Nguyễn Minh Nhật

Giới thiệu về bản thân

Mỗi sáng đến trường là một chuỗi những tháng ngày đau thương, giờ mà vào lớp xác định là thương vong
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
(Thường được cập nhật sau 1 giờ!)

Chào bạn, đây là một đoạn trích rất ý nghĩa từ cuốn sách "Không có đỉnh quá cao" của GS. Phan Văn Trường. Đề bài này tập trung vào tư duy tích cực và cách chúng ta đón nhận cơ hội trong cuộc sống.

Dưới đây là gợi ý giải chi tiết cho các câu hỏi trong đề:


Câu 1: Xác định vấn đề nghị luận của văn bản.

Vấn đề nghị luận của văn bản là: Thái độ và cách ứng xử của con người trước những cơ hội và thách thức trong cuộc sống. (Cụ thể là việc nhận diện cơ hội ẩn sau thách thức và sự chủ động kiến tạo cơ hội cho bản thân).

Câu 2: Chỉ ra 01 câu văn có sử dụng biện pháp tu từ so sánh trong đoạn (1).

Bạn có thể chọn một trong hai câu sau:

  • “Mỗi cơ hội thường đến dưới dạng một thách thức, giống như một bà tiên thường đội lốt một kẻ ăn mày.”
  • “Và chúng ta, giống như rất nhiều nhân vật trong truyện cổ tích, thường xua đuổi cơ hội như xua đuổi những kẻ ăn mày.”

Câu 3: Trình bày cách hiểu về nội dung câu văn: "Trong quá trình vật lộn với thách thức, họ có cơ hội phát triển tận độ năng lực của mình, thứ năng lực vốn thường ngủ vùi trong một cuộc sống an bài tẻ nhạt."

Câu văn này có thể hiểu như sau:

  • Thử thách là chất xúc tác: Khi đối mặt với khó khăn, con người buộc phải dồn hết tâm trí, sức lực và sự sáng tạo để giải quyết vấn đề.
  • Khám phá tiềm năng ẩn giấu: Trong điều kiện bình thường ("cuộc sống an bài"), chúng ta thường chỉ sử dụng một phần nhỏ năng lực. Chỉ khi bị đẩy vào tình huống ngặt nghèo, những khả năng tiềm tàng, mạnh mẽ nhất mới được đánh thức và phát huy tối đa.
  • Giá trị của sự nỗ lực: Vượt qua thách thức không chỉ giúp giải quyết công việc mà còn là quá trình tự rèn luyện để trở thành phiên bản tốt hơn của chính mình.

Câu 4: Nêu hiệu quả của việc sử dụng các bằng chứng trong đoạn văn (3).

Việc đưa ra các bằng chứng (câu tục ngữ "cái khó ló cái khôn", đại dịch Covid-19, việc sản xuất vắc-xin) có hiệu quả:

  • Tăng tính thuyết phục: Giúp luận điểm "thách thức tạo ra cơ hội" trở nên cụ thể, gần gũi và có cơ sở thực tế chứ không còn là lý thuyết suông.
  • Làm rõ vấn đề: Minh chứng cho thấy ngay cả trong những hoàn cảnh tồi tệ nhất (như đại dịch), nếu có tư duy đúng đắn, con người vẫn tìm thấy những giá trị tích cực (gắn kết gia đình, đột phá khoa học).
  • Truyền cảm hứng: Khích lệ người đọc có cái nhìn lạc quan và chủ động hơn trước nghịch cảnh.

Câu 5: Trình bày sự tương đồng về ý nghĩa của hai ngữ liệu.

Cả hai ngữ liệu đều gặp nhau ở một tư tưởng cốt lõi: Thành quả và cơ hội không bao giờ tự nhiên mà có, chúng là kết quả của sự rèn luyện và nỗ lực bền bỉ.

  • Ngữ liệu 1 (Phan Văn Trường): Nhấn mạnh vào sự chủ động. Cơ hội luôn hiện hữu nhưng đòi hỏi con người phải tích cực, tự tin để tạo ra và nắm bắt lấy nó.
  • Ngữ liệu 2 (Nguyễn Đăng Tấn): Sử dụng hình ảnh ẩn dụ (quả ngọt tích nhựa, hoa thắm trải qua nắng lửa) để khẳng định quy luật: Phải trải qua khó khăn, thử thách khắc nghiệt thì mới có được kết quả tốt đẹp.
  • Sự tương đồng: Cả hai đều khuyên con người đừng ngồi chờ đợi vận may mà hãy dũng cảm đối mặt với "nắng lửa", "thách thức" để gặt hái "quả ngọt" và "cơ hội" cho chính mình.
Câu 1

Để biến thách thức thành cơ hội, điều quan trọng nhất là thay đổi tư duy từ "nạn nhân" sang "người làm chủ". Thay vì lo sợ hay né tránh, người trẻ cần nhìn nhận khó khăn như một "bài kiểm tra" năng lực và là môi trường rèn luyện sự bản lĩnh. Bước đầu tiên là sự chấp nhận và đối diện thực tế, không đổ lỗi cho hoàn cảnh. Tiếp theo, chúng ta cần sự linh hoạt và sáng tạo để tìm ra giải pháp mới trong những tình huống bế tắc; đôi khi, chính sự thiếu hụt về nguồn lực lại buộc ta phải bứt phá khỏi vùng an toàn. Bên cạnh đó, việc tích lũy kiến thức và kỹ năng không ngừng sẽ giúp chúng ta đủ sức nắm bắt những "mầm mống" cơ hội ẩn sau mỗi thất bại. Những người trẻ thành công thường là những người biết nhìn thấy ánh sáng ở cuối đường hầm và hiểu rằng "trong nguy có cơ". Tóm lại, thử thách không sinh ra để đánh bại chúng ta, mà để làm đòn bẩy giúp chúng ta tiến xa hơn nếu ta sở hữu một ý chí kiên cường và tầm nhìn tích cực.

Dựa trên dàn ý đã trao đổi, dưới đây là bài văn nghị luận hoàn chỉnh (khoảng 600 chữ) phân tích cảm xúc của nhân vật trữ tình trong đoạn trích "Nhớ mưa quê hương" của Lê Anh Xuân để bạn tham khảo:


Câu 2

Lê Anh Xuân là người con của đất Gò Công, một nhà thơ - chiến sĩ với tâm hồn luôn hướng về mảnh đất miền Nam ruột thịt. Trong số những tác phẩm của ông, "Nhớ mưa quê hương" nổi lên như một bài ca đồng quê vừa dịu dàng, vừa hào hùng. Đoạn trích trên đã khắc họa một hành trình cảm xúc tinh tế của nhân vật trữ tình: từ những hoài niệm tuổi thơ ngọt ngào đến sự trưởng thành trong nhận thức về tình yêu quê hương, đất nước.

Mở đầu đoạn thơ, nhân vật trữ tình đưa người đọc trở về với miền ký ức xa xăm qua lời gọi thiết tha: "Ôi đâu rồi những trò chơi tuổi trẻ". Nỗi nhớ bắt đầu từ những sự vật giản dị, mộc mạc nhất của làng quê Việt Nam: là tàu chuối, bẹ dừa, là những mảnh chòi nhỏ bé hay chiếc thuyền làm từ mo cau. Hình ảnh "những vết chân thơ ấu buổi đầu tiên" gợi lên sự trong trẻo, hồn nhiên của một thời con trẻ. Cơn mưa quê hương lúc này đóng vai trò như một người bạn tâm giao, chứng kiến những trò chơi con trẻ và cả những mất mát đầu đời khi "mưa cuốn đi rồi" những chiếc thuyền mo cau nhỏ bé. Sự nuối tiếc ấy không bi lụy mà đầy ắp tình yêu thương, cho thấy một tâm hồn luôn gắn bó sâu nặng với cội nguồn.

Càng về sau, mạch cảm xúc càng mở rộng, không còn chỉ là nỗi nhớ cá nhân mà đã hòa chung vào nhịp đập của cộng đồng. Câu thơ "Và ta lớn tình yêu hòa bể rộng" đánh dấu một bước chuyển mình quan trọng trong tư tưởng của nhân vật trữ tình. Cơn mưa nhỏ ngày xưa giờ đây đã "vỗ lòng ta rung động cả trăm sông". Nghệ thuật nhân hóa và so sánh đã nâng tầm hình tượng cơn mưa: nó không chỉ là hiện tượng thiên nhiên mà là mạch nguồn nuôi dưỡng tâm hồn, là sức mạnh thôi thúc người chiến sĩ vững bước trên con đường đấu tranh.

Đặc biệt, vẻ đẹp của cơn mưa được tác giả miêu tả với nhiều sắc thái đối lập nhưng thống nhất. Có lúc mưa là "khúc nhạc của bài ca êm mát", thấm thía vào từng cành tre, tàu lá như lời thì thầm của đất mẹ. Nhưng cũng có lúc, mưa trở nên "phong ba dữ dội", "đổ ào như thác". Sự thay đổi này phản chiếu cuộc đời và lịch sử dân tộc: có những phút giây bình yên và cũng có những thời kỳ bão táp của chiến tranh.

Ở đoạn kết, cảm xúc của nhân vật trữ tình được đẩy lên đỉnh cao của niềm tự hào dân tộc. Tiếng mưa rơi được cảm nhận như "tiếng của Cha Ông dựng nước". Lời nhắn nhủ "truyền con cháu phải ngẩng cao mà bước" vang lên đầy dõng dạc, biến nỗi nhớ quê hương thành hành động cách mạng, thành niềm tin vào tương lai tươi sáng.

Tóm lại, qua thể thơ tự do phóng khoáng và ngôn ngữ giàu hình ảnh, Lê Anh Xuân đã thể hiện thành công vẻ đẹp tâm hồn của nhân vật trữ tình: một con người có quá khứ trong sáng, có hiện tại rực cháy lý tưởng và một tương lai gắn liền với vận mệnh đất nước. Đoạn thơ không chỉ là tiếng lòng của riêng tác giả mà còn là lời nhắc nhở mỗi chúng ta về sức mạnh của những kỷ niệm bình dị trong việc hình thành nhân cách và tình yêu Tổ quốc.

a. Chứng minh tứ giác ADME là hình chữ nhật Xét tứ giác \(ADME\) có:
  • \(\widehat{DAE} = 90^\circ\) (vì tam giác \(ABC\) vuông tại \(A\)).
  • \(\widehat{ADM} = 90^\circ\) (vì \(MD \perp AB\) tại \(D\)).
  • \(\widehat{AEM} = 90^\circ\) (vì \(ME \perp AC\) tại \(E\)).
Tứ giác có 3 góc vuông là hình chữ nhật.
Kết luận: Tứ giác \(ADME\) là hình chữ nhật.
b. Chứng minh tứ giác AMBN là hình thoi
  1. Chứng minh \(D\) là trung điểm của \(AB\):
    • Trong tam giác \(ABC\), \(M\) là trung điểm của \(BC\) và \(MD // AC\) (cùng vuông góc với \(AB\)).
    • Suy ra \(D\) là trung điểm của \(AB\).
  2. Xét tứ giác \(AMBN\):
    • Ta có \(D\) là trung điểm của \(AB\) (chứng minh trên).
    • \(D\) là trung điểm của \(MN\) (theo giả thiết trên tia đối của \(DM\) lấy \(N\) sao cho \(DN=DM\)).
    • Do đó, tứ giác \(AMBN\) là hình bình hành (hai đường chéo cắt nhau tại trung điểm mỗi đường).
    • Lại có \(AB \perp MN\) tại \(D\).
Hình bình hành có hai đường chéo vuông góc với nhau là hình thoi.
Kết luận: Tứ giác \(AMBN\) là hình thoi.
c. Chứng minh tam giác IKN cân
  1. Xác định vị trí điểm \(I\):
    • Vì \(ADME\) là hình chữ nhật (câu a), nên hai đường chéo \(AM\) và \(DE\) cắt nhau tại trung điểm mỗi đường.
    • Vậy \(I\) là trung điểm của \(AM\) và \(DE\).
  2. Chứng minh \(IK = IN\):
    • Trong hình thoi \(AMBN\), ta có \(AM = BN\) (tính chất hoặc vì \(AM=MB\)).
    • Xét tam giác \(BKN\) vuông tại \(K\) (\(CK \perp BN\)), \(D\) là trung điểm của \(AB\) không giúp trực tiếp, ta xét cách khác:
    • Trong tam giác vuông \(CKB\), đường trung tuyến ứng với cạnh huyền không khả thi. Hãy xét tam giác vuông \(AKN\) hoặc tương tự.
    • Cách đơn giản nhất: Vì \(AMBN\) là hình thoi nên \(AM // BN\).
    • \(I\) là trung điểm \(AM \implies\) Khoảng cách từ \(I\) đến \(BN\) liên quan đến tính chất đường trung bình.
    • Thực tế, trong tam giác vuông \(BKN\) có \(D\) là trung điểm của \(MN\) và \(AB\). Tuy nhiên, để chứng minh \(IKN\) cân tại \(I\), ta cần chứng minh \(IK = IN\).
    • Xét hình thang \(AMNB\) (\(AM // BN\) là sai, phải là \(AN // BM\) và \(AM // BN\)). Tứ giác \(AMBN\) là hình thoi \(\implies AM = MB = BN = NA\).
    • Trong tam giác vuông \(BKN\), \(KD\) là đường trung tuyến ứng với cạnh huyền \(BN\)? Không, \(D\) là trung điểm \(MN\).
    • Xét tam giác \(MKN\) vuông tại \(K\): Có \(D\) là trung điểm \(MN\) nên \(KD = DN = DM\) (tính chất đường trung tuyến trong tam giác vuông).
    • Từ \(KD = DN \implies \triangle KDN\) cân tại \(D\).
    • Để \(\triangle IKN\) cân, thường ta sẽ chứng minh qua góc hoặc độ dài cụ thể dựa trên tọa độ/tính chất đối xứng của hình chữ nhật và hình thoi.
Gợi ý thêm: Với trình độ lớp 8, bạn nên sử dụng tính chất đường trung bình và tính chất đường trung tuyến của tam giác vuông để kết nối các đoạn thẳng \(ID\), \(IN\) và \(IK\).
Số lượng cây mỗi loại trong vườn là 60 cây nhãn, 40 cây vải và 80 cây xoài. Dưới đây là lời giải chi tiết theo phương pháp lập luận của tiểu học: Bài giải Theo đề bài, số cây nhãn bằng \(1/2\) số cây còn lại (vải và xoài). Điều này có nghĩa là nếu chia tổng số cây trong vườn thành 3 phần bằng nhau thì số cây nhãn chiếm 1 phần, và tổng số cây vải và xoài chiếm 2 phần.
  1. Tìm số cây nhãn và số cây vải:
    Ta biết số cây nhãn nhiều hơn số cây vải là 20 cây.
    Mặt khác, số cây vải bằng \(2/3\) số cây nhãn.Coi số cây vải là 2 phần bằng nhau thì số cây nhãn là 3 phần như thế.
    Hiệu số phần bằng nhau là:
    \(3 - 2 = 1\) (phần)Giá trị của 1 phần (cũng chính là hiệu số cây) là 20 cây.
    • Số cây nhãn là: \(20 \times 3 = 60\) (cây)
    • Số cây vải là: \(20 \times 2 = 40\) (cây)
  2. Tìm số cây xoài:
    Vì số cây nhãn (\(60\) cây) bằng \(1/2\) số cây còn lại (vải + xoài), nên số cây còn lại là:
    \(60 \times 2 = 120\) (cây)
    • Số cây xoài là: \(120 - 40 = 80\) (cây)
Đáp số:
  • Cây nhãn: 60 cây
  • Cây vải: 40 cây
  • Cây xoài: 80 cây
Để chứng minh \(AN \perp CM\), chúng ta có thể sử dụng phương pháp tọa độ hóa hoặc tính chất về trực tâm. Dưới đây là lời giải chi tiết theo phương pháp tọa độ: 1. Thiết lập hệ trục tọa độ Chọn hệ trục tọa độ \(Oxy\) sao cho:
  • Đỉnh \(A\) trùng với gốc tọa độ \(O(0, 0)\).
  • Cạnh \(AB\) nằm trên trục \(Ox\), cạnh \(AC\) nằm trên trục \(Oy\).
  • Đặt tọa độ các điểm như sau:
    • \(A(0, 0)\)
    • \(B(2m, 0)\) (với \(m > 0\))
    • \(C(0, c)\) (với \(c > 0\))
    • \(M\) là trung điểm \(AB\) nên \(M(m, 0)\).
2. Tìm tọa độ điểm \(N\)
  • Đường thẳng thứ nhất: Qua \(B(2m, 0)\) và vuông góc với \(AB\) (trục \(Ox\)). Phương trình đường thẳng này là: \(x = 2m\).
  • Đường thẳng thứ hai: Qua \(M(m, 0)\) và vuông góc với \(BC\).
    • Vectơ \(\vec{BC} = (-2m, c)\).
    • Đường thẳng vuông góc với \(BC\) sẽ có vectơ pháp tuyến là \(\vec{n} = \vec{BC} = (-2m, c)\).
    • Phương trình đường thẳng qua \(M(m, 0)\): \(-2m(x - m) + c(y - 0) = 0 \Leftrightarrow -2mx + 2m^2 + cy = 0\).
  • Giao điểm \(N\): Thay \(x = 2m\) vào phương trình trên:
    \(-2m(2m) + 2m^2 + cy = 0 \Rightarrow -4m^2 + 2m^2 + cy = 0 \Rightarrow cy = 2m^2 \Rightarrow y = \frac{2m^2}{c}\).
    Vậy \(N\left(2m,\frac{2m^{2}}{c}\right)\).
3. Chứng minh \(AN \perp CM\)
  • Vectơ \(\vec{AN}\) \(=\left(2m,\frac{2m^{2}}{c}\right)\).
  • Vectơ \(\vec{CM}\) \(= (m - 0, 0 - c) = (m, -c)\).
Tính tích vô hướng của hai vectơ:
\(\vec{AN}\cdot \vec{CM}=(2m\cdot m)+\left(\frac{2m^{2}}{c}\cdot (-c)\right)\)
\(\vec{AN}\cdot \vec{CM}=2m^{2}-2m^{2}=0\)
Vì tích vô hướng bằng 0 nên \(AN \perp CM\) (điều phải chứng minh).
Cho hàm số bậc nhất: \(y = x + 3\) có đồ thị là \((d)\) a. Vẽ đồ thị hàm số đã cho Để vẽ đồ thị \((d): y = x + 3\), ta xác định hai điểm mà đường thẳng đi qua:
  • Cho \(x = 0 \Rightarrow y = 3\). Ta được điểm \(A(0; 3)\) trên trục tung.
  • Cho \(y = 0 \Rightarrow x = -3\). Ta được điểm \(B(-3; 0)\) trên trục hoành.
Cách vẽ: Kẻ đường thẳng đi qua hai điểm \(A(0; 3)\) và \(B(-3; 0)\) ta được đồ thị \((d)\). b. Tìm giao điểm của \((d)\) và đường thẳng \(y = -x + 1\) Để tìm giao điểm, ta lập phương trình hoành độ giao điểm của \((d)\) và đường thẳng \(y = -x + 1\):
\(x+3=-x+1\)
\(\Leftrightarrow 2x=-2\)
\(\Leftrightarrow x=-1\)
Thay \(x = -1\) vào phương trình \((d)\), ta được:
\(y=-1+3=2\)
Kết luận: Giao điểm của hai đường thẳng là điểm có tọa độ \((-1; 2)\). c. Xác định \(m\) để hàm số \(y = (3 - 2m)x + 2\) song song với \((d)\) Hai đường thẳng song song khi và chỉ khi hệ số góc bằng nhau và hệ số tự do khác nhau.
Đường thẳng \((d)\) có dạng \(y = 1x + 3\) (với \(a = 1, b = 3\)).
Đường thẳng mới có dạng \(y = (3 - 2m)x + 2\) (với \(a' = 3 - 2m, b' = 2\)).
Để hai đường thẳng song song:
\(\begin{cases}a=a^{\prime }\\ b\ne b^{\prime }\end{cases}\Leftrightarrow \begin{cases}1=3-2m\\ 3\ne 2\text{\ (luôn\ đúng)}\end{cases}\)
Giải phương trình:
\(1=3-2m\)
\(\Leftrightarrow 2m=2\)
\(\Leftrightarrow m=1\)
Kết luận: Với \(m = 1\) thì hai đường thẳng song song với nhau.
1. Chuẩn bị ao nuôi Đây là bước quan trọng nhất để tạo môi trường sống tốt cho cá.
  • Tát cạn ao: Dọn sạch cỏ, cây ven bờ và vét bớt bùn đáy (chỉ để lại khoảng 15–20 cm bùn).
  • Rắc vôi: Sử dụng vôi bột để diệt mầm bệnh và điều chỉnh độ pH của nước.
  • Phơi ao: Phơi đáy ao từ 3–5 ngày để diệt khuẩn.
  • Lấy nước: Nước dẫn vào ao phải được lọc qua lưới mịn để tránh cá tạp, cá dữ xâm nhập.
2. Chọn và thả cá giống
  • Chọn giống: Chọn cá rô phi khỏe mạnh, đồng đều, không dị hình và không có dấu hiệu bệnh.
  • Mật độ: Với diện tích \(200m^{2}\), gia đình nên thả với mật độ vừa phải (thường từ 3–5 con/\(m^{2}\)) để cá có không gian phát triển.
  • Cách thả: Thả cá vào lúc trời mát (sáng sớm hoặc chiều muộn). Trước khi thả, cần ngâm túi cá xuống ao khoảng 15 phút để cá thích nghi dần với nhiệt độ nước.
3. Thức ăn và cách cho ăn
  • Loại thức ăn: Kết hợp giữa thức ăn công nghiệp (với hàm lượng đạm phù hợp) và thức ăn tự nhiên, phụ phẩm nông nghiệp.
  • Nguyên tắc "4 định": Định lượng, định chất, định vị trí và định thời gian cho ăn để cá phát triển đều và tránh lãng phí thức ăn gây ô nhiễm nước.
4. Quản lý và chăm sóc
  • Kiểm tra ao: Thường xuyên quan sát màu nước và hoạt động của cá (đặc biệt là sáng sớm xem cá có bị nổi đầu do thiếu oxy hay không).
  • Vệ sinh: Giữ cho nguồn nước sạch, thay nước định kỳ hoặc khi nước có dấu hiệu quá bẩn.
  • Phòng bệnh: Bổ sung vitamin hoặc men tiêu hóa vào thức ăn để tăng sức đề kháng cho cá.
5. Thu hoạch
  • Khi cá đạt kích cỡ thương phẩm (sau khoảng 4–6 tháng tùy điều kiện), gia đình có thể thu hoạch tỉa những con lớn hoặc thu hoạch toàn bộ bằng cách đánh lưới hoặc tát cạn ao.
Diện tích của thửa ruộng là \(3456\text{ m}^2\) và khối lượng thóc thu hoạch được là \(2304\text{ kg}\). Dưới đây là lời giải chi tiết cho bài toán: a) Tính diện tích thửa ruộng Đây là bài toán tìm hai số khi biết Tổng và Hiệu:
  • Tổng (nửa chu vi): \(120\text{ m}\)
  • Hiệu: \(24\text{ m}\)
  1. Chiều dài của thửa ruộng là:
    \((120+24):2=72\text{\ (m)}\)
  2. Chiều rộng của thửa ruộng là:
    \(120-72=48\text{\ (m)}\)
  3. Diện tích của thửa ruộng là:
    \(72\times 48=3456\text{\ (m}^{2})\)
b) Tính khối lượng thóc thu hoạch được Dựa vào diện tích vừa tìm được và năng suất trung bình:
  • Số thóc thu hoạch được là:
    \(3456\times \frac{2}{3}=2304\text{\ (kg)}\)
Đáp số:
a) \(3456\text{ m}^2\)
b) \(2304\text{ kg}\) thóc
Chiều cao của cột cờ là 13,5m. Dưới đây là cách giải chi tiết cho bài toán: Phương pháp giải: Trong cùng một điều kiện chiếu sáng, tỷ lệ giữa chiều cao vậtđộ dài bóng của vật đó là không đổi. Các bước tính toán:
  1. Tính tỷ lệ giữa chiều cao và bóng của cột điện:
    • Chiều cao cột điện: \(9m\)
    • Độ dài bóng cột điện: \(6m\)
    • Tỷ lệ: \(\frac{9}{6} = 1,5\) (nghĩa là chiều cao gấp \(1,5\) lần độ dài bóng).
  2. Tính chiều cao của cột cờ:
    • Độ dài bóng cột cờ: \(9m\)
    • Chiều cao cột cờ = Độ dài bóng \(\times \) Tỷ lệ
    • Chiều cao = \(9 \times 1,5 = 13,5m\)
Đáp số: \(13,5m\). (Lưu ý: Câu hỏi trong ảnh hỏi "chiều cao của cột điện" ở cuối câu là một lỗi diễn đạt, đúng ra phải là tìm chiều cao của cột cờ vì chiều cao cột điện đã cho là 9m).