vì điều gì. Mọi thứ xung quanh vẫn diễn ra bình thường: lớp học, bài vở, tiếng cười, những cuộc so sánh vô hình, còn trong tôi thì trống rỗng đến đáng sợ. Tôi cười, tôi nói chuyện, tôi hoàn thành những việc cần làm, nhưng tất cả chỉ như một chuỗi hành động máy móc. Tôi tồn tại, chứ không thật sự sống, và chính điều đó mới là thứ khiến tôi sợ hãi nhất. Tôi từng tin rằng chỉ cần đủ chân thành thì sẽ được thấu hiểu, nhưng sau nhiều lần hy vọng rồi thất vọng, tôi học cách thu mình lại. Tôi sợ những lời hứa hẹn nhất thời, sợ sự quan tâm chóng vánh, sợ cả việc mở lòng rồi lại bị bỏ quên. Những vết thương cũ không còn đau nhói, nhưng để lại cảm giác lạnh lẽo, khiến tôi dè dặt trước mọi mối quan hệ, dè dặt cả với chính cảm xúc của mình. Đêm là khoảng thời gian tôi yếu lòng nhất. Khi mọi âm thanh lắng xuống, những suy nghĩ trong tôi lại trở nên ồn ào hơn bao giờ hết. Tôi nhớ về những điều đã mất, những người từng rất quan trọng nhưng giờ chỉ còn là ký ức mờ nhạt, rồi tự hỏi liệu có phải mình đã sai ở đâu đó, hay đơn giản là tôi chưa từng đủ quan trọng để được ở lại. Câu hỏi ấy lặp đi lặp lại, không có câu trả lời. Tôi cũng không biết từ khi nào mình quen với cảm giác trống rỗng; nó không đến dữ dội, không ập xuống bất ngờ, mà âm thầm len vào từng ngày sống. Ban đầu chỉ là vài khoảnh khắc mệt mỏi, vài lần thở dài không rõ lý do, rồi dần dần nó ở lại lâu hơn, sâu hơn, cho đến khi tôi nhận ra mình đã sống chung với nó như một điều hiển nhiên. Nhìn từ bên ngoài, tôi không có gì bất ổn. Tôi vẫn sinh hoạt như bao người khác, vẫn hoàn thành trách nhiệm của mình một cách lặng lẽ, nhưng chỉ tôi mới biết mọi thứ bên trong đã chậm lại rất nhiều. Niềm vui không còn đủ lớn để níu tôi ở lại, còn nỗi buồn thì không đủ rõ ràng để bật thành nước mắt; tất cả chỉ dàn trải, mờ mịt, như một lớp sương mỏng phủ kín tâm trí. Tôi tiếp tục sống không phải vì hy vọng, mà vì hôm nay vẫn chưa kết thúc. Tôi bước tiếp, dù chậm chạp và đầy mệt mỏi, không phải vì tôi mạnh mẽ, mà vì tôi chưa cho phép mình dừng lại. Tôi mang theo nỗi buồn như một phần của bản thân, âm thầm nhưng dai dẳng. Điểm số có thể là những con số lạnh lùng treo trên tường, nhưng ý chí của tôi thì không bao giờ chịu khuất phục. Dù năm tháng có trôi qua, dù tôi có bị đánh giá bao nhiêu lần đi nữa, tôi vẫn tin rằng sẽ có một ngày tôi bước lên cao hơn, không phải để chứng minh với ai, mà để chính mình có thể nhìn lại và nói rằng: tôi đã không bỏ cuộc. Tôi không mong cuộc sống sẽ rực rỡ hơn, tôi chỉ mong có một ngày lòng mình nhẹ đi một chút, một ngày nào đó tôi không còn thấy một người cô đơn đến lạc lõng giữa chính cuộc đời mình nữa. Và nếu ai đó vô tình đọc được những dòng này, tôi cũng không cần họ hiểu, chỉ cần họ biết rằng có những người sống rất yên, rất lặng, không phải vì họ ổn, mà vì họ đã quen với việc chịu đựng trong im lặng. :)
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
(Thường được cập nhật sau 1 giờ!)
Để chứng minh DE song song với BF và DE = BF, ta sẽ sử dụng tính chất của hình bình hành và tia phân giác. Chứng minh:
  1. 1. Chứng minh DE // BF:
    • Vì ABCD là hình bình hành nên AB // CD và AD // BC.
    • Góc ADC = góc ABC (tính chất hình bình hành).
    • DE là tia phân giác của góc ADC, nên góc ADE = góc EDC = 1/2 góc ADC.
    • BF là tia phân giác của góc ABC, nên góc ABF = góc FBC = 1/2 góc ABC.
    • Vì góc ADC = góc ABC nên góc EDC = góc FBC.
    • Góc EDC và góc FBC là hai góc so le trong và bằng nhau, nên DE // BF.
  2. 2. Chứng minh DE = BF:
    • Vì ABCD là hình bình hành nên AD = BC và AB = CD.
    • Góc ADE = góc EDC = 1/2 góc ADC.
    • Góc ABF = góc FBC = 1/2 góc ABC.
    • Góc ADC = góc ABC (tính chất hình bình hành) nên góc EDC = góc ABF.
    • Trong tam giác ADE, ta có góc ADE + góc DAE + góc DEA = 180 độ.
    • Trong tam giác CBF, ta có góc CBF + góc BCF + góc BFC = 180 độ.
    • Góc DAE = góc BCF (so le trong do AD // BC).
    • Góc DEA = góc BFC (cùng bù với góc ADE và ABF)
    • Vì DE và BF lần lượt là tia phân giác của góc ADC và ABC nên:
      • DE = AD / sin(ADE)
      • BF = BC / sin(ABF)
    • Vì AD = BC và góc ADE = góc ABF nên DE = BF. 
Kết luận: DE song song với BF và DE = BF.
1. Phân tích đề bài:
  • Đề bài cho một tam giác ABC không cân tại A và đường tròn nội tiếp (I) của nó.
  • Đường tròn (I) tiếp xúc với ba cạnh của tam giác tại D, E, F.
  • T là giao điểm của đường thẳng EF và BC.
  • Mục tiêu là chứng minh IT vuông góc với AD.
2. Sử dụng các kiến thức hình học:
  • Tính chất đường phân giác: Tia phân giác của một góc chia góc đó thành hai góc bằng nhau.
  • Tính chất tiếp tuyến: Tiếp tuyến của đường tròn vuông góc với bán kính tại tiếp điểm.
  • Định lý Pascal: Nếu một lục giác nội tiếp có sáu đỉnh nằm trên một đường tròn, thì ba giao điểm của ba cặp cạnh đối diện của lục giác nằm trên một đường thẳng (đường thẳng Pascal).
  • Trục đẳng phương: Tập hợp các điểm có cùng phương tích đối với hai đường tròn.
3. Chứng minh:
  • Bước 1: Sử dụng tính chất tiếp tuyến và đường phân giác:
    • Vì I là tâm đường tròn nội tiếp, nên IE = IF (bán kính đường tròn).
    • Suy ra tam giác IEF cân tại I.
    • Gọi M là trung điểm của EF. Vì tam giác IEF cân tại I, IM vuông góc với EF.
    • AD là đường phân giác trong của góc BAC, nên D nằm trên BC.
    • Gọi AD cắt EF tại K.
    • Áp dụng định lý Menelaus cho tam giác ABC và đường thẳng EKT:
    • Áp dụng định lý Menelaus cho tam giác ABC và đường thẳng FDT:
    • Bước 2: Chứng minh T, D, E, F thẳng hàng (Định lý Pascal):
      • Xét lục giác AEIFCD nội tiếp đường tròn đường kính AD.
      • Áp dụng định lý Pascal, ta có T, E, F thẳng hàng (đường thẳng Pascal).
      • Vì T là giao điểm của EF và BC, nên T, E, F thẳng hàng.
    • Bước 3: Chứng minh IT vuông góc với AD:
      • Áp dụng định lý Brocard: Nếu tam giác ABC không cân, và đường tròn nội tiếp (I) tiếp xúc với BC, CA, AB lần lượt tại D, E, F, thì AD, BE, CF đồng quy tại một điểm, gọi là điểm Lemoine (K).
      • Áp dụng định lý Brocard cho tam giác ABC, ta có AD, BE, CF đồng quy tại K.
      • Ta có K là điểm Lemoine của tam giác ABC.
      • Vì K là điểm Lemoine, nên K nằm trên đường thẳng Simson của điểm I đối với tam giác ABC.
      • Đường thẳng Simson của I đối với tam giác ABC là đường thẳng vuông góc với AD tại điểm T.
      • Do đó, IT vuông góc với AD.
    Kết luận: IT vuông góc với AD.

71713434 + \(x\) = \(\frac{1234}{2468}\)

\(\frac{34}{71}\) + \(x\) = \(\frac{1}{2}\)

\(x\) = \(\frac{1}{2}\) - \(\frac{34}{71}\)

\(x\) = \(\frac{71}{142}\) - \(\frac{68}{142}\)

\(x\) = \(\frac{3}{142}\)

x:2×5 + 1234 = 2234

\(x : 2 \times 5\) = 2234 - 1234

\(x : 2 \times 5\) = 1000

\(x\) : 2 = 1000 : 5

\(x : 2\) = 200

\(x = 200 \times 2\)

\(x = 400\)

- Khi biết quãng đường đi được của âm trong khoảng thời gian t khi âm truyền trong một môi trường nào đó, ta xác định vận tốc truyền âm trong môi trường đó bằng công thức: 

v= s\t

- Trong đó: S là quãng đường truyền âm, có đơn vị mét (m);

        t là thời gian truyền âm, có đơn vị giây (s);

       v là vận tốc truyền âm, có đơn vị là mét trên giây (m/s).

a) 48/x+4+48/x−4=5

Điều kiện xác định: x≠4 và x≠−4

Quy đồng mẫu số và khử mẫu:

48(x−4)+48(x+4)=5(x+4)(x−4)

48x−192+48x+192=5(x2−16)

96x=5x2−80

5x2−96x−80=0

Giải phương trình bậc hai này, ta được:

x1=20

x2=−45

Cả hai giá trị này đều thỏa mãn điều kiện xác định.

b) 45/x−6+45/x+6+1/2=412

Điều kiện xác định: x≠6 và x≠−6

45x−6+45x+6+12=92

45x−6+45x+6=92−12

45x−6+45x+6=4

Quy đồng mẫu số và khử mẫu:

45(x+6)+45(x−6)=4(x−6)(x+6)

45x+270+45x−270=4(x2−36)

90x=4x2−144

4x2−90x−144=0

2x2−45x−72=0

Giải phương trình bậc hai này, ta được:

x1=24

x2=−32

Cả hai giá trị này đều thỏa mãn điều kiện xác định.

c) (5−42/x+2)(x−2)=20

Điều kiện xác định: x≠−2

(5−42x+2)(x−2)=20

5(x+2)−42x+2.(x−2)=20

5x+10−42x+2.(x−2)=20

5x−32x+2.(x−2)=20

(5x−32)(x−2)=20(x+2)

5x2−10x−32x+64=20x+40

5x2−42x+64=20x+40

5x2−62x+24=0

Giải phương trình bậc hai này, ta được:

x1=12

đáp án ta đc x2=25

vì Uy-li-am đã chế tạo được chiếc máy hoạt động dựa vào sức gió