Nguyễn Phương Linh

Giới thiệu về bản thân

Chào mừng bạn đến với trang cá nhân của Nguyễn Phương Linh
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
(Thường được cập nhật sau 1 giờ!)

Bài làm
Trong kho tàng truyện cổ tích Việt Nam, em thích nhất là câu chuyện "Tấm cám" – câu chuyện về cô gái hiền lành, chịu thương chịu khó nhưng cuối cùng vẫn được hạnh phúc nhờ sự công bằng và lòng nhân hậu.

Ngày xưa, có hai chị em cùng cha khác mẹ là TấmCám. Mẹ Tấm mất sớm, cô phải sống với dì ghẻ – mẹ của Cám. Tấm bị bắt làm mọi việc nặng nhọc, trong khi Cám được chiều chuộng, lười biếng. Một hôm, mẹ sai hai chị em ra đồng bắt tép, ai bắt được nhiều sẽ được thưởng một chiếc yếm đỏ. Tấm chăm chỉ nên bắt được nhiều hơn, nhưng Cám lừa lấy hết. Tấm khóc, được Bụt hiện lên giúp đỡ, chỉ cho cô tìm lại phần tép còn sót – trong đó có một con cá bống nhỏ. Tấm nuôi bống, coi nó như bạn, nhưng mẹ con Cám đã giết bống để hại Tấm. Nhờ Bụt, Tấm vẫn tiếp tục được giúp đỡ, cuối cùng được đi dự hội và đánh rơi chiếc giày. Nhà vua nhặt được giày, cho người tìm chủ nhân, và Tấm trở thành hoàng hậu.

Tuy nhiên, mẹ con Cám vẫn không buông tha, nhiều lần hãm hại Tấm. Nhưng lần nào Bụt và công lý cũng giúp Tấm được sống lại, cuối cùng Tấm trở về đoàn tụ cùng nhà vua, sống hạnh phúc mãi mãi.

Câu chuyện “Tấm Cám” dạy em rằng người hiền lành, chịu khó rồi sẽ được đền đáp xứng đáng, còn kẻ độc ác, gian dối sẽ phải chịu quả báo. Em rất yêu thích câu chuyện này vì nó không chỉ hấp dẫn mà còn chứa đựng bài học đạo đức sâu sắc, nuôi dưỡng lòng tin vào cái thiện trong cuộc sống.

Câu 1: Văn bản được viết theo thể thơ lục bát
Câu 2: Bên cạch tiếng ve, những âm thanh sau xuất hiện trong văn bản: tiếng võng, tiếng mẹ ru
Câu 3: Tác dụng của biện pháp tu từ so sánh:
-Tăng sức gợi hình, gợi cảm cho sự diễn đạt
-Nhấn mạnh tình yêu thương, sự hi sinh bền bỉ, thầm lặng mẹ dành cho con
Câu 4: Người mẹ luôn yêu thương, hi sinh, chở che, nâng đỡ con
Câu 5: Lời ru của mẹ có vai trò:
-Lời ru không chỉ đưa vào giấc ngủ yên lành, mà còn gieo vào tâm hồn con cảm giác bình yên, ấm áp, nuôi dưỡng tình mẫu tử thiêng liêng.
-Lời ru nuôi dưỡng tâm hồn, hình thành nhân cách, truyền tải tri thức đân gian, giáo dục đạo lí làm người

Trong số các truyền thuyết về buổi đầu dựng nước của dân tộc, câu chuyện "Sơn Tinh, Thủy Tinh" luôn khiến em cảm thấy vừa hào hùng, vừa gần gũi với thiên nhiên. Truyền thuyết này giải một cách tài tình về mối quan hệ khắc nghiệt giữa con người với thiên nhiên, đặc biệt hiện tượng mưa lũ.

Truyện kể rằng, Vua Hùng Vương thứ mười tám một người con gái cùng xinh đẹp tên Mị Nương. Khi nàng đến tuổi cập kê, nhà vua mở lễ kén rể. Thật đặc biệt, hai vị thần tài giỏi ngang sức ngang tài đến cầu hôn: đó Sơn Tinh, chúa miền non cao Tản Viên, Thủy Tinh, chúa miền biển cả.

Vua Hùng cùng khó xử không thể chọn lựa được ai. Cuối cùng, ngài đưa ra điều kiện: ngày hôm sau, ai mang lễ vật đến trước sẽ được rước Mị Nương về. Lễ vật rất nặng kỳ công gồm có: "một trăm ván cơm nếp, một trăm nệp bánh chưng, voi chín ngà, chín cựa, ngựa chín hồng mao, mỗi thứ một đôi".

Sáng sớm hôm sau, Sơn Tinh đã nhanh chóng mang lễ vật đến trước được Vua Hùng gả Mị Nương cho. Thủy Tinh đến sau, không lấy được vợ, nổi cơn thịnh nộ. Thần mưa, gọi gió, làm thành bão tố rung chuyển đất trời, dâng nước sông lên cao ngập cả đồng ruộng, nhà cửa, khiến thành Phong Châu chìm trong biển nước.

Tuy nhiên, trước sức mạnh của Thủy Tinh, Sơn Tinh không hề nao núng. Thần dùng phép lạ dời núi, bốc đồi cao lên để ngăn chặn dòng nước lũ. Cứ nước dâng lên bao nhiêu thì núi đồi lại cao lên bấy nhiêu. Sau nhiều tháng giao chiến quyết liệt, sức Thủy Tinh cạn kiệt, đành phải rút quân.

Từ đó, Thủy Tinh mang mối thù sâu sắc năm nào cũng dâng nước lên đánh Sơn Tinh để trả thù. Nhưng năm nào, thần Nước cũng thất bại trước sức mạnh của thần Núi. Truyền thuyết không chỉ ca ngợi sức mạnh của người anh hùng biết chế ngự thiên tai, còn giải cho hiện tượng lụt vẫn thường xảy ra nước ta. thể hiện khát vọng chế ngự thiên nhiên, bảo vệ cuộc sống của nhân dân ta từ ngàn xưa.

Câu 1. Câu chuyện được kể theo ngôi thứ ba.

Câu 2. Aưm có hoàn cảnh như sau: chỉ có hai mẹ con sống với nhau, mẹ ốm đau liên miên, Aưm tuy còn nhỏ nhưng đã phải thành chỗ dựa cho mẹ.

Câu 3.

– Từ láy: xơ xác, liên miên, thiêm thiếp,...

– Đặt câu đúng ngữ pháp, đúng chính tả.

Câu 4. Chi tiết "Hằng ngày, Aưm dậy sớm vào rừng kiếm măng, hái nấm, hái quả mang về cho mẹ." đã chứng minh Aưm là người chăm chỉ và thương mẹ.

Câu 5.

– Cần có tấm lòng hiếu thảo với cha mẹ.

– Cần biết sẻ chia với mọi người xung quanh.


Trong kho tàng văn học dân gian Việt Nam, có vô số những câu chuyện cổ tích và truyền thuyết mang đậm giá trị nhân văn sâu sắc. Trong số đó, câu chuyện "Cây khế" luôn để lại trong em ấn tượng mạnh mẽ nhất, bởi nó là lời nhắc nhở sâu sắc về lòng tham và sự công bằng trong cuộc sống.

Truyện kể về hai anh em mồ côi cha mẹ. Người anh tham lam, lười biếng, còn người em thì hiền lành, chăm chỉ. Khi chia tài sản, người anh đã chiếm hết gia sản, chỉ để lại cho em một túp lều tranh và một cây khế già. Người em không hề oán than mà cùng vợ cần cù làm ăn, chăm sóc cho cây khế.

Điều kỳ diệu đã xảy ra khi cây khế sai trĩu quả ngọt. Một con chim thần đến ăn khế thường xuyên. Người em thương xót số quả ít ỏi của mình, liền than thở với chim. Chim thần đã bảo anh may túi ba gang để mang đi lấy vàng trả công. Nhờ vậy, người em trở nên giàu có, sống sung túc và luôn giúp đỡ những người nghèo khó xung quanh.

Lòng tham không đáy đã khiến người anh tìm cách đổi lấy cây khế. Khi chim thần đến, hắn cũng được chim hứa hẹn chở ra đảo vàng. Tuy nhiên, vì quá tham lam, người anh đã lén may chiếc túi to gấp mười hai gang, nhét đầy vàng đến mức quá nặng. Trên đường bay về, chim thần không chịu nổi sức nặng, bị gió bão đánh ngã xuống biển. Chim thần may mắn thoát nạn, còn người anh tham lam vì túi vàng nặng trĩu đã bị kéo chìm sâu dưới đáy biển.

Kết cục của người anh tham lam chính là bài học đắt giá mà ông cha ta muốn gửi gắm: Ở hiền gặp lành, ở ác bị trừng trị. Lòng biết đủ, sự chăm chỉ và lòng nhân hậu của người em đã mang lại hạnh phúc bền lâu, trong khi lòng tham vô đáy đã hủy hoại người anh. Câu chuyện "Cây khế" nhắc nhở em rằng, chỉ có sống lương thiện và biết trân trọng những gì mình có mới là con đường dẫn đến sự giàu có đích thực về mặt tinh thần.

Câu 1. Văn bản được viết theo thể thơ lục bát.

Câu 2. Các tiếng hiệp vần với nhau: rồi – ngồi.

Câu 3. Tác dụng của biện pháp tu từ nhân hoá:

– Giúp cho hình ảnh thiên nhiên trở nên sinh động, gần gũi hơn.

– Thể hiện sự tinh tế trong cảm nhận và trí tưởng tượng phong phú của tác giả.

Câu 4. Hình ảnh quê hương hiện lên tươi đẹp, gần gũi, bình dị khi thầy đọc thơ.

Câu 5. HS lựa chọn hình ảnh mình thích và lí giải tại sao.

Ví dụ:

Em thích nhất hình ảnh "Nghe trăng thở động tàu dừa" vì đó là cách nhân hoá đầy sáng tạo, làm cho vầng trăng vốn tĩnh lặng trở nên sống động như một sinh thể đang thở. Hình ảnh ấy vừa gợi vẻ đẹp huyền ảo của thiên nhiên làng quê, vừa khơi dậy cảm giác bâng khuâng, mơ mộng trong tâm hồn người đọc. Nó cũng cho thấy tâm hồn nhạy cảm, tinh tế của nhà thơ Trần Đăng Khoa khi lắng nghe và cảm nhận vũ trụ quanh mình.