Nguyễn Thị Mai Hương
Giới thiệu về bản thân
Câu 1 (2,0 điểm)
a. Xác định được yêu cầu về hình thức, dung lượng của đoạn văn:
– Xác định đúng yêu cầu về hình thức và dung lượng (khoảng 200 chữ) của đoạn văn.
– HS có thể trình bày đoạn văn theo cách diễn dịch, quy nạp, tổng – phân – hợp, móc xích hoặc song hành.
b. Xác định đúng vấn đề cần nghị luận: Phân tích nhân vật bé Em trong văn bản "Áo Tết".
c. Đề xuất được hệ thống ý phù hợp để làm rõ vấn đề nghị luận:
– Xác định được các ý phù hợp để làm rõ vấn đề nghị luận, sau đây là một số gợi ý:
+ Giới thiệu khái quát về tên nhân vật, tên văn bản, tên tác giả.
+ Những phẩm chất tốt đẹp của nhân vật bé Em:
++ Hồn nhiên, vô tư, có chút trẻ con: Háo hức, sung sướng với chiếc áo đầm hồng mới, muốn khoe ngay với Bích.
++ Tinh tế, nhạy cảm trước hoàn cảnh của bạn bè: Khi biết bé Bích chỉ có một bộ đồ mới thì chần chừ không còn muốn khoe; thể hiện sự suy tư, đồng cảm.
++ Biết hi sinh sở thích cá nhân vì bạn bè: Quyết định không mặc chiếc áo đầm vào mùng Hai.
+ Nghệ thuật khắc hoạ nhân vật:
++ Lời kể giản dị, ngôn ngữ gần gũi, lời thoại tự nhiên, đậm chất trẻ thơ.
++ Khắc hoạ tâm lí nhân vật tinh tế, chân thực.
=> Từ những ý phân tích, HS nhận xét, đánh giá mở rộng về nhân vật: Nhân vật bé Em không chỉ gợi ra vẻ đẹp ngây thơ trong sáng của tuổi thơ mà còn để lại bài học sâu sắc về tình bạn và sự sẻ chia.
Câu 2 (4,0 điểm)
a. Bảo đảm yêu cầu về bố cục, dung lượng của bài văn nghị luận:
Bảo đảm yêu cầu về bố cục và dung lượng của bài văn nghị luận (khoảng 600 chữ).
b. Xác định đúng vấn đề cần nghị luận:
Việc cân bằng giá trị vật chất và giá trị tinh thần trong cuộc sống, đề xuất những việc làm cụ thể để xây dựng lối sống hài hoà, cân bằng giữa giá trị vật chất và tinh thần.
c. Viết được bài văn đảm bảo các yêu cầu:
HS biết triển khai và làm sáng tỏ vấn đề nghị luận. Sau đây là một số gợi ý:
c1. Mở bài: Giới thiệu được vấn đề nghị luận (Cân bằng giữa giá trị vật chất và tinh thần).
c2. Thân bài:
* Giải thích được vấn đề:
– Giá trị vật chất: Những điều kiện cụ thể như cơm ăn, áo mặc, tiền bạc,…
– Giá trị tinh thần: Những giá trị vô hình như hạnh phúc, niềm tin, niềm vui,…
– Cân bằng: Không thiên lệch, hài hoà giữa cả hai phương diện.
* Biết phân tích làm sáng tỏ vấn đề:
– Thực trạng của vấn đề cân bằng giữa vật chất và tinh thần:
+ Tích cực:
++ Nhiều người biết chú trọng đến những giá trị tinh thần: Giải trí lành mạnh, giữ gìn các mối quan hệ, chăm sóc sức khoẻ tinh thần,…
++ Nhiều phong trào tích cực hơn: Khuyến khích đọc sách, tập luyện thể thao,…
+ Hạn chế:
++ Một bộ phận chạy theo vật chất, tiêu xài hoang phí.
++ Nhiều người xem nhẹ vật chất, thiếu ý thức lao động, chỉ sống trong những giá trị tinh thần mơ hồ, lệch lạc.
– Ý nghĩa của việc cân bằng giữa vật chất và tinh thần:
+ Giúp con người có cuộc sống hài hoà, lành mạnh, vừa đảm bảo nhu cầu thiết yếu vừa nuôi dưỡng đời sống tinh thần phong phú.
+ Góp phần xây dựng một xã hội văn minh, nhân ái, nơi con người vừa no ấm về vật chất, vừa hạnh phúc về tinh thần.
+ Là cơ sở để mỗi cá nhân có đời sống bền vững, hạnh phúc lâu dài, không bị cuốn vào vòng xoáy thực dụng hay sa sút tinh thần.
* Đề xuất những việc làm cụ thể để xây dựng lối sống hài hoà, cân bằng giữa giá trị vật chất và tinh thần:
– Xác định mục tiêu sống rõ ràng, hướng tới sự ổn định.
– Tránh chạy theo lối sống xa hoa, phô trương; sử dụng tiền bạc đúng mục đích.
– Chú trọng rèn luyện, phát triển tinh thần: Duy trì thói quen đọc sách, tham gia hoạt động nghệ thuật, thể thao, du lịch để nuôi dưỡng tâm hồn phong phú.
– Giữ gìn và bồi đắp các mối quan hệ: Dành thời gian quan tâm, sẻ chia với gia đình, bạn bè; coi trọng tình cảm và sự chân thành hơn lợi ích vật chất.
c3. Kết bài: Khẳng định ý nghĩa của việc cân bằng giá trị vật chất và tinh thần. Liên hệ và rút ra bài học cho bản thân.
Câu 1 (2,0 điểm)
a. Xác định được yêu cầu về hình thức, dung lượng của đoạn văn:
– Xác định đúng yêu cầu về hình thức và dung lượng (khoảng 200 chữ) của đoạn văn.
– HS có thể trình bày đoạn văn theo cách diễn dịch, quy nạp, tổng – phân – hợp, móc xích hoặc song hành.
b. Xác định đúng vấn đề cần nghị luận: Phân tích nhân vật bé Em trong văn bản "Áo Tết".
c. Đề xuất được hệ thống ý phù hợp để làm rõ vấn đề nghị luận:
– Xác định được các ý phù hợp để làm rõ vấn đề nghị luận, sau đây là một số gợi ý:
+ Giới thiệu khái quát về tên nhân vật, tên văn bản, tên tác giả.
+ Những phẩm chất tốt đẹp của nhân vật bé Em:
++ Hồn nhiên, vô tư, có chút trẻ con: Háo hức, sung sướng với chiếc áo đầm hồng mới, muốn khoe ngay với Bích.
++ Tinh tế, nhạy cảm trước hoàn cảnh của bạn bè: Khi biết bé Bích chỉ có một bộ đồ mới thì chần chừ không còn muốn khoe; thể hiện sự suy tư, đồng cảm.
++ Biết hi sinh sở thích cá nhân vì bạn bè: Quyết định không mặc chiếc áo đầm vào mùng Hai.
+ Nghệ thuật khắc hoạ nhân vật:
++ Lời kể giản dị, ngôn ngữ gần gũi, lời thoại tự nhiên, đậm chất trẻ thơ.
++ Khắc hoạ tâm lí nhân vật tinh tế, chân thực.
=> Từ những ý phân tích, HS nhận xét, đánh giá mở rộng về nhân vật: Nhân vật bé Em không chỉ gợi ra vẻ đẹp ngây thơ trong sáng của tuổi thơ mà còn để lại bài học sâu sắc về tình bạn và sự sẻ chia.
Câu 2 (4,0 điểm)
a. Bảo đảm yêu cầu về bố cục, dung lượng của bài văn nghị luận:
Bảo đảm yêu cầu về bố cục và dung lượng của bài văn nghị luận (khoảng 600 chữ).
b. Xác định đúng vấn đề cần nghị luận:
Việc cân bằng giá trị vật chất và giá trị tinh thần trong cuộc sống, đề xuất những việc làm cụ thể để xây dựng lối sống hài hoà, cân bằng giữa giá trị vật chất và tinh thần.
c. Viết được bài văn đảm bảo các yêu cầu:
HS biết triển khai và làm sáng tỏ vấn đề nghị luận. Sau đây là một số gợi ý:
c1. Mở bài: Giới thiệu được vấn đề nghị luận (Cân bằng giữa giá trị vật chất và tinh thần).
c2. Thân bài:
* Giải thích được vấn đề:
– Giá trị vật chất: Những điều kiện cụ thể như cơm ăn, áo mặc, tiền bạc,…
– Giá trị tinh thần: Những giá trị vô hình như hạnh phúc, niềm tin, niềm vui,…
– Cân bằng: Không thiên lệch, hài hoà giữa cả hai phương diện.
* Biết phân tích làm sáng tỏ vấn đề:
– Thực trạng của vấn đề cân bằng giữa vật chất và tinh thần:
+ Tích cực:
++ Nhiều người biết chú trọng đến những giá trị tinh thần: Giải trí lành mạnh, giữ gìn các mối quan hệ, chăm sóc sức khoẻ tinh thần,…
++ Nhiều phong trào tích cực hơn: Khuyến khích đọc sách, tập luyện thể thao,…
+ Hạn chế:
++ Một bộ phận chạy theo vật chất, tiêu xài hoang phí.
++ Nhiều người xem nhẹ vật chất, thiếu ý thức lao động, chỉ sống trong những giá trị tinh thần mơ hồ, lệch lạc.
– Ý nghĩa của việc cân bằng giữa vật chất và tinh thần:
+ Giúp con người có cuộc sống hài hoà, lành mạnh, vừa đảm bảo nhu cầu thiết yếu vừa nuôi dưỡng đời sống tinh thần phong phú.
+ Góp phần xây dựng một xã hội văn minh, nhân ái, nơi con người vừa no ấm về vật chất, vừa hạnh phúc về tinh thần.
+ Là cơ sở để mỗi cá nhân có đời sống bền vững, hạnh phúc lâu dài, không bị cuốn vào vòng xoáy thực dụng hay sa sút tinh thần.
* Đề xuất những việc làm cụ thể để xây dựng lối sống hài hoà, cân bằng giữa giá trị vật chất và tinh thần:
– Xác định mục tiêu sống rõ ràng, hướng tới sự ổn định.
– Tránh chạy theo lối sống xa hoa, phô trương; sử dụng tiền bạc đúng mục đích.
– Chú trọng rèn luyện, phát triển tinh thần: Duy trì thói quen đọc sách, tham gia hoạt động nghệ thuật, thể thao, du lịch để nuôi dưỡng tâm hồn phong phú.
– Giữ gìn và bồi đắp các mối quan hệ: Dành thời gian quan tâm, sẻ chia với gia đình, bạn bè; coi trọng tình cảm và sự chân thành hơn lợi ích vật chất.
c3. Kết bài: Khẳng định ý nghĩa của việc cân bằng giá trị vật chất và tinh thần. Liên hệ và rút ra bài học cho bản thân.