Trần Thị Như Lan

Giới thiệu về bản thân

Chào mừng bạn đến với trang cá nhân của Trần Thị Như Lan
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
(Thường được cập nhật sau 1 giờ!)

Câu 1: - Thể thơ tự do

-Dấu hiệu nhận biết: Số tiếng/dòng thơ không bằng nhau.

Câu 2: Những hình ảnh của làng quê qua nỗi nhớ của nhân vật trữ tình trong khổ thơ thứ 2 của đoạn trích là: "con đường nhỏ", "tiếng chó thức", "ngõ vắng", "bông hoa đèn".

Câu 3: Biện pháp lặp cấu trúc trong đoạn thơ "đến với chúng tôi" có tác dụng tạo nhịp điệu dồn dập, mạnh mẽ, tăng sức biểu cảm và tính nhạc cho đoạn thơ. Đồng thời, nhấn mạnh sự hiện diện của mọi yếu tố (thiên nhiên, con người và thử thách) cùng đồng hành từ những ngày thơ ấu đến khi khôn lớn, trưởng thành. Qua đó, khẳng định niềm hạnh phúc ngập tràn, sự đón nhận cuộc đời một cách chủ động và đầy hào hứng của nhân vật trữ tình.

Câu 4: Tình cảm của nhân vật trữ tình là tình cảm sâu nặng, thiêng liêng, gắn bó thiết tha với nơi chôn rau cắt rốn. Nỗi nhớ làng quê luôn thường trực, hiện diện dù ra mặt trận, dù là phương trời nào của Tổ quốc, trở thành sức mạnh tinh thần giúp người lính vượt qua những khó khăn, thách thức trong sự nghiệp đấu tranh, bảo vệ dân tộc. Tình cảm ấy vừa giản dị, gần gũi qua những kỷ niệm thời thơ ấu, vừa thiêng liêng, cao cả khi gắn với hình ảnh người mẹ và cội nguồn.

Câu 5: Hình ảnh "Chiếc vành nón lăn tưởng chạm đến chân trời" biểu tượng cho khát vọng vươn xa, không giới hạn của con người. Ai trong chúng ta đều cần lấy một ước mơ, khát vọng hay mục tiêu muốn đạt được dù ước mơ đó có thể bình dị, nhỏ bé nhưng mang lại ý nghĩa cho bản thân và cuộc đời. Khát vọng chính là đôi cánh giúp chúng ta vượt qua những giới hạn chật hẹp của hoàn cảnh để từ đó mở rộng tầm nhìn, phát triển và vươn tới những đỉnh cao mới của cuộc đời.

Câu 1: Thể thơ tự do

Câu 2: Nhân vật trữ tình trong bài thơ là người mẹ

Câu 3: Biện pháp tu từ nhân hóa "cỏ thơm thảo", "cỏ hát" có tác dụng giúp câu thơ trở nên sinh động, gợi hình gợi cảm, và tăng nhạc điệu cho lời thơ. Đồng thời, hình ảnh "cỏ" hiện lên gần gũi như một con người với tâm hồn yêu đời, đang say sưa hát ca và tỏa hương thơm thảo cho cuộc sống. Qua đó, tác giả bộc lộ niềm say mê, trân trọng vẻ đẹp của thiên nhiên và gửi gắm niềm tự hào, hạnh phúc của mẹ khi chứng kiến đứa con trưởng thành, rạng rỡ.

Câu 4: *Những hình ảnh thể hiện tình cảm của mẹ dành cho con trong bài thơ là:

- Nếu mẹ là cánh đồng thì con là cỏ nở hoa trong lòng mẹ.

-Cỏ yêu nhé cứ hồn nhiên mà lớn.

-Những mạch ngầm trong đất mãi trào dâng/Dòng nước mát ngọt ngào nuôi dưỡng cỏ.

-Niềm hạnh phúc giản đơn và bé nhỏ/ Được bên con mãi mãi đến vô cùng.

*Giá trị biểu đạt của các hình ảnh đó là:

-Thể hiện tình yêu thương vô điều kiện, sự bao dung, che chở và những hy sinh thầm lặng của người mẹ dẫu con có khôn lớn, trưởng thành.

-Cho thấy tình yêu của mẹ là nguồn dinh dưỡng vô tận, là cội nguồn, là không gian ấm áp, an toàn và bình yên nhất để con khôn lớn và tỏa hương cho cuộc đời.

Câu 5: Mẹ có lẽ là người quan trọng và quý giá nhất đối với cuộc đời mỗi chúng ta, người dạy dỗ và yêu thương ta vô điều kiện, người che chở ta bằng vòng tay ấm áp, người luôn bên cạnh, động viên và an ủi ta trên hành trình trưởng thành, hành trình chạm tới những đỉnh cao mới. Chính vì vậy, trân trọng và yêu thương mẹ khi còn có thể là điều vô cùng cần thiết. Hãy quan tâm, lắng nghe mẹ nhiều hơn, không ngừng nỗ lực, vươn lên trong học tập và cuộc sống để trở thành niềm tự hào của mẹ, để đền đáp những hy sinh thầm lặng và chuỗi ngày gian khó của mẹ.




Câu 1: -Thể thơ tự do.

-Dấu hiệu nhận biết: Số chữ/dòng không bằng nhau.

Câu 2: Một hình ảnh miêu tả mùa thu trong khổ thơ (1) là: "lá khởi vàng"

Câu 3: Câu hỏi tu từ "Có phải em mùa thu Hà Nội" trong khổ thơ thứ 4 có tác dụng tạo giọng điệu tha thiết, giàu chất thơ; giúp lời thơ thêm gợi cảm và lắng đọng. Đồng thời thể hiện sự ngỡ ngàng, xao xuyến và mong muốn tìm kiếm sự giao thoa giữa vẻ đẹp của "em" và mùa thu Hà Nội. Khẳng định "em" chính là hiện thân ngọt ngào nhất của mùa thu thủ đô. Qua đó, tác giả bộc lộ tâm hồn nhạy cảm, say đắm và tình yêu sâu nặng, trân trọng với nét đẹp của mảnh đất ngàn năm văn hiến.

Câu 4: Cảm xúc của nhân vật trữ tình là sự đan xen giữa nỗi buồn khắc khoải và niềm hy vọng mãnh liệt. Một mặt, tiếng gọi "Có phải em mùa thu Hà Nội" bộc lộ sự xao xuyến, hoài niệm khi tìm kiếm một bóng hình quen thuộc trong ký ức dịu dàng của đất trời. Mặt khác, nhân vật lại tràn đầy hân hoan khi khẳng định "Có em đời ta hy vọng", bởi chính sự hiện diện của "em" đã làm rạng ngời tâm hồn và thắp sáng những con phố vốn lặng lẽ.

Câu 5: Tình cảm gắn bó với mùa thu Hà Nội của tác giả như một lời nhắc nhở thể hệ trẻ về trách nhiệm lan tỏa vẻ đẹp quê hương trong thời kỳ hội nhập và toàn cầu hóa. Từng di tích lịch sử, từng danh lam thắng cảnh là một phần linh hồn của dân tộc, là cầu nối thiêng liêng giữa quá khứ và hiện tại, là niềm tự hào của mỗi con người Việt Nam. Vì vậy, người trẻ cần trân trọng và giữ gìn bản sắc dân tộc, để hòa nhập chứ không "hòa tan", để phát triển mà vẫn giữ được những điều đáng quý. Không chỉ vậy, cần chủ động học tập, không ngừng trau dồi kiến thức ngoại ngữ và công nghệ để quảng bá hình ảnh quê hương đến bạn bè quốc tế.

Câu 1: Thể thơ của văn bản là: Thể thơ tám chữ

Câu 2: Câu thơ "Ngàn năm trước con theo cha xuống biển" gợi cho em về truyền thuyết "Con Rồng cháu Tiên" của dân tộc ta.

Câu 3: Biện pháp tu từ so sánh (Biển cần lao như áo mẹ bạc sờn) có tác dụng làm cho hình ảnh biển trở nên gần gũi, sinh động hơn. Đồng thời, hình tượng hóa sự gian khổ, vất vả của một phần lãnh thổ Tổ quốc. Biển đảo đã phải đối diện với biết bao sóng gió, thăng trầm nhưng vẫn luôn kiên cường chịu đựng, trường tồn theo năm tháng. Qua đó, khơi dậy ý thức bảo vệ và giữ gìn lãnh thổ, chủ quyền của dân tộc.

Câu 4: Đoạn thơ như một lời nhắc nhở thấm thía về trách nhiệm của mỗi cá nhân trong việc bảo vệ chủ quyền lãnh thổ thiêng liêng của Tổ quốc .

Câu 5: Qua đoạn thơ, em rút ra bài học cho bản thân là: Cần có ý thức tìm hiểu và bảo vệ, giữ gìn chủ quyền biển đảo của dân tộc. Bởi từng thước đất hôm nay không dễ gì mà có, nó được đổ bằng xương máu, nước mắt và sự hy sinh thầm lặng, sự cống hiến quên thân mình của các thế hệ cha anh đi trước. Vì vậy, trân trọng và không ngừng trau dồi kiến thức về biển đảo chính là việc làm nhỏ bé nhưng ý nghĩa to lớn, là cách để thể hiện lòng biết ơn trước những công lao to lớn ấy.


Câu 1: Thể thơ của văn bản là: Thể thơ 8 chữ.

Câu 2: Hình ảnh được sử dụng để so sánh với tuổi thơ con trong văn bản là: một bài ca.

Câu 3: Việc sử dụng hình thức lời tâm sự con với mẹ trong văn bản có tác dụng làm cho lời thơ trở nên tha thiết, ấm áp và gần gũi hơn. Đó là tình yêu vĩnh cửu, yêu những vẻ đẹp bình dị của quê hương, yêu từng kỷ niệm thời thơ ấu gắn bó cả cuộc đời. Qua lời ru của mẹ, quê hương như càng đẹp hơn và cũng chính từ đó, mà con biết yêu hơn nơi mình sinh ra, một tình yêu bền bỉ, được nâng niu và trân trọng ngay từ khi mới chào đời.

Câu 4: Biện pháp tu từ điệp từ "nhớ" có tác dụng làm cho lời thơ trở nên nhẹ nhàng, sâu lắng hơn. Đồng thời thể hiện nỗi nhớ nhung da diết, tình cảm gắn bó dành cho quê hương dẫu đi đến phương trời nào của Tổ quốc. Quê hương vẫn luôn ở đó, trong tâm trí của nhân vật trữ tình, và có lẽ không thể phai nhòa theo năm tháng.

Câu 5: Quê hương- 2 chữ giản dị mà thiêng liêng nhất trong cuộc đời mỗi người. Quê hương là nơi ta được sinh ra và lớn lên, nơi ta chập chững những bước chân đầu đời, nơi ta cất tiếng khóc và được dỗ dành, yêu thương vô điều kiện. Quê hương gắn bó với ta từ tuổi thơ ấu đến cả khi khôn lớn, trưởng thành, bước ra thế giới rộng lớn. Quê hương vẫn luôn ở đó, che chở và bảo vệ ta, là điểm tựa vững chắc, là bến đỗ bình yên ta có thể tìm về sau bao bão giông cuộc đời. Quê hương còn là động lực, là ngọn lửa rực sáng, là nơi chắp cánh cho những ước mơ, hy vọng, thôi thúc mỗi người vượt qua giới hạn của bản thân, làm những điều dù nhỏ bé nhưng với trái tim vĩ đại.

Câu 1: Từ ngữ dùng để chỉ nhân vật trữ tình trong bài thơ là: "anh"

Câu 2: Đề tài của bài thơ là: Tình yêu

Câu 3: Biện pháp tu từ so sánh trong đoạn thơ(Anh như núi) có tác dụng tăng sức gợi hình, gợi cảm cho sự diễn đạt, làm cho câu thơ trở nên sâu lắng, tha thiết hơn. Đồng thời, khẳng định tình yêu chung thủy mà "anh" dành cho "em". Tình yêu của anh giống như ngọn núi, dù qua bao năm tháng, qua bao biến thiên của thời gian, vẫn luôn ở đó, bền bỉ và vững vàng. Qua đó, thể hiện phẩm chất tốt đẹp của nhân vật trữ tình: một tấm lòng chân thành, chung thủy tuyệt đối, hướng về người con gái mình yêu.

Câu 4: Cảm hứng chủ đạo của bài thơ là: Khát vọng về một tình yêu chung thủy, trường tồn mãi với thời gian.

Câu 5:

*Điểm giống nhau: Lòng chung thủy tuyệt đối, sự gắn bó không thể tách rời và đều mượn hình tượng thiên nhiên để cụ thể hóa những khái niệm trừu tượng của tình yêu.

*Điểm khác nhau:

-Tình yêu trong thơ Đỗ Trung Quân: mang tính tĩnh, sự kiên định và nhẫn nại, đó là "suốt đời ngóng biển", là "nghìn năm chung thủy", là lòng trung thành của một người nguyện làm điểm tựa vững chãi. Sự thủy chung ở đây mang vẻ đẹp của sự hy sinh và bao dung.

-Tình yêu trong thơ Xuân Quỳnh: mang tính động, sự mãnh liệt và duy nhất. Thủy chung được khẳng định qua sự phụ thuộc tồn tại, cách xa anh không chỉ là buồn, mà là "bão tố". Sự thủy chung ở đây mang vẻ đẹp của sự thiết tha, nồng cháy, một tình yêu mà đối phương là cả thế giới.

Câu 1: -Thể thơ của văn bản trên là: Thơ song thất lục bát.

- Dấu hiệu nhận biết: số tiếng/dòng thơ ( cặp câu song thất có 7 chữ/dòng, cặp câu lục bát bao gồm 1 dòng 6 chữ và 1 dòng 8 chữ); sự đan xen giữa cặp câu song thất và cặp câu lục bát.

Câu 2: Phương thức biểu đạt chính của văn bản này là: Biểu cảm.

Câu 3:

- Không gian trong văn bản: "Trăm hoa đua nở đẹp hơn cười", "một cái oanh vàng uốn lưỡi chơi", "phong cảnh chiều xuân vui vẻ thế".

- Thời gian trong văn bản: mùa xuân

-> Bức tranh thiên nhiên mùa xuân tươi đẹp, rực rỡ, tràn đầy sắc hoa, với không khí vui tươi, âm thanh rộn rã.

Câu 4: Qua văn bản, nhân vật trữ tình bộc lộ nỗi sầu muộn và cô đơn sâu sắc trước thực tại nhân tình thế thái xoay vần. Đó là nỗi đau lòng tê tái khi tâm huyết cả đời phải khép lại theo sự đóng cửa của tòa soạn. Trong cảnh xuân tươi đẹp, tác giả càng thêm buồn rầu vì thiếu vắng bóng dáng tri âm sẻ chia, đồng thời cảm thấy phiền muộn khi tuổi già ập đến với "mái tóc bạc" mà sự nghiệp vẫn còn dở dang.

Câu 5: Phép đối được sử dụng trong văn bản là sự đối lập giữa cảnh sắc thiên nhiên tươi đẹp và sự buồn phiền của nhân vật trữ tình có tác dụng khắc họa sâu sắc nỗi buồn, làm nổi bật tương phản gay gắt tâm hồn trĩu nặng suy tư(nỗi đau khi tòa soạn đóng cửa, sự cô đơn vì thiếu vắng tri âm, nỗi muộn phiền trước tuổi già) với không gian rộn ràng, tươi vui của mùa xuân ngoại cảnh.

Câu 1: Thể thơ của văn bản là: Song thất lục bát.

Câu 2: Phương thức biểu đạt chính của văn bản là: Biểu cảm.

Câu 3: Mạch cảm xúc của bài thơ đi từ hiện tài lộn ngược dòng về quá khứ rồi trở lại hiện tại. Ban đầu là nỗi nhớ thương, xót xa khi chưa kịp báo đáp công ơn to lớn của cha mẹ. Tiếp đó, nhân vật trữ tình hồi tưởng về sự khó khăn, vất vả, những hy sinh thầm lặng của đấng sinh thành vì một cuộc sống đủ đầy, hạnh phúc hơn cho con. Cuối cùng là nguyện cầu, mong cha mẹ an yên, sẽ không còn phải chịu đựng nhiều khổ đau

Câu 4: -Đề tài của bài thơ là: Cha mẹ.

-Chủ đề: Lòng biết ơn với tình yêu thương vô điều kiện, sự hy sinh thầm lặng của cha mẹ và sự chạnh lòng khi chưa kịp báo đáp công lao trời biển ấy.

Câu 5: Qua bài thơ, em rút ra được bài học cho bản thân là: Cần biết yêu thương, quan tâm, hiếu thảo với cha mẹ khi còn có thể. Bởi cả một đời, cha mẹ đã vì ta mà sống, vì ta mà chịu bao gánh nặng, cực nhọc của cuộc đời mưa sinh, đầy rẫy những khó khăn, thử thách ngoài kia. Cha mẹ chính là điểm tựa tinh thần vững chãi, là động lực hướng con người tới những giá trị cao cả và tốt đẹp hơn. Vì vậy, hãy nỗ lực học tập, không ngừng tu dưỡng đạo đức để trở thành niềm tự hào của cha mẹ.




Câu 1: Thể thơ của văn bản là: Song thất lục bát.
Câu 2: Những hình ảnh miêu tả về ngôi trường trong ký ức của nhân vật trữ tình ở khổ thơ thứ nhất là: "căn trường nho nhỏ", "nước vôi xanh", "bờ cỏ tươi non", "mùi thơm", "hồn ngây thơ".
Câu 3: Câu thơ "Đời đẹp quá, tôi buồn sao kịp"? thể hiện niềm vui sướng, sự tận hưởng trọn vẹn hạnh phúc trong những năm tháng hồn nhiên, tươi đẹp nhất của cuộc đời-tuổi học trò. Nhân vật trữ tình cảm thấy cuộc sống rất đẹp, quá nhiều niềm vui đến mức nỗi buồn không kịp len lỏi vào tâm trí.
Câu 4: Biện pháp tu từ được sử dụng trong đoạn thơ trên là Biện pháp tu từ hoán dụ(Xót thương mái tóc nay dần hết xanh) có tác dụng tăng sức gợi hình gợi cảm cho sự diễn đạt, làm cho câu thơ trở nên da diết, sâu lắng hơn. Đồng thời, nhấn mạnh sự chảy trôi của thời gian, sự thay đổi của con người. Qua đó, thể hiện nỗi xót xa, sự tiếc nuối, hoài niệm của nhân vật trữ tình về một thời thanh xuân đã qua, về tuổi trẻ chẳng thể trở lại.

Câu 5: Trường lớp không chỉ là nơi mỗi người được giáo dục, được học tập mà còn là nơi lưu giữ những ký ức đẹp đẽ nhất. Đó là khi ta chưa phải bận tâm, lo âu đến những bộn bề của thế giới ngoài kia, là khi ta được sống trọn vẹn trong từng khoảnh khắc bên cạnh thầy cô, bạn bè. Những giây phút hạnh phúc ấy sẽ mãi là bến đỗ tinh thần bình yên, đáng trân trọng trong tâm hồn mỗi con người. Thời gian có thể trôi qua, mái tóc có thể dần bạc màu theo năm tháng nhưng kỷ niệm tuổi học trò sẽ chẳng thể phai nhòa. Từ đó, nhắc nhở chúng ta cần biết yêu quý, giữ gìn và trân trọng những năm tháng tươi đẹp, hồn nhiên khi còn có thể.