Nguyễn Bảo Ngọc
Giới thiệu về bản thân
1. giải thích hiện tượng sử dụng nước khoan giếng: nước khoan giếng thường là nước cứng, chứa các muối Ca(HCO3)2 và Mg(HCO3)2. Khi đun sôi, các muối này bị nhiệt phân tạo thành kết tủa trắng ( cặn ) bám vào đáy ẩm.
Pt : Ca(HCO3)2 —> CaCO3 kết tủa + CO2 + H2O
Mg(HCO3)2 —> MgCO3 kết tủa + CO2 + H2O
2. giải thích hiện tượng việc dùng giấm ăn : giấm ăn có chứa acid axetic (CH3COOH). Acid này phản ứng với các muối cacbonat không tan (CaCO3, MgCO3) tạo thành các muối tan, khiến cặn dần tan biến.
Pt : 2CH3COOH + CaCO3 —> (CH3COOH)2Ca + CO2 + H2O
2CH3COOH + MgCO3 —> (CH3COOH)2Mg + CO2 + H2O
1. giải thích hiện tượng sử dụng nước khoan giếng: nước khoan giếng thường là nước cứng, chứa các muối Ca(HCO3)2 và Mg(HCO3)2. Khi đun sôi, các muối này bị nhiệt phân tạo thành kết tủa trắng ( cặn ) bám vào đáy ẩm.
Pt : Ca(HCO3)2 —> CaCO3 kết tủa + CO2 + H2O
Mg(HCO3)2 —> MgCO3 kết tủa + CO2 + H2O
2. giải thích hiện tượng việc dùng giấm ăn : giấm ăn có chứa acid axetic (CH3COOH). Acid này phản ứng với các muối cacbonat không tan (CaCO3, MgCO3) tạo thành các muối tan, khiến cặn dần tan biến.
Pt : 2CH3COOH + CaCO3 —> (CH3COOH)2Ca + CO2 + H2O
2CH3COOH + MgCO3 —> (CH3COOH)2Mg + CO2 + H2O
1. giải thích hiện tượng sử dụng nước khoan giếng: nước khoan giếng thường là nước cứng, chứa các muối Ca(HCO3)2 và Mg(HCO3)2. Khi đun sôi, các muối này bị nhiệt phân tạo thành kết tủa trắng ( cặn ) bám vào đáy ẩm.
Pt : Ca(HCO3)2 —> CaCO3 kết tủa + CO2 + H2O
Mg(HCO3)2 —> MgCO3 kết tủa + CO2 + H2O
2. giải thích hiện tượng việc dùng giấm ăn : giấm ăn có chứa acid axetic (CH3COOH). Acid này phản ứng với các muối cacbonat không tan (CaCO3, MgCO3) tạo thành các muối tan, khiến cặn dần tan biến.
Pt : 2CH3COOH + CaCO3 —> (CH3COOH)2Ca + CO2 + H2O
2CH3COOH + MgCO3 —> (CH3COOH)2Mg + CO2 + H2O