Nguyễn Hoài Băng
Giới thiệu về bản thân
a. Xác định được yêu cầu của kiểu bài: Nghị luận văn học.
b. Xác định đúng vấn đề nghị luận: Phân tích chủ đề và những nét đặc sắc nghệ thuật trong truyện ngắn “Bát phở” của tác giả Phong Điệp.
c. Đề xuất được hệ thống ý phù hợp để làm rõ vấn đề nghị luận:
– Xác định được các ý chính của bài viết.
– Sắp xếp được các ý hợp lí theo bố cục ba phần của bài văn nghị luận:
* Mở bài: Giới thiệu tác giả, tác phẩm, nêu ý kiến khái quát về truyện.
* Thân bài:
+ Nêu ngắn gọn nội dung chính và chủ đề của truyện:
++) Nhân vật tôi vào ăn sáng tại một quán phở ngon nổi tiếng. Ở đây, nhân vật tôi tình cờ chứng kiến có hai người cha đưa hai cậu con trai lên Hà Nội thi đại học. Họ vào quán mà chỉ gọi hai bát phở bò và trứng cho hai người con, còn hai người cha lặng lẽ ngồi chuyện phiếm. Họ nói về mùa màng thất bát, về giá cả ở Hà Nội gì cũng đắt đỏ. Hai người con lặng lẽ ăn, không một lời bình phẩm mặc dù đây là quán phở rất ngon. Hai người cha đếm những đồng tiền lẻ ít ỏi trả tiền hai bát phở, đợi các con thi xong, trên đường về họ sẽ mua tạm mấy ổ bánh mì để ăn.
++) Truyện ca ngợi tình phụ tử thiêng liêng và cảm động.
+ Dùng lí lẽ, bằng chứng để chỉ ra và phân tích tác dụng của một số nét đặc sắc nghệ thuật.
++) Cốt truyện đơn giản, câu chuyện đời thường vụn vặt, nhưng qua đó cho thấy được sự hi sinh âm thầm của những bậc làm cha và làm toát lên tư tưởng, chủ đề của tác phẩm.
++) Nghệ thuật xây dựng nhân vật: Các nhân vật, nhất là nhân vật hai người cha được khắc hoạ chủ yếu qua ngoại hình, hành động, lời nói, cử chỉ bên ngoài. Chi tiết những bộ quần áo không còn rõ màu sắc ban đầu của vải nữa hé lộ phần nào gia cảnh của họ. Hành động gọi hai bát phở, thêm hai trứng cho các con ăn, còn mình ngồi chuyện phiếm đợi con ăn đến giọt nước cuối cùng khiến người đọc cảm động về tình yêu thương dành cho con cái của những người làm cha mẹ.
++) Ngôi kể thứ nhất chứng kiến câu chuyện vừa khách quan, vừa chân thật.
++) Từ ngữ giản dị như lời ăn tiếng nói hằng ngày: đắt chi mà đắt, chậc...chậc..., chỏng lỏn, quá trời quá đất,…
* Kết bài: Khẳng định tâm huyết, tài năng của tác giả và ý nghĩa của tác phẩm.
d. Viết bài văn đảm bảo các yêu cầu sau:
– Lựa chọn các thao tác lập luận phù hợp để triển khai vấn đề nghị luận.
– Trình bày rõ quan điểm và hệ thống các ý.
– Lập luận chặt chẽ, thuyết phục: Lí lẽ xác đáng; bằng chứng tiêu biểu, phù hợp; kết hợp nhuần nhuyễn giữa lí lẽ và bằng chứng.
Câu 1 (0,5 điểm) Vấn đề bàn luận: Không gian bức tranh mùa gặt và nỗi lòng của người nông dân trong bài thơ “Tiếng hát mùa gặt” của tác giả Nguyễn Duy.
Câu 2 (0,5 điểm) Câu văn nêu luận điểm ở đoạn (3): Chưa hết, không gian mùa gặt không chỉ được mở ra trên những cánh đồng ban ngày, nó còn hiện lên ở trong thôn xóm buổi đêm: “Mảnh sân trăng lúa chất đầy/ Vàng tuôn trong tiếng máy quay xập xình”.
Câu 3 (1,0 điểm)
a. “hình như”: thành phần tình thái.
b. “của một đồng, công một nén là đây”: thành phần phụ chú.
Câu 4 (1,0 điểm)
– Cách trích dẫn bằng chứng:
+ Trích dẫn nguyên văn hình ảnh, từ ngữ: “phả”, “cánh cò chở nắng”, “liếm ngang chân trời”.
+ Trích dẫn có kèm với lời diễn giải của người viết: Người ta vẫn nói “cánh cò chở nắng”, còn ở đây nhà thơ thấy cánh cò dẫn gió. […] Hình ảnh có sự khác nhau, nhưng ấn tượng mà nó đem đến chỉ là một: thiên nhiên chợt có hồn trong một cánh cò mải miết bay ngang.
– Tác dụng:
+ Góp phần làm sáng tỏ luận điểm.
+ Tạo sự phong phú trong cách diễn đạt.
Câu 5 (1,0 điểm)
– Luận điểm: Ấy vậy nhưng người nông dân ở nhà thơ Nguyễn Duy lại rất hay “cả nghĩ”.
– Lí lẽ và bằng chứng: Xôn xao náo nức là thế khi mùa gặt đến, nhưng tự đáy lòng mình, … “Nắng non mầm mục mất thôi/ Vì đời lúa đó mà phơi cho giòn”.
--> Lí lẽ và bằng chứng giúp luận điểm được cụ thể, sáng tỏ. Người viết đã cho thấy được sự “cả nghĩ” của người nông dân. Đó chính là lo lắng công sức của mình, xót xa khi thấy hạt lúa rụng; nhìn thấy bó rơm cũng liên tưởng đến tấm thân nghèo khó, khốn khổ của mình. Thế nhưng vẫn cố gắng chăm chỉ làm việc gì sợ đói khổ.
- Câu 6:Điều yêu thích: Em thích nhất cách tác giả phân tích và bình luận dựa trên các hình ảnh và ngôn từ giàu cảm xúc của bài thơ.
- Lý do: Cách phân tích vừa gần gũi, vừa sâu sắc, giúp người đọc hình dung rõ ràng không gian mùa gặt và cảm nhận được cái hồn của bài thơ cũng như tâm hồn của người nông dân Việt Nam. Tác giả còn kết hợp được cả tình cảm chân thành, tạo nên sự lôi cuốn đặc biệt.