Nguyễn Huyền Minh Tú
Giới thiệu về bản thân
Trong kho tàng văn học Việt Nam, thơ trào phúng giữ một vị trí đặc biệt bởi tiếng cười vừa sắc sảo vừa thấm đẫm tinh thần phê phán xã hội. Trong số đó, bài thơ “Vịnh khoa thi Hương” của Trần Tế Xương (Tú Xương) là tác phẩm trào phúng mà em tâm đắc nhất, bởi nó thể hiện rõ tài năng châm biếm và tấm lòng đau đáu của nhà thơ trước thời cuộc.
Trước hết, bài thơ phơi bày sự mục nát và lố bịch của nền khoa cử cuối thế kỉ XIX. Qua hình ảnh trường thi nhốn nháo, kẻ đi thi thì học hành nửa vời, quan lại thì hách dịch, hình thức, Tú Xương đã vạch trần một nền học vấn rỗng tuếch, không còn giữ được giá trị chân chính của việc học. Tiếng cười bật ra từ những hình ảnh tưởng như vui nhộn nhưng thực chất lại rất chua chát.
Bên cạnh đó, nghệ thuật trào phúng của Tú Xương được thể hiện qua giọng điệu mỉa mai, châm chọc sắc bén. Nhà thơ sử dụng những chi tiết đời thường, cách nói giản dị mà giàu sức gợi, khiến người đọc vừa bật cười vừa phải suy ngẫm. Tiếng cười ấy không nhằm mua vui đơn thuần mà mang ý nghĩa phê phán sâu cay đối với xã hội đương thời.
Quan trọng hơn, đằng sau tiếng cười trào phúng là nỗi đau và tấm lòng yêu nước thầm kín của nhà thơ. Tú Xương cười để khóc cho một xã hội đảo lộn các giá trị, cười để bày tỏ sự bất lực nhưng không cam chịu trước cái xấu, cái giả. Chính điều đó đã làm cho thơ trào phúng của ông có chiều sâu và sức sống lâu bền.
Tóm lại, “Vịnh khoa thi Hương” không chỉ là một bài thơ trào phúng đặc sắc mà còn là tiếng nói phê phán mạnh mẽ của một trí thức chân chính. Tác phẩm giúp em hiểu rằng tiếng cười trong văn học có thể trở thành vũ khí sắc bén để chống lại cái chưa hay, chưa đẹp trong cuộc sống.
Trong kho tàng văn học Việt Nam, thơ trào phúng giữ một vị trí đặc biệt bởi tiếng cười vừa sắc sảo vừa thấm đẫm tinh thần phê phán xã hội. Trong số đó, bài thơ “Vịnh khoa thi Hương” của Trần Tế Xương (Tú Xương) là tác phẩm trào phúng mà em tâm đắc nhất, bởi nó thể hiện rõ tài năng châm biếm và tấm lòng đau đáu của nhà thơ trước thời cuộc.
Trước hết, bài thơ phơi bày sự mục nát và lố bịch của nền khoa cử cuối thế kỉ XIX. Qua hình ảnh trường thi nhốn nháo, kẻ đi thi thì học hành nửa vời, quan lại thì hách dịch, hình thức, Tú Xương đã vạch trần một nền học vấn rỗng tuếch, không còn giữ được giá trị chân chính của việc học. Tiếng cười bật ra từ những hình ảnh tưởng như vui nhộn nhưng thực chất lại rất chua chát.
Bên cạnh đó, nghệ thuật trào phúng của Tú Xương được thể hiện qua giọng điệu mỉa mai, châm chọc sắc bén. Nhà thơ sử dụng những chi tiết đời thường, cách nói giản dị mà giàu sức gợi, khiến người đọc vừa bật cười vừa phải suy ngẫm. Tiếng cười ấy không nhằm mua vui đơn thuần mà mang ý nghĩa phê phán sâu cay đối với xã hội đương thời.
Quan trọng hơn, đằng sau tiếng cười trào phúng là nỗi đau và tấm lòng yêu nước thầm kín của nhà thơ. Tú Xương cười để khóc cho một xã hội đảo lộn các giá trị, cười để bày tỏ sự bất lực nhưng không cam chịu trước cái xấu, cái giả. Chính điều đó đã làm cho thơ trào phúng của ông có chiều sâu và sức sống lâu bền.
Tóm lại, “Vịnh khoa thi Hương” không chỉ là một bài thơ trào phúng đặc sắc mà còn là tiếng nói phê phán mạnh mẽ của một trí thức chân chính. Tác phẩm giúp em hiểu rằng tiếng cười trong văn học có thể trở thành vũ khí sắc bén để chống lại cái chưa hay, chưa đẹp trong cuộc sống.
Trong kho tàng văn học Việt Nam, thơ trào phúng giữ một vị trí đặc biệt bởi tiếng cười vừa sắc sảo vừa thấm đẫm tinh thần phê phán xã hội. Trong số đó, bài thơ “Vịnh khoa thi Hương” của Trần Tế Xương (Tú Xương) là tác phẩm trào phúng mà em tâm đắc nhất, bởi nó thể hiện rõ tài năng châm biếm và tấm lòng đau đáu của nhà thơ trước thời cuộc.
Trước hết, bài thơ phơi bày sự mục nát và lố bịch của nền khoa cử cuối thế kỉ XIX. Qua hình ảnh trường thi nhốn nháo, kẻ đi thi thì học hành nửa vời, quan lại thì hách dịch, hình thức, Tú Xương đã vạch trần một nền học vấn rỗng tuếch, không còn giữ được giá trị chân chính của việc học. Tiếng cười bật ra từ những hình ảnh tưởng như vui nhộn nhưng thực chất lại rất chua chát.
Bên cạnh đó, nghệ thuật trào phúng của Tú Xương được thể hiện qua giọng điệu mỉa mai, châm chọc sắc bén. Nhà thơ sử dụng những chi tiết đời thường, cách nói giản dị mà giàu sức gợi, khiến người đọc vừa bật cười vừa phải suy ngẫm. Tiếng cười ấy không nhằm mua vui đơn thuần mà mang ý nghĩa phê phán sâu cay đối với xã hội đương thời.
Quan trọng hơn, đằng sau tiếng cười trào phúng là nỗi đau và tấm lòng yêu nước thầm kín của nhà thơ. Tú Xương cười để khóc cho một xã hội đảo lộn các giá trị, cười để bày tỏ sự bất lực nhưng không cam chịu trước cái xấu, cái giả. Chính điều đó đã làm cho thơ trào phúng của ông có chiều sâu và sức sống lâu bền.
Tóm lại, “Vịnh khoa thi Hương” không chỉ là một bài thơ trào phúng đặc sắc mà còn là tiếng nói phê phán mạnh mẽ của một trí thức chân chính. Tác phẩm giúp em hiểu rằng tiếng cười trong văn học có thể trở thành vũ khí sắc bén để chống lại cái chưa hay, chưa đẹp trong cuộc sống.
Em đồng ý với ý kiến cho rằng tiếng cười cũng là một thứ vũ khí. Tiếng cười giúp con người phê phán những thói hư tật xấu một cách nhẹ nhàng mà sâu sắc. Qua tiếng cười châm biếm, cái chưa hay, chưa đẹp trong xã hội bị lật tẩy và khiến người ta phải suy nghĩ để thay đổi. Tiếng cười còn giúp con người sống lạc quan, giảm bớt căng thẳng và mệt mỏi. Vì vậy, tiếng cười không chỉ mang lại niềm vui mà còn có sức mạnh giáo dục lớn lao.
Từ ngữ " thiếu phụ " trong câu trên mang sắc thái trang trọng, cổ xưa.
a) 5(x + 2y) - 15x(x + 2y) = (5 - 15x)(x + 2y)
b) 4x^2 - 12x + 9 = (2x)^2 - 2. 2x . 3 + 3^2 = (2x - 3)^2
c) (3x - 2)^3 - 3(x - 4)(x + 4) + (x - 3)^3 - (x + 1)(x^2 - x + 1)
= [(3x - 2)^3 + (x - 3)^3)] - 3(x - 4)(x + 4) - (x + 1)(x^2 - x + 1)
= (3x - 2 + x - 3)[ (3x - 2)^2 - (3x - 2)(x - 3) + (x - 3)^2] - 3(x - 4)(x + 4) - (x + 1)(x^2 - x + 1)
= (4x - 5)[9x^2 - 12x + 4 - (9x^2 - 9x - 2x + 6) + x^2 - 6x + 9] - 3(x - 4)(x + 4) - (x + 1)(x^2 - x + 1)
= (4x - 5)(x^2 - 7x + 7) - 3(x^2 - 16) - x^3 -1
= 4x^3 - 28x^2 + 28x - 5x^2 + 35x - 35 - 3x^2 + 48 - x^3 -1
= (4x^3 - x^3) + (-28x^2 - 5x^2 -3x^2) + (28x + 35x) + (-35 - 1 + 48)
= 3x^3 - 36x^2 + 63x + 12 = 3(x^3 - 12x^2 + 21x + 4)
a) P (x) = A(x) + B(x) = x3 − 2x2 + 5x − 3 + (−x3+2x2−3x+5)
= x3 − 2x2 + 5x − 3 −x3+2x2−3x+5
= ( x3 −x3) + ( − 2x2+2x2) + ( 5x −3x ) + (− 3+5)
= 2x + 2
b) Q(x) = A(x) . C(x) = (x3−2x2+5x−3) . (x - 3) =
1.
a) A = { thẻ 0 ; thẻ 1 ; thẻ 2 ; thẻ 3 ; thẻ 4 ; thẻ 5 ; thẻ 6 ; thẻ 7 ; thẻ 8 ; thẻ 9}
=> Có 10 kết quả có thể xảy ra
b) Các kết quả thuận lợi cho biến cố B: "Số xuất hiện trên thẻ được rút là số nguyên tố": thẻ 2 ; thẻ 3 ; thẻ 5 ; thẻ 7
=> Có 4 kết quả thuận lợi cho biến cố B: “Số xuất hiện trên thẻ được rút là số nguyên tố"
Xác suất của biến cố B là: 4/10 = 2/5
2.
a) Cửa hàng đông khách nhất vào lúc 11h, ít khách nhất vào lúc 9h
b) Số lượt khách đến cửa hàng từ \(15\) giờ đến \(17\) giờ tăng số lượt khách là: 45 - 30 = 15 ( lượt khách)
Ở giai đoạn sâu non thì bướm sẽ gây hại cho mùa màng
Bác Hồ - vị lãnh tụ kính yêu của dân tộc Việt Nam - không chỉ được biết đến với tài lãnh đạo xuất chúng mà còn bởi lối sống giản dị, gần gũi với nhân dân. Trong cuộc đời mình, Bác có nhiều câu chuyện xúc động về đức tính khiêm tốn, tiết kiệm. Một trong những câu chuyện giản dị nhưng đầy ý nghĩa là về sự ra đi tìm đường cứu nước của Người.
Vào một buổi sáng ngày 5/6/1911, tại bến cảng Nhà Rồng, một chàng thanh niên trẻ tuổi với dáng người gầy gò, ánh mắt đầy nhiệt huyết đứng lặng nhìn về phía con tàu đang chuẩn bị rời bến. Đó chính là Nguyễn Tất Thành người sau này trở thành Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại của dân tộc Việt Nam. Trên con tàu Amiral Latouche Tréville, Người bắt đầu hành trình bôn ba khắp thế giới để tìm ra con đường giải phóng dân tộc khỏi ách đô hộ của thực dân Pháp.
Với khát vọng cháy bỏng giành lại độc lập cho đất nước, Nguyễn Tất Thành chấp nhận làm phụ bếp trên tàu để có thể đặt chân đến các nước khác, tìm hiểu về thế giới, về các con đường đấu tranh cách mạng. Suốt hơn 30 năm bôn ba từ Pháp, Anh, Mỹ, Liên Xô, Trung Quốc… Người vừa lao động kiếm sống vừa học hỏi những tư tưởng cách mạng tiên tiến. Cuối cùng, Người đã tìm thấy con đường cách mạng vô sản, đặt nền móng cho cuộc đấu tranh giành độc lập của Việt Nam.
Hành trình ra đi tìm đường cứu nước của Bác Hồ là một dấu mốc lịch sử quan trọng, mở ra con đường giải phóng dân tộc. Chính từ chuyến đi ấy, Hồ Chí Minh đã mang ánh sáng cách mạng về cho nhân dân Việt Nam, dẫn dắt cuộc kháng chiến vĩ đại, giành lại độc lập vào năm 1945.
Câu chuyện về sự ra đi của Bác Hồ là minh chứng cho lòng yêu nước, ý chí kiên cường và tinh thần hy sinh cao cả vì dân tộc. Đó cũng là bài học lớn cho mỗi người Việt Nam về tinh thần trách nhiệm đối với đất nước.