Nguyễn Minh Vân

Giới thiệu về bản thân

Chào mừng bạn đến với trang cá nhân của Nguyễn Minh Vân
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
(Thường được cập nhật sau 1 giờ!)

Câu 1.

Trong kỷ nguyên số ngày nay, mọi thứ đều biến động, thay đổi không ngừng nghỉ. Điều đó thể hiện sự phát triển vượt bậc, sự trí thức của con người trong nhiều lĩnh vực, đặc biệt là kinh tế, công nghệ, giao lưu quốc tế. Nhưng đi đôi với điều đó, là những rủi ro của việc bảo tồn những di tích lịch sử hiện nay. "Bảo tồn" là gìn giữ, bảo vệ những giá trị còn tồn đọng, còn xót lại, phát huy nó một cách tích cực; "di tích lịch sử" là những công trình kiến trúc, địa điểm, những di sản vật thể và cả phi vật thể gắn liền với một sự kiện, nhân vật tiêu biểu trong lịch sử dựng nước, giữ nước và phát triển đất nước. Vậy "bảo tồn di tích lịch sử" là hoạt động bảo vệ, giữ gìn sự lâu dài, ổn định của các giá trị văn hóa, kiến trúc vốn có từ nhiều thế hệ. Người biết bảo tồn là người biết trân trọng, giữ gìn một cách cẩn thận, chú tâm vào nó. Người biết bảo tồn thường không khoe mẽ, không khoa trương hay không thể hiện nhiều. Vì những điều đó, họ thường được mọi người yêu quý, tín trọng. Bảo tồn di tích giúp cho người trẻ mở mang đầu óc, có những suy nghĩ khách quan và cái nhìn mở rộng, bao quát về nhiều khía cạnh, vì di tích có tính liên kết chặt chẽ với các bộ môn trong trường học. Không chỉ giúp người trẻ tôi luyện được cách ăn cách nói, rèn luyện khả năng giao tiếp, ứng xử phù hợp trong từng hoàn cảnh, nó còn giúp người trẻ biết lắng nghe, ghi nhớ những công lao xây dựng của người tạo dựng lên, sự sáng tạo và bản sắc riêng của dân tộc ta. Người trẻ còn có thể bồi đắp những phẩm chất tốt đẹp, tình cảm: lòng yêu thương, lòng kiên nhẫn, sự trân trọng, lòng biết ơn, khả năng học hỏi và hơn cả thế là tình yêu quê hương đất nước. Từ đó, họ có thể mở rộng vùng an toàn, kết nối thêm nhiều mối quan hệ bên ngoài. Bảo tồn di tích không chỉ có ý nghĩa với người trẻ, nó còn lan rộng ra cả mọi người, xã hội. Nó giúp phát triển xã hội, nhờ có những bài học kinh nghiệm sâu sắc từ những người đi trước; phát huy được sức mạnh đoàn kết của toàn dân tộc; gìn giữ kí ức, bản sắc văn hóa của dân tộc. Chắc hẳn ai trong chúng ta đều biết đến bài hát "Bắc Bling" của nghệ sĩ trẻ Hòa Minzy. Cô đã biết kết hợp dòng nhạc dân ca quan họ Bắc Ninh với dòng nhạc trẻ hiện đại, sôi động, biết viết những lời hát giới thiệu những địa điểm, thức ăn của nơi đây. Hay Christine Hà, quán quân Vua Đầu Bếp Mỹ mùa 3, cũng là người biết phát huy khía cạnh ẩm thực của người Việt. Cô đã khéo léo chế biến, trang trí những thức ăn đẹp mắt, nếm vừa gia vị bằng những đồ ăn đậm đà bản sắc Việt. Họ là một trong những tấm gương trẻ sáng ngời trong việc bảo tồn di tích lịch sử, thứ mà đã và đang giúp danh tiếng của họ ngày càng lan rộng. Tuy nhiên, bên cạnh những người có hoạt động tích cực như vậy, còn có những người lại đi ngược lại với họ. Đó là những người không biết trân trọng, còn đi phá hoại những di tích, danh lam thắng cảnh, kỳ quan ấy. Họ thường vẽ bậy lên những công trình, chê bai nghệ thuật của giá trị xưa, đi theo xu hướng trẻ, mang tính tạm thời như âm nhạc US - UK, phim ảnh Hàn Quốc, truyện tranh Nhật Bản,... Nếu không hành động kịp thời, có thể sản sinh ra một thế hệ "vô ơn", đi ngược lại với đạo đức của xã hội. Bảo tồn di tích lịch sử rất quan trọng trong việc phát triển đất nước, phát triển phẩm chất và khả năng tiềm ẩn của chúng ta. Vậy chúng ta phải làm gì để không trở thành những người như vậy, để không gia nhập vào thế hệ ấy ? Ta cần học hỏi từ những người đi trước, tham gia các hoạt động văn hóa mang tính tích cực, lắng nghe những câu chuyện lịch sử truyền cảm hứng, thúc đẩy những hoạt động mang tính phát huy những giá trị văn hóa ấy của giới trẻ trên những nền tảng mạng xã hội,... Tôi đã từng không trân trọng, thậm chí còn ngó lơ hoạt động bảo tồn này. Điều đó khiến tôi gặp không ít khó khăn trong việc kết nối, thấu hiểu mọi người xung quanh. Trong bài hát "Insant Karma" của John Lennon có câu :"Phải, chúng ta đều tỏa sáng như mặt trăng, như những vì sao và như mặt trời", sau khi nhận ra tầm quan trọng của việc bảo tồn di tích và để tạo ra nguồn ánh sáng cho đời mình, bạn và tôi cần hành động từ bây giờ để trở thành công dân mẫu mực.


Câu 2

Nhà phê bình văn học Nga Belinsky đã từng viết: "Thơ là nơi hội tụ của hình ảnh và cảm xúc, là tiếng nói chân thật của tâm hồn con người." Thơ là tiếng nói của tâm hồn, những rung động của trái tim trước cuộc sống. Bài thơ "Đồng dao cho người lớn" của Nguyễn Trọng Tạo đã giúp ta cảm nhận được vẻ đẹp của hình ảnh tượng trưng đầy ý nghĩa sâu sắc, những suy tư trăn trở cuộc sống, bài học triết lí sâu sắc về nghịch lí nhân sinh và cả cảm xúc trân trọng, cái nhìn khách quan của nhân vật trữ tình.

Nhà thơ Nguyễn Trọng Tạo sinh năm 1947 và mất năm 2019. Là người đa tài, Nguyễn Trọng Tạo vừa làm thơ, vừa sáng tác nhạc, vừa viết báo, vừa làm họa sĩ vẽ bìa sách. Trong đó, hai lĩnh vực là thi ca và âm nhạc, ở lĩnh vực nào ông cũng là người được xem là đứng ở top đầu. Nhờ vào đó, thơ ông có chút gì đó nhẹ nhàng, sâu lắng mà thắm thiết, giọng điệu thiết tha như ngân vang. Tác phẩm "Đồng dao cho người lớn" được sáng tác vào năm 1992, khi mà kháng chiến chống Mỹ vừa kết thúc, đất nước còn đang trong quá trình đổi mới. Nhan đề thi phẩm giản dị mà giàu ý nghĩa, "đồng dao" là những câu hát dân gian, những lời ru ngủ dành cho trẻ con, ấy thế mà nhan đề lại để "cho người lớn". Điều này thể hiện sự sáng tạo độc đáo của nhà thơ, sử dụng nghệ thuật đối lập độc đáo để chuyển tải những triết lí sâu sắc: Nói cuộc đời phức tạp đầy mâu thuẫn, giúp người lớn nhìn lại bản thân và cuộc sống sau các cuộc trải nghiệm, rút ra những lỗi lầm của bản thân, những khiếm khuyết và phẩm chất cần có để thành công trên đường đời.

Đoạn thơ đầu mở ra một thế giới đầy những nghịch lý và suy tưởng, nơi ranh giới giữa thực và ảo, giữa sự sống và cái chết trở nên mong manh hơn bao giờ hết:

" có cánh rừng chết vẫn xanh trong tôi
 có con người sống mà như qua đời

 có câu trả lời biến thành câu hỏi
 có kẻ ngoại tình ngỡ là tiệc cưới

 có cha có mẹ có trẻ mồ côi
 có ông trăng tròn nào phải mâm xôi"

Ngay từ câu thơ đầu tiên, hình ảnh đối lập cánh rừng tuy đã chết nhưng vẫn "xanh trong tôi" đã chạm vào tầng sâu nhất của ký ức: đó là những vết thương, những đổ vỡ đã lụi tàn về mặt vật chất, không còn hiện hữu nhưng vẫn ám ảnh, vẫn "xanh" tươi và hiện hữu trong tâm thức của con người. Nỗi đau ấy song hành cùng một bi kịch hiện sinh khác: "có con người sống mà như qua đời" - một hình ảnh không khác nào có những người đã chết trong tâm hồn, chỉ như hồn ma vất vưởng, chỉ biết tồn tại trên thế gian mà không cống hiến, không đóng góp cho cuộc sống. Đó là tiếng thở dài cho những tâm hồn đã đánh mất ngọn lửa đam mê, mỏi mệt bước qua ngày tháng, chỉ biết nhìn lại thời huy hoàng trong quá khứ. Sự bế tắc tiếp tục được đẩy lên cao khi niềm tin bị lung lay, nơi "câu trả lời biến thành câu hỏi". Câu trả lời vốn là để giải đáp những thắc mắc, vướng mắc trong cuộc sống, vậy mà giờ đây nó lại thành vấn đáp, dấu hỏi để lại cho thế giới. Điều đó thể hiện một vòng lặp không có hồi kết, cứ lặp đi lặp lại như vậy. Không chỉ dừng lại ở nội tâm, lăng kính cá nhân của tác giả còn lia ra những bi kịch của các mối quan hệ xã hội và sự thật trần trụi. Hình ảnh kẻ ngoại tình "ngỡ là tiệc cưới" là một sự mỉa mai cay đắng về sự ngộ nhận trong tình cảm, nơi người ta lầm tưởng những vụng trộm, tội lỗi là bến bờ hạnh phúc đích thực. Nhịp thơ bỗng chùng xuống, nghẹn ngào khi chạm đến những thân phận đời thường: "có cha có mẹ có trẻ mồ côi" — một sự đối lập xót xa đặt ngay cạnh nhau: Có đứa trẻ có cả cha cả mẹ, có đứa trẻ thì lại không còn ai, không còn nơi nương tựa, máu mủ ruột thịt nào bên cạnh. Điều đó nhắc nhở về những khoảng trống không thể lấp đầy của tình thương, không ai có thể sưởi ấm lại trái tim đã nguội lạnh trong tâm hòn trẻ thơ. Để rồi, đoạn thơ khép lại bằng một hình ảnh nhân hóa vừa ngây ngô vừa thức tỉnh: "có ông trăng tròn nào phải mâm xôi". Biện pháp tu từ nhân hóa "ông trăng" giúp cho câu thơ thêm sinh động, gợi hình gợi cảm, gần gũi với con người. Nó thể hiện có một sự lôi kéo ta về với thực tại, rũ bỏ những ảo tưởng thực dụng để trả vầng trăng về đúng vẻ đẹp lãng mạn, nguyên bản của nó. Sự tương đồng này cũng thể hiện trong bài "Ánh trăng" của Nguyễn Duy:

"Ngửa mặt lên nhìn mặt
có cái gì rưng rưng
như là đồng là bể
như là sông là rừng".

Tác giả không phán xét, không bi lụy, mà chỉ bình thản điểm danh những sự thật của cuộc đời. Nhà thơ Tố Hữu đã từng nhận định: "Thơ là tấm gương phản chiếu của tâm hồn", đoạn thơ như một tấm gương soi, buộc mỗi chúng ta phải đối diện với những đổ nát bên trong mình để học cách bao dung và thấu hiểu cuộc sống hơn.

Trong tác phẩm "Tùy viên thi thoại", nhà phê bình Viên Mai đã viết: "Thơ do cái tình sinh ra, và đó phải là tình cẩm chân thật". Khi tình cảm mãnh liệt thôi thúc, thi sĩ mượn đoạn thơ để bộc lộ tiếng lòng. Nếu đoạn thơ trước là những nghịch lý gai góc của nhân sinh, thì sáu câu thơ sau lại là một bản ca đầy bi tráng của sự bao dung và cái nhìn thấu hồng trần về sự hữu hạn của kiếp người giữa dòng chảy vĩnh hằng của vũ trụ, đồng thời thể hiện tấm lòng sâu sắc và cái nhìn bao quát của tác giả:

" có cả đất trời mà không nhà cửa
 có vui nho nhỏ có buồn mênh mông

 mà thuyền vẫn sông mà xanh vẫn cỏ
 mà đời vẫn say mà hồn vẫn gió

 có thương có nhớ có khóc có cười
 có cái chớp mắt đã nghìn năm trôi."

Đoạn thơ mở đầu bằng một hình ảnh mang đầy tính biểu tượng, tượng trưng: "có cả đất trời mà không nhà cửa". Đây không phải là sự nghèo khó về vật chất, mà là một tâm thế tự tại, một sự giải thoát khỏi những ràng buộc sở hữu. Khi con người không còn chấp niệm vào một mái nhà cụ thể, họ bước ra khỏi vùng an toàn, đi đến những chân trời mới, họ có thể sở hữu cả thế gian; tâm hồn trở nên rộng lớn đến mức lấy đất làm chiếu, lấy trời làm màn. Tuy nhiên, cái rộng lớn ấy không khỏa lấp được những rung cảm tinh tế của trái tim: "có vui nho nhỏ có buồn mênh mông". Sự tương phản giữa cái "nho nhỏ" của niềm vui và cái "mênh mông" của nỗi buồn phác họa chân thực diện mạo của cảm xúc con người—niềm vui thường ngắn ngủi, trong khi nỗi buồn luôn có xu hướng lan rộng, bao quát, bao trùm lấy không gian và thời gian. Điều này thể hiện cuộc sống mang đầy tính thử thách, sự thách thức, khó khăn. Điểm sáng của đoạn thơ nằm ở điệp từ "mà" đầy kiên định: "mà thuyền vẫn sông mà xanh vẫn cỏ / mà đời vẫn say mà hồn vẫn gió". Mặc kệ những biến động, những nghịch lý hay nỗi buồn mênh mông, thế giới vẫn vận hành theo quy luật tự nhiên của nó. Sông vẫn chảy, cỏ vẫn xanh, và con người vẫn phải sống trọn vẹn với sự "say" của đời, với sự phóng khoáng "gió" của hồn. Đó là một thái độ sống tích cực, chấp nhận mọi hỉ nộ ái ố như một phần tất yếu của cuộc chơi nhân gian. Câu kết "có cái chớp mắt đã nghìn năm trôi" là một cú chạm trực diện vào sự vô thường. Khoảng thời gian nghìn năm ấy là khoảng thời gian rất dài, trải qua nhiều kiếp người, nhiều thế hệ, thậm chí có thể là quá trình phát triển của đất trời. Tác giả đã nén lại toàn bộ lịch sử, toàn bộ kiếp người vào một khoảnh khắc ngắn ngủi nhất của sinh học - một cái chớp mắt. Cái chớp mắt ấy xóa nhòa ranh giới giữa khoảnh khắc và vĩnh cửu, nhắc nhở chúng ta rằng cuộc đời dù có thương, có nhớ, có khóc, có cười thì cũng chỉ là một vệt sáng băng qua bầu trời thời gian.

"Với thơ, gốc là tình cảm, mầm lá là ngôn ngữ, hoa là âm thanh, quả là ý nghĩa" (Bạch Cư Dị)... Vẻ đẹp của một tác phẩm thơ ca được tạo nên bởi sự kết hợp giữa nội dung tư tưởng và nghệ thuật ngôn từ. Nhà thơ Nguyễn Trọng Tạo đã viết nên tiết lí nhân sinh sâu sắc qua hình thức nghệ thuật đặc sắc, nhiều hình ảnh biểu tượng sâu sắc. Thể thơ tự do với cách gieo vần và ngắt nhịp linh hoạt, chỗ 4/4, chỗ 2/2/2/2, chỗ thì 3/3/2; cấu tứ thơ độc đáo; ngôn ngữ giản dị mà hàm súc; những hình ảnh thơ gợi hình mà gợi cả. Sự kết hợp bút pháp trữ tình mà lãng mạn, phép liệt kê, phép nhân hóa,... Đặc biệt là phép điệp từ "có" xuyên suốt bài thơ kết hợp với nhiều hình ảnh đối lập đã tạo nên một cái rất riêng cho bài thơ, đã trổ thành phương tiện nghệ thuật để tác giả cho người đọc thấy nhiều khía cạnh của cuộc sống, những bài học kinh nghiệm sâu sắc, cái nhìn bao quát ,... Nguyễn Trọng Tạo đã thể hiện được hành trình sáng tạo ngôn ngữ khi kiến tạo hình ảnh tứ thơ, để khắc họa về bức tượng đài trong Thơ mới.

Nhà thơ như một kiến trúc sư kiến tạo vẻ đẹp của cuộc sống qua vẻ đẹp của cuộc sống qua vẻ đẹp ấy. Bài thơ "Đồng dao cho người lớn' cũng dược thêu dệt ngôn ngữ hàm súc, giản dị mà lắng đọng. Tác giả đã viết về hiện thực cuộc sống, khía cạnh cuộc sống và cả những khó khăn, thử thách luôn hiện hữu trong cuộc sống bằng hình ảnh thơ đặc sắc. Cùng viết về đề tài cuộc sống như: "Tự sự" (Lưu Quang Vũ), "Chồi biếc" và "Lời ru trên mặt đất"( Xuân Quỳnh),... nhưng Nguyễn Trọng Tjo vẫn tự khơi lấy một dòng sóng nghệ thuật cho riêng mình.

"Thơ là một bông hoa trong khu vường của ngôn từ". Mỗi áng thơ giống như một bông hoa đẹp bởi tiếng lòng của tác giả được hóa thân thành những hình ảnh thơ gợi cảm. Đọc bải thơ "Đồng dao cho người lớn", ta cũng cảm nhận được tâm hồn của Nguyễn Trọng Tạo được thể hiện qua vẻ đẹp của nghệ thuật ngôn từ. Với nhiều nghệ thuật được kết hợp với nhau và nội dung tư tưởng sâu sắc, triết lí nhân sinh, bài thơ "Đồng dao cho người lớn" sẽ mãi được các thế hệ sau biết đến.

Câu 1. Văn bản trên thuộc kiểu văn bản thông tin

Câu 2. Đối tượng thông tin được đề cập đến trong văn bản là: Vạn Lý Trường Thành ở Trung Quốc

Câu 3. - Những dữ liệu mà tác giả đưa ra trong văn bản là dữ liệu thứ cấp.

- Ví dụ chứng minh:

+ "Được xây dựng vào thế kỷ thứ 2 trước Công nguyên dưới thời Tần Thủy Hoàng, cho tới nay, công trình kỳ vĩ nhất Trung Quốc này đã có tuổi đời hơn 2.300 năm" .

+ "Trước thời gian đại dịch Covid-19 bùng phát, tại những khu vực phổ biến trên Vạn Lý Trường Thành có thể đón tới 30.000 du khách tới tham quan mỗi ngày và hơn 10 triệu lượt khách mỗi năm".

+ "Trên thực tế, theo Daily mail, tổng chiều dài của Vạn Lý Trường Thành ở Trung Quốc, được xây dựng trong các triều đại khác nhau là 21.196,18 km."

Câu 4. - Giao tiếp phi ngôn ngữ được sử dụng trong văn bản là: Hình ảnh Vạn Lý Trường Thành được cung cấp trong văn bản.

- Tác dụng:
+ Giúp văn bản thêm sinh động, gợi hình gợi cảm, thu hút, thuyết phục hơn, người đọc có thể hình dung và tưởng tượng được hình ảnh của Vạn Lý Trường Thành; giúp thông tin được truyền tải hiệu quả.

+ Thể hiện sự kì vĩ, to lớn, tuyệt đẹp, chiều dài lịch sử của phong cảnh Vạn Lý Trường Thành rộng lớn, dài vô tận. Đồng thời, nó còn thể hiện sự sáng tạo độc đáo, cái nhìn thẩm mỹ, và công sức to lớn của nhân loại nói chung và con người Trung Quốc nói riêng.

+ Tác giả thể hiện thái độ trân trọng, kính mến và yêu quý kỳ quan này. Không chỉ vậy, tác giả còn truyền tải thông điệp sâu sắc: Hãy giữ vững, duy trì, bảo tồn những giá trị của Vạn Lý Trường Thành.

Câu 5.

- Văn bản "Những sự thật về Vạn Lý Trường Thành, “bức tường” bí ẩn nhất nhân loại" đã cho em thấy được những điều sau:
+ Những sự thật của Vạn Lý được trình bày khách quan, xác thực, dựa trên dữ liệu cụ thể, giúp người đọc tin tưởng vào thông tin được cung cấp.

+ Thông tin về một trong những kỳ quan thế giới được cung cấp chi tiết, rõ ràng thông qua cách kể, tả, những dữ liệu được cung cấp từ các trang báo và tổ chức quốc tế, kết hợp địa lí lẫn lịch sử làm cho đối tượng hiện lên sinh động, dễ hình dung.

+ Văn bản làm nổi bật vai trò, ý nghĩa của đối tượng trong đời sống: Thể hiện sự sáng tạo độc đáo không có điểm dừng, góc nhìn thẩm mỹ đầy tinh tế của con người; thể hiện khả năng bền bỉ, sức khỏe kiên cường của những người đã tạo dựng lên nó. Nó còn là niềm tự hào của người Trung Quốc, là kỳ quan của thế giới đáng được tôn vinh và trân trọng.

+  Văn bản còn thể hiện quan điểm khách quan, thái độ yêu mến, trân trọng của người viết đối với đối tượng, đưa ra bài học mọi người nên bảo tồn, duy trì những giá trị còn xót lại ấy, không nên phá hoại hay gạch bỏ nó.