Hằng Minh

Giới thiệu về bản thân

Chào mừng bạn đến với trang cá nhân của Hằng Minh
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
(Thường được cập nhật sau 1 giờ!)

1.

Để hạn chế sự xuống cấp di tích lịch sử, cần thực hiện đồng bộ nhiều giải pháp kết hợp. Trước tiên, nâng cao nhận thức cho cộng đồng: tổ chức hội thảo, chiến dịch truyền thông qua mạng xã hội, giáo dục tại trường học để mọi người hiểu giá trị di tích và tránh các hành vi phá hoại, dơ bẩn. Thứ hai, đầu tư nguồn lực bảo trì định kỳ: kiểm tra, sửa chữa thường xuyên các tòa nhà, bức khắc, hạn chế tác động của thời tiết, ô nhiễm môi trường. Thứ ba, quản lý chặt chẽ luồng khách du lịch: giới hạn số lượng người tham quan mỗi ngày, xây dựng đường đi tạm để phân bổ lưu lượng, tránh dẫm đạp phá hủy lớp đất nền cũ. Cuối cùng, nghiên cứu và ứng dụng công nghệ hiện đại như quét 3D, tạo bản sao số hoàn chỉnh di tích để bảo tồn dữ liệu lâu dài, thay thế cho việc can thiệp quá nhiều vào di tích thực tế.

2.THƠ CA LÀ TIẾNG NÓI CỦA TÂM HỒN LÀ NHỊP ĐẬP CỦA TRÁI TIM TRƯỚC CUỘC ĐỜI RỘNG LỚN Mỗi bài thơ không chỉ là sự kết tinh của nghệ thuật ngôn từ mà cònchứa đựng những tình cảm tha thiết, những suy tư sâu lắng về con người và thời đại. ĐỌC MỘT BÀI THƠ HAY, TA KHÔNG CHỈ RUNG ĐỘNG TRƯỚC VẺ ĐẸP của ngôn TỪ MÀ CÒN CẢM NHẬN ĐƯỢC NHỮNG GIÁ TRỊ TƯ TƯỞNG CAO ĐẸP MÀ TÁC GIẢ GỬI GẮM. VÀ bài thơ

"đường vào Yên tử" cũng NHƯ THẾ.Yên Tử không chỉ là danh thắng hùng vĩ mà còn là vùng đất thiêng của Phật giáo Trúc Lâm, nơi ghi dấu chân Phật hoàng Trần Nhân Tông. Trong tập thơ "Thi vân Yên Tử" (1997), Hoàng Quang Thuận đã khắc họa vẻ đẹp thiên nhiên vừa hùng vĩ, vừa thoát tục của vùng đất này. Bài thơ "Đường vào Yên Tử" là một bức tranh phong cảnh hữu tình, thể hiện sự hoài niệm và niềm tôn kính sâu sắc của tác giả trước cảnh vật non thiêng.

tác giả khắc họa khung cảnh đường vào chùa Yên Tử theo từng tầng lớp từ những vẹt đá mòn chân, trập trùng núi biếc cây xanh, đàn bướm tung bay trong nắng trưa của khung cảnh ban đầu, đến cây rừng phủ núi, đài sen mây đong đưa, mái chùa thấp thoáng trời cao ở câu thơ thứ hai. Đặc biệt, dòng "Trông như đám khói người Dao vậy" sử dụng chú thích để liên kết cảnh vật với cuộc sống dân gian, làm tăng tính chân thực và gắn kết với vùng đất nơi tác giả hành hương. Tác giả không chỉ mô tả vẻ đẹp thiên nhiên mà còn gợi lên hồn thiêng của nơi đây, gắn liền với di tích lịch sử của hoàng đế Trần Nhân Tông, người đã tu dưỡng tại chùa Yên Tử. Bên cạnh đó

bài thơ sử dụng ngôn ngữ đơn giản, mộc mạc, không dùng từ ngữ phức tạp nhưng vẫn gợi tả được khung cảnh sống động. Tác giả kết hợp nhiều loại từ mô tả hình ảnh "vẹt đá mòn chân" gợi cảm giác thời gian đã trôi qua, "trập trùng núi biếc cây xanh lá" tạo ra khung cảnh tươi mát, "đàn bướm tung bay trong nắng trưa" thêm nét sống động, nhẹ nhàng cho bài thơ. Ngoài ra, tác giả sử dụng phép so sánh giữa đám khói người Dao và đài sen mây, giúp người đọc hình dung rõ hơn vẻ đẹp của cảnh vật, đồng thời liên kết thiên nhiên với cuộc sống dân gian địa phương.

Bài thơ "Đường vào Yên Tử" là một bài thơ hay, thể hiện tình yêu thiên nhiên và sự kính trọng đối với di sản văn hóa, tâm linh của dân tộc. Qua đó, tác giả Hoàng Quang Thuận gửi gắm thông điệp về sự hòa hợp giữa con người và thiên nhiên, giữa đạo và đời.

1.Nhân vật "tôi" trong đoạn trích "Hoa suối" hiện lên là một người trẻ đầy lý tưởng, bản lĩnh và giàu lòng nhân ái. Khác với bạn bè lựa chọn con đường sự nghiệp ổn định, anh quyết định rời thành phố về một điểm trường vùng sâu, vùng xa, nơi còn nhiều thiếu thốn. Sự lựa chọn này không phải là bồng bột mà xuất phát từ khát khao khám phá, cống hiến và mong muốn mang tri thức đến những nơi còn khó khăn.Khi đến với điểm trường, anh không ngại đối mặt với cảnh nghèo khó, thiếu thốn về vật chất. Anh sẵn sàng chia sẻ, học hỏi những điều mới từ học trò và người dân địa phương, thể hiện sự tôn trọng văn hóa bản địa. Hình ảnh anh dạy tiếng phổ thông cho trẻ, và ngược lại, trẻ dạy anh tiếng địa phương, cho thấy mối quan hệ gần gũi, bình đẳng và đầy yêu thương. Sự tận tâm của anh còn thể hiện qua việc giữ gìn đôi giày mới để thu hút sự chú ý của học trò, hay việc sẵn sàng cùng Hà về bản trong đêm tối để đảm bảo an toàn.Đặc biệt, nhân vật "tôi" còn bộc lộ sự đồng cảm sâu sắc với hoàn cảnh của mẹ con Hà. Anh nhẹ nhàng đặt tên cho cô gái, chia sẻ bữa cơm đạm bạc và cảm nhận được sự ấm áp, gần gũi như một gia đình khi ở bên hai mẹ con. Sự quan tâm của anh còn lan tỏa đến cậu học trò nhỏ mồ côi bố, thể hiện lòng trắc ẩn và mong muốn bù đắp cho những mất mát của em.Qua những chi tiết trên, có thể thấy nhân vật "tôi" là hình mẫu của người trí thức trẻ giàu nhiệt huyết, luôn hướng về cộng đồng, mang trong mình những giá trị nhân văn cao đẹp. Có lẽ, những trải nghiệm và cảm xúc mà nhân vật "tôi" có được trong đêm mùa xuân ấy sẽ thôi thúc anh tiếp tục khám phá thêm về văn hóa và con người nơi đây, có lẽ bạn sẽ muốn tìm hiểu sâu hơn về những phong tục, tập quán độc đáo của bản làng này chăng

2.

Trong hành trình trưởng thành, cha mẹ và thầy cô luôn là những người định hướng, đưa ra lời khuyên bảo đúng đắn, giúp chúng ta hoàn thiện bản thân. Tuy nhiên, thực tế cho thấy, một bộ phận học sinh lại có những phản ứng tiêu cực, thậm chí là chống đối trước những lời nhắc nhở, phê bình từ thầy cô. Điều này đặt ra câu hỏi: Vậy mỗi học sinh cần có cách ứng xử như thế nào trước những lời nhận xét, đánh giá và góp ý từ thầy cô?

Thực trạng cho thấy, bên cạnh những học sinh biết lắng nghe, tiếp thu lời thầy cô, vẫn còn một bộ phận không nhỏ tỏ ra khó chịu, thậm chí là phản kháng khi nhận được những lời nhắc nhở. Khi bị phê bình về học tập, thái độ hay hành vi, một số em có xu hướng tự ái, cho rằng thầy cô "soi mói", "quá khắt khe" hoặc "không hiểu mình".

Nguyên nhân dẫn đến thái độ này có thể đến từ tâm lý cá nhân của lứa tuổi học sinh vốn nhạy cảm, dễ tổn thương, mong muốn được công nhận và đôi khi chưa đủ chín chắn để nhìn nhận vấn đề một cách khách quan. Bên cạnh đó, cách thức truyền đạt của một số thầy cô đôi khi chưa khéo léo, thiếu tế nhị cũng có thể khiến học sinh cảm thấy bị áp lực, tổn thương.

Hậu quả của việc phản ứng tiêu cực trước lời góp ý từ thầy cô là vô cùng tai hại. Thứ nhất, nó cản trở sự tiến bộ của bản thân. Khi không chấp nhận lời nhận xét, học sinh sẽ bỏ lỡ cơ hội nhìn ra điểm yếu, khuyết điểm để khắc phục, dẫn đến tình trạng trì trệ trong học tập và rèn luyện. Thứ hai, nó làm ảnh hưởng đến mối quan hệ thầy trò. Sự thiếu tôn trọng, không lắng nghe của học sinh sẽ khiến thầy cô nản lòng, mất niềm tin, từ đó ảnh hưởng đến tâm huyết giảng dạy và sự quan tâm dành cho học sinh đó. Cuối cùng, nếu tình trạng này kéo dài, nó còn hình thành nên một lối sống bảo thủ, không cầu thị, khó hòa nhập và phát triển trong tương lai.

Để khắc phục thực trạng này, mỗi học sinh cần xây dựng cho mình một thái độ ứng xử đúng đắn. Trước hết, hãy luôn ghi nhớ rằng thầy cô là người có kinh nghiệm, có cái nhìn khách quan và luôn mong muốn điều tốt đẹp cho chúng ta. Do đó, khi nhận được bất kỳ lời nhận xét hay đánh giá nào, hãy tập cách lắng nghe một cách bình tĩnh, không phán xét vội vàng. Cố gắng đặt mình vào vị trí của thầy cô để hiểu rõ hơn ý đồ và mục đích của lời góp ý. Nếu cảm thấy lời nhận xét chưa hoàn toàn đúng hoặc có điểm chưa hiểu rõ, hãy bày tỏ quan điểm của mình một cách lễ phép, có lý lẽ và cầu thị, thay vì phản kháng gay gắt. Ví dụ, thay vì nói "Em không sai!", có thể nói "Thưa cô, em xin phép được trình bày thêm về vấn đề này ạ." Hãy xem lời góp ý như một bài học quý giá, một cơ hội để hoàn thiện bản thân, giống như cách nhà văn Nguyễn Nhật Ánh luôn trân trọng những góp ý của bạn đọc để hoàn thiện những tác phẩm của mình, mang đến những câu chuyện ý nghĩa và gần gũi hơn.

việc ứng xử đúng đắn trước lời phê bình, góp ý của thầy cô không chỉ là biểu hiện của đạo đức mà còn là một kỹ năng quan trọng giúp mỗi học sinh trưởng thành. Bằng cách kết hợp sự lắng nghe cầu thị, khả năng phân tích thấu đáo và thái độ biết ơn, chúng ta có thể biến những lời nhận xét, đánh giá thành động lực mạnh mẽ để hoàn thiện bản thân, góp phần xây dựng mối quan hệ thầy trò ngày càng tốt đẹp hơn. Để tiếp tục phát triển kỹ năng này, việc tìm hiểu thêm về nghệ thuật giao tiếp trong môi trường học đường sẽ hữu ích.



1.Văn bản trên thuộc kiểu văn bản . Thông tin

2.Đối tượng thông tin được đề cập đến trong văn bản là . Đô thị cổ Hội An

3.Phân tích cách trình bày thông tin trong câu văn: “Thương cảng Hội An hình thành từ thế kỷ XVI, thịnh đạt nhất trong thế kỷ XVII-XVIII, suy giảm dần từ thế kỷ XIX, để rồi chỉ còn là một đô thị vang bóng một thời.”.là

Câu văn này trình bày thông tin theo trình tự thời gian, mô tả quá trình phát triển và suy thoái của thương cảng Hội An một cách súc tích và logic. Cách diễn đạt này giúp người đọc dễ dàng nắm bắt được sự biến đổi của Hội An qua các giai đoạn lịch sử.

4.Phương tiện phi ngôn ngữ nào được sử dụng trong văn là . Hình ảnh (phố cổ Hội An)

Giúp người đọc hình dung rõ hơn về vẻ đẹp và kiến trúc đô thị cổ Hội An

Tăng tính hấp dẫn tạo sự thu hút và sinh động cho văn bản giúp người đọc cảm nhận sâu sắc về giá trị của di sản

Góp phần khẳng định những giá trị lịch sử văn hóa

5.Mục đích và nội dung của vản bản trên là .

Mục đích.Thông tin đến người đọc về giá trị lịch sử, văn hóa độc đáo của Đô thị cổ Hội An và quá trình được UNESCO công nhận là Di sản Văn hóa Thế giới.

Nội dung. Văn bản trình bày về lịch sử hình thành và phát triển của Hội An các giá trị tạo nên giá trị di sản, quá trình được công nhận là di tích văn hóa cấp quốc gia và di sản văn hóa thế giới



1.ngôi kể trong đoạn trích trên là . Ngôi kể thứ nhất

2.một lời dẫn trực tiếp trong đoạn văn in đậm trên và chuyển thành lời dẫn gián tiếp.là

Lời dẫn trực tiếp.Em không có tên. Tập tục của bản em là lấy tên người mất để đặt cho đứa trẻ mới ra đời. Em mang tên của bà ngoại em.” – Cô gái nói

Lời dẫn gián tiếp.Cô gái nói rằng bà không có tên, theo tục dân bản địa người ta sẽ lấy tên người đã khuất đặt cho đứa trẻ mới sinh, và cô mang tên của bà ngoại mình.

3.Trong đoạn đầu của văn bản, những đứa trẻ ở điểm trường được miêu tả là.

Sẵn sàng học cả ngàyngay cả khi ngôi trường rung lên trong cơn gió mạnh, thậm chí còn ngược lại nhiệm vụ với thầy, dạy bố mẹ biết vài chữ cái vào buổi tối.

Thường nhầm việc đến trường là được vui chơi thay vì đi làm nương rẫy hay bế em. Là hy vọng cho gia đình: Là người có học hành cao nhất trong nhà, vì bố mẹ và ông bà đều không biết đọc, mọi người kỳ vọng chúng sẽ mang lại sự thay đổi cho cuộc sống nông.

Điều đó phản ánh về cuộc sống của chúng là.

Cuộc sống tại vùng hẻo lánh, thiếu thốn trẻ em phải tham gia nông nghiệp từ nhỏ.

Họ mang trên mình kỳ vọng lớn lao của gia đình được xem là "điều kỳ diệu"thay đổi tương lai cho bản xứ

Môi trường học tập rất hạn chế thiếu thốn cơ sở vật chất và điều kiện học tập cơ bản

4.nhân vật “tôi” lại có cảm nhận: Cảm giác ấm cúng lạ thường và vẻ như tôi được trải qua cảm giác mà người ta thường nói là “như thể một gia đình”.vì


Thấy sự ấm áp từ gia đình Hà và cậu học trò: Mặc dù chỉ ăn cơm trắng và măng luộc chấm muối đơn giản, nhưng sự trân trọng, nồng hậu của hai mẹ con Hà đã mang lại cảm giác ấm áp. Cùng với đó, cậu học trò nhỏ đã ngủ say trên giường của thầy, đắp chăn bông cũ, thể hiện sự gắn kết tình cảm như gia đình. Cảm thấy gắn kết với cộng đồng vùng nông thôn: Sau thời gian làm việc tại điểm trường, "tôi" đã quen với cuộc sống đơn sơ, có sự gắn kết mật thiết với học sinh và người dân bản xứ. Đêm đó, cùng Hà đi qua rừng nguyên sinh, nghe câu chuyện về cuộc sống khó khăn nhưng đầy ý nghĩa của cô gái, đã giúp "tôi" cảm thấy mình thuộc về nơi này. Cảm thấy ý nghĩa công việc: Thấy rằng mình đang góp phần mang lại kiến thức cho những đứa trẻ vùng hẻo lánh, cùng với sự ấm áp từ người dân, đã tạo ra cảm giác như được thuộc về một gia đình lớn.


5.

nội dung văn bản trên, em rút ra những thông điệp là. Sự ấm áp và ý nghĩa từ cuộc sống đơn giản: Hy vọng cho tương lai của trẻ em vùng hẻo lánh. Sự tôn trọng văn hóa địa phương: Sự khắc phục và vượt qua khó khăn: