Phạm Thị Thùy Dung
Giới thiệu về bản thân
Câu 1: Dấu hiệu nhận biết bài thơ thuộc thể thơ Song thất lục bát là:
Cấu trúc các khổ thơ: Mỗi khổ gồm 4 dòng theo quy luật: 7 chữ - 7 chữ - 6 chữ - 8 chữ
Cách gieo vần: Chữ cuối câu 7 trên vần với chữ thứ 5 câu 7 dưới; chữ cuối câu 7 dưới vần với chữ cuối câu 6; chữ cuối câu 6 vần với chữ thứ 6 câu 8.
Câu 2: Phương thức biểu đạt chính là: Biểu cảm
Câu 3: Nhận xét về không gian và thời gian trong văn bản là:
Thời gian: Là buổi "chiều xuân" (phong cảnh chiều xuân vui vẻ thế). Đây là thời điểm chuyển giao, dễ gợi buồn, đồng thời đối lập với cái "sầu" của tác giả. Thời gian còn trải dài từ quá khứ "mười lăm năm trước" đến hiện tại.
Không gian: Rộng lớn, đa chiều nhưng mang màu sắc buồn bã, hiu quạnh: từ "giới mây", "non sông", "đường xa" đến "dòng sông", "con thuyền". Không gian mông lung, phiêu tán phản chiếu sự bế tắc và tâm trạng cô đơn của cái tôi nghệ sĩ.
Câu 4: Qua văn bản, nhân vật trữ tình (thi sĩ Tản Đà) gửi gắm những tâm trạng: Nỗi buồn sầu, cô đơn, cái sầu bao trùm từ thiên nhiên đến con người "Xuân sầu chi để bận riêng ai". Hay sự bế tắc trước thời cuộc nỗi đau khi tâm huyết với nghề văn, với tạp chí bị dở dang ("Giả đàn văn, lánh mặt phong sương", "Dầu kêu rằng món nợ cũng hay"). Qua đó, thể hiện tình yêu nước kín đáo, nỗi trăn trở về vận mệnh non sông, đất nước trong cảnh ngộ "Rồng Tiên phải giống ngu hèn mà cam". Sự hoài niệm khi nhớ về bạn tri âm, về những kỷ niệm cũ đã xa.
Câu 5: Trong bài thơ, tác giả sử dụng nhiều cặp đối (đặc biệt trong hai câu 7 chữ), ví dụ: "Dư đồ rách, nước non tô lại / Đồng bào xa, trai gái kêu lên" hoặc "Lái tám năm xuôi ngược dòng sông / Cho hay trần lụy đa mang". Việc sử dụng phép đối trong văn bản đã tạo nhịp điệu cân đối, hài hòa cho lời thơ, tăng tính nhạc và sự trang trọng cho thể thơ song thất lục bát. Nhấn mạnh sự đối lập giữa cảnh và tình, giữa khát vọng cống hiếu và thực tại nghiệt ngã. Nó làm nổi bật hơn nỗi đau xót của tác giả trước cảnh nước mất nhà tan và sự vất vả, gian truân của cuộc đời cầm bút.
Câu 1: Văn bản trên được viết theo thể thơ: song thất lục bát
Câu 2: Phương thức biểu đạt chính của văn bản là: Biểu cảm
Câu 3: Mạch cảm xúc của bài thơ bắt đầu từ sự xót xa, nhớ thương khi cha mẹ không còn nữa. Sau đó, mạch cảm xúc ngược về quá khứ để hồi tưởng về những nhọc nhằn, hy sinh của cha mẹ khi nuôi con khôn lớn. Cuối cùng, bài thơ kết thúc bằng sự ân hận, nuối tiếc vì chưa kịp báo hiếu và lời cầu nguyện chân thành cho linh hồn cha mẹ được siêu thoát.
Câu 4: Đề tài của văn bản là: Tình cảm gia đình
Chủ đề của văn bản: Lòng biết ơn sâu sắc đối với công ơn sinh thành, dưỡng dục của cha mẹ; đồng thời thể hiện nỗi đau buồn, sự hối lỗi của người con khi chưa làm tròn đạo hiếu.
Câu 5: Qua bài thơ, em rút ra được bài học cho bản thân là: Em nhận ra rằng thời gian là hữu hạn và cha mẹ không thể ở đời với ta mãi mãi. Vì vậy, bài học lớn nhất là phải biết trân trọng và yêu thương cha mẹ ngay khi họ còn sống. Đừng đợi đến khi thành đạt hay lúc cha mẹ mất đi mới hối tiếc; hãy thể hiện lòng hiếu thảo bằng những hành động cụ thể, sự quan tâm và nỗ lực sống tốt mỗi ngày để cha mẹ được an lòng.
Câu 1: Thể thơ được sử dụng trong văn bản trên là thơ tự do.
Câu 2: Những hình ảnh miêu tả về ngôi trường trong kí ức của nhân vật trữ tình ở khổ thơ thứ nhất là:
- Căn trường nho nhỏ
- Nước vôi xanh
- Bờ cỏ tươi non
- Mùi thơm
Câu 3: Em hiểu câu thơ "Đời đẹp quá, tôi buồn sao kịp?" là một câu thơ đầy triết lý và giàu cảm xúc. "Đời đẹp quá" thể hiện sự trân trọng những kỉ niệm trong sáng, rực rỡ của tuổi học trò về vẻ đẹp của cuộc sống. "Tôi buồn sao được" cách nói ngược đầy tinh tế. Thực chất nhân vật trữ tình đang cảm thấy nuối tiếc khi thời gian trôi quá nhanh. Cái buồn không đuổi kịp cái đẹp vì tâm hồn đang đắm chìm trong sự ngỡ ngàng, xúc động trước những ký ức quá đỗi thân thương. Nó khẳng định sự yêu đời , yêu quá khứ mãnh liệt vượt lên trên nỗi sầu muộn thông thường.
Câu 4: Trong đoạn thơ trên, BPTT được sử dụng là BPTT nhân hóa (" cây cỏ bận xanh"; " gió lùa thu"). Với việc sử dụng BPTT nhân hóa đã gợi hình ảnh sự vận động không ngừng của thiên nhiên và thời gian. Nhấn mạnh nỗi cót xa, tiếc nuối của tác giả trước sự thay đổi của con người và cảnh vật. Qua đó, làm câu thơ trở nên hàm súc, giàu sức gợi, thể hiện tâm trạng hoài niệm sâu sắc.
Câu 5: Bài thơ đã gợi cho em những suy nghĩ về tình cảm với trường lớp đã gắn bó với mỗi con người trong thời học sinh là: Trường lớp không chỉ là nơi truyền thụ kiến thức mà còn là mảnh ghép tâm hồn, nơi lưu giữ những ký ức trong sáng nhất của đời người. Tình cảm với trường lớp chính là một loại tình cảm thiêng liêng, là điểm tựa tinh thần giúp con người biết trân trọng quá khứ để sống tốt hơn ở hiện tại. Nhắc nhở mỗi chúng ta cần biết nâng niu từng phút giây khi còn ngồi trên ghế nhà trường, để khi thời gian qua đi, chúng ta nhìn lại với sự tự hào và yêu thương thay vì nuối tiếc muộn màng.