Tạ Thị Nhung
Giới thiệu về bản thân
Câu 1:
-Văn bản trên thuộc kiểu văn bản thông tin
Câu 2:
- Đối tượng thông tin chính là Vạn Lý Trường Thành– công trình kiến trúc nổi tiếng của Trung Quốc.
Câu 3:
- Những dữ liệu mà tác giả đưa ra trong văn bản là dữ liệu thứ cấp, vì được tổng hợp từ các nguồn khác.
- Ví dụ:
+ “theo unesco cho thấy gần một phần ba công trình này đã biến mất.”
+ “theo daily mail, tổng chiều dài của vạn lý trường thành là 21.196,18 km.”
→ các thông tin này được trích dẫn từ tổ chức, báo chí nên là dữ liệu thứ cấp
câu 4.
-Phương tiện giao tiếp phi ngôn ngữ được sử dụng trong văn bản là:
+ Số hiệu từ 1 đến 10: ''1'' , ''2'' ...., ''10''
+ ''140 km'' , ''những năm 1930'' , ''21.196,18 km''
- Tác dụng:
+ Việc trích dẫn số liệu làm tăng tính thuyết phục cho thông tin tác giả trình bày tạo sự tin cậy với độc giả khiến đoạn văn thêm trực quan sinh động, hấp dẫn, thu hút người đọc tạo ấn tượng, sự chú ý, giúp người đọc dễ theo dõi nội dung, làm nổi bật từng thông tin quan trọng, tạo bố cục rõ ràng, mạch lạc và khoa học.
+ Nhấn mạnh sự kỳ vĩ, hào hùng, to lớn, hoành tráng của Vạn Lý Trường Thành.
Câu 5
Văn bản giúp em hiểu rõ hơn về vạn lý trường thành – không chỉ là một công trình kiến trúc vĩ đại mà còn là biểu tượng của lịch sử, văn hóa và sức lao động của con ngườiua đó, em cảm thấy khâm phục sự sáng tạo và ý chí bền bỉ của con người xưa, đồng thời ý thức hơn về việc bảo tồn các di sản văn hóa của nhân loại.
Câu 1:
Nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm từng viết:
''Em ơi em đất nước là máu xương của mình
Phải biết gắn bó và san sẻ
Phải biết hóa thân cho dáng hình xứ sở
Làm nên Đất Nước muôn đời'' .
Sự ''hóa thân'' đấy không đâu xa xôi mà nằm ngay trong ý thức bảo vệ từng mét tường thành, từng ngôi đền cổ - những di sản đã cùng dân tộc đi qua bao thăng trầm dâu bể. Việc bảo tồn di tích lịch sử không chỉ là trách nhiệm của những người đã khuất mà còn là sự chuẩn bị hành trang tinh thần vững chãi cho thế hệ mai sau. ''Bảo tồn'' là giữ nguyên yếu tố gốc của di tích, không làm thay đổi đặc điểm lịch sử và phục hồi những phần bị hư hỏng. ''Di tích lịch sử'' không chỉ là những công trình cổ kính nhuốm màu thời gian mà còn là nơi lưu giữ ký ức, tâm hồn và bản sắc của cả một dân tộc. Mỗi viên gạch, mỗi dấu tích còn lại đều kể cho chúng ta nghe về những năm tháng hào hùng hoặc những câu chuyện văn hóa đầy ý nghĩa. Thế nhưng, giữa cuộc sống hiện đại, khi con người ngày càng bận rộn và chạy theo sự phát triển, nhiều di tích lại đang bị lãng quên, thậm chí bị tàn phá bởi chính bàn tay con người. Những hành động như xả rác, vẽ bậy hay thiếu ý thức khi tham quan đã vô tình làm phai nhạt đi vẻ đẹp vốn có của các di sản quý giá ấy. Chính vì vậy, việc bảo tồn di tích lịch sử trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết. Đó không chỉ là việc giữ gìn một công trình, mà còn là gìn giữ cội nguồn và lòng tự hào dân tộc. Mỗi người cần học cách trân trọng quá khứ, nâng cao ý thức bảo vệ di sản từ những hành động nhỏ nhất. Thanh niên thời đại mới cần biết ứng dụng công nghệ để phục dựng nguyên trạng di tích bị hư hại. Chúng ta cần chung tay xây dựng các tour tham quan thực tế ảo giúp mọi người tiếp cận di sản từ xa giảm áp lực lên xi tích thật nhưng vẫn lan tỏa được giá trị văn hóa. Đồng thời, các cơ quan chức năng cũng cần có biện pháp bảo vệ, trùng tu hợp lý để di tích không bị mai một theo thời gian. Ngoài ra cần hợp tác với các tổ chức như Unesco để nhận hỗ trợ về vốn kỹ thuật và sự công nhận quốc tế, giúp nâng cao vị thế di sản. Bảo tồn di tích không phải là câu chuyện trên lý thuyết. Hãy nhìn vào sự hồi sinh của Điện Kiến Trung ( Huế ) sau gần một thế kỷ điêu tàn, ta mới thấy giá trị của việc nâng niu từng mảnh vở lịch sử. Hay sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa bảo tồn và du lịch tại Hội An chính là lời khẳng định di sản không phải là gánh nặng của quá khứ mà là tài sản vô giá cho tương lai. Bảo tồn không có nghĩa là giữ nguyên sự nghèo nàn, lạc hậu mà chọn lọc những giá trị tinh hoa để làm nền tảng cho sự phát triển bền vững. Ta cần phê phán những cá nhân luôn chạy theo xu hướng thời đại mới mà quên đi những giá trị truyền thống, di tích cội nguồn. Thanh niên thời đại mới cần góp phần bằng cách cư xử văn minh, giữ gìn cảnh quan khi đến các khu di tích và lan tỏa ý thức đó đến mọi người xung quanh. Trong bài hát ''Khát vọng'' của nhạc sĩ Phạm Minh Tuấn có câu: ''Hãy sống như đời sông, để biết yêu nguồn cội''... cội nguồn ấy hiện diện ngay trong từng mái đình, bờ thành rêu phong. Trách nhiệm của chúng ta hôm nay là giữ cho ngọn lửa lịch sử ấy luôn cháy sáng để hồn thiêng sông núi mãi là điểm tựa vững chãi cho khát vọng vươn xa của dân tộc Việt Nam.
Câu 2:
Nhà phê bình văn học Chu Văn Sơn từng nhận định: “Thơ là thư ký của tâm hồn, nhưng cũng là nhân chứng của thời đại.” Có những vần thơ ra đời không chỉ để ngâm vịnh, mà để thức tỉnh con người giữa những mê lộ của cuộc đời. Một trong những tiếng thơ đầy ám ảnh và trăn trở như thế chính là “Đồng dao cho người lớn” của Nguyễn Trọng Tạo. Mượn hình thức đồng dao hồn nhiên của trẻ nhỏ, tác giả đã dệt nên một bản nhạc trầm luân về những nghịch lý, những đánh đổi và khát vọng tìm về bản ngã lương thiện giữa cõi nhân gian đầy biến động.
Nguyễn Trọng Tạo được mệnh danh là một nghệ sĩ đa tài, một "gã lãng tử" trong làng nghệ thuật Việt Nam. Thơ ông là sự hòa quyện giữa nét hào hoa, lãng tử với những chiêm nghiệm sâu sắc về thân phận con người. Ông thường khai thác những chất liệu dân gian nhưng thổi vào đó hơi thở của thời đại, tạo nên một giọng điệu vừa quen thuộc vừa lạ lẫm, vừa hồn nhiên vừa đầy xót xa. Bài thơ '' Đồng dao cho người lớn'' ra đời vào những năm đầu thập niên 90 – giai đoạn xã hội đang có nhiều biến chuyển về giá trị sống. Nhan đề độc đáo tạo nên một sự nghịch lý đầy chủ ý. Nó cho thấy tác giả muốn mượn hình thức giản đơn để nói về những vấn đề phức tạp, mượn cái trong trẻo để gột rửa những bụi bặm của cuộc đời. Bài thơ như một bản tổng kết về những được - mất, đúng - sai, những phù hoa và thực tại trong kiếp nhân sinh. Qua những hình ảnh như "có - không", "thắng - thua", "vinh - nhục", tác giả thức tỉnh con người hãy biết trân trọng những giá trị bền vững như lòng nhân hậu, sự bao dung và tình yêu thương giữa người với người.
Bài thơ ''Đồng dao cho người lớn'' mang nội dung tư tưởng sâu sắc vì đã khắc họa bức tranh nhân sinh nghịch lý, bài thơ vẽ ra những nghịch cảnh, sự phi lý của đời sống:
'' có cánh rừng chết vẫn xanh trong tôi
có con người sống mà như qua đời...''
Điệp từ ''có'' tạo nhịp điệu nhanh, mạnh, liên tiếp trút ra những sự thật, nghịch cảnh. Hình ảnh “cánh rừng chết vẫn xanh” là biểu tượng cho những kỷ niệm, những giá trị tinh thần dẫu đã lùi vào quá khứ nhưng vẫn vẹn nguyên trong ký ức. Đối lập với đó là hình ảnh “sống mà như qua đời” – một lời phê phán trực diện lối sống mòn, sống vô cảm, đánh mất đi linh hồn và nhiệt huyết. Tác giả đã dùng cái chết của thiên nhiên để đối sánh với cái chết trong tâm hồn con người, tạo nên một nỗi ám ảnh khôn nguôi. Bài thơ tiếp tục xoáy sâu vào sự đảo lộn của các giá trị và những thực tế phũ phàng:
"có câu trả lời biến thành câu hỏi
có kẻ ngoại tình ngỡ là tiệc cưới..."
Cuộc sống không phải bao giờ cũng vận hành theo lẽ thuận chiều. Có những chân lý bị nghi ngờ, có những sai lầm bị ngộ nhận là hạnh phúc. Tác giả mượn hình ảnh “tiệc cưới” và “ngoại tình” để nói về sự nhầm lẫn giữa giá trị ảo và thực, giữa phù hoa nhất thời và hạnh phúc bền vững. Tiếp đó, các hình ảnh đối lập như “trẻ mồ côi” – “mâm xôi”, “đất trời” – “không nhà cửa” hiện lên như một bức tranh hiện thực về những số phận bất hạnh, những nghịch cảnh trớ trêu giữa một thế giới rộng lớn. Nếu nhà phê bình Diệp Tiếp viết: ''Thơ là tiếng lòng'' thì đọc những vần thơ mang cảm hứng sử thi lãng mạn ấy, người đọc cũng cảm nhận được tiếng lòng xót thương, đau đớn.
Khổ thơ tiếp theo người đọc về với những hình ảnh gần gũi nhưng đầy ám ảnh về sự thiếu hụt và mất mát:
'' có cha có mẹ có trẻ mồ côi
có ông trăng tròn nào phải mâm xôi...''
Dưới cái nhìn của Nguyễn Trọng Tạo, cuộc đời là một sự tổng hòa của những mảnh ghép không trọn vẹn. Ngay cả hình ảnh "ông trăng tròn" – biểu tượng của sự viên mãn – cũng bị tác giả phủ định bằng hình ảnh "nào phải mâm xôi" để thức tỉnh con người khỏi những ảo tưởng vật chất, thực dụng. Đặc biệt, cảm xúc của con người được đúc kết qua cặp phạm trù: "có vui nho nhỏ có buồn mênh mông". Cách dùng từ “nho nhỏ” đối với niềm vui và “mênh mông” đối với nỗi buồn cho thấy cái nhìn thấu đáo của một tâm hồn từng trải. Niềm vui thì ngắn ngủi, bình dị, còn nỗi sầu nhân thế thì luôn vây bọc, bao la.
Tuy nhiên, vượt lên trên những bi kịch và nghịch lý, bài thơ vẫn giữ được nhịp điệu bình thản, điềm nhiên:
"mà thuyền vẫn sông mà xanh vẫn cỏ
mà đời vẫn say mà hồn vẫn gió..."
Nhịp điệu thơ có sự chuyển đổi linh hoạt qua điệp từ ''mà''. Dù cuộc đời có bao nhiêu nghịch lý, bao nhiêu nỗi đau "buồn mênh mông", thì dòng chảy tự nhiên vẫn tiếp diễn. Thuyền vẫn gắn với sông, cỏ vẫn xanh, và con người vẫn phải tiếp tục sống, tiếp tục "say" với đời, giữ cho tâm hồn được tự do như gió. Đây chính là tinh thần lạc quan, là bản lĩnh của con người trước những bão giông của số phận. Điệp từ “vẫn” khẳng định sức sống bất diệt của thiên nhiên và bản lĩnh của con người. Dẫu đời có xoay vần, thuyền vẫn phải gắn với sông, cỏ vẫn giữ màu xanh hy vọng. Đó là sự hòa giải với định mệnh, là thái độ sống tích cực: giữ cho tâm hồn luôn phóng khoáng như gió, nồng nàn như men say để bước qua những khổ đau. Khổ thơ cuối khép lại bài thơ bằng một nhận thức sâu sắc về thời gian:
"có thương có nhớ có khóc có cười
có cái chớp mắt đã nghìn năm trôi."
Cuộc đời là tập hợp của mọi cung bậc cảm xúc: bi, hoan, ly, hợp. Nhưng tất cả những cảm xúc mãnh liệt ấy cuối cùng cũng chỉ gói gọn trong một "cái chớp mắt". Hình ảnh so sánh "cái chớp mắt" với "nghìn năm" cho thấy sự hữu hạn, ngắn ngủi của đời người trong dòng chảy vĩnh hằng của thời gian.
Nhà thơ Bạch Cư Dị quan niệm: ''Với thơ gốc là tình cảm, mầm lá là ngôn ngữ, hoa là âm thanh, quả là ý nghĩa''. Vẻ đẹp của một phẩm thơ ca được tạo nên bởi sự kết hợp giữa nội dung tư tưởng và nghệ thuật ngôn từ. Nhà thơ Nguyễn Trọng tạo đã gửi gắm những chiêm nghiệm sâu sắc về kiếp người và sự bất diệt của tâm hồn qua hình thức nghệ thuật đặc sắc: thể thơ đồng dao tạo nhịp điệu dồn dập vừa quen thuộc vừa lạ lẫm; biện pháp đối lập, điệp cấu trúc nhấn mạnh những nghịch lý và sự đa diện của cuộc sống; ngôn ngữ giản dị nhưng giàu tính biểu tượng, gợi lên nhiều tầng, nghĩa sâu xa. Sự kết hợp giữa bút pháp hiện thực và giọng điệu riêng, dấu vân chữ không trộn lẫn đã trở thành phương tiện nghệ thuật để tác giả nhắc nhở, khuyên con người hãy biết chấp nhận những mặt trái của cuộc đời, trân trọng những giá trị tinh thần cốt lõi và sống trọn vẹn trong từng khoảnh khắc, bởi giữa nhân gian đầy biến động này, mọi thứ có thể trôi qua trong một cái chớp mắt. ''Làm thơ là tạo ra một hành tinh thứ 2 bằng ngôn ngữ'' (Chế Lan Viên)... Nguyễn Trọng Tạo đã thể hiện được hành trình sáng tạo ngôn ngữ đầy công phu của mình khi kiến tạo hình ảnh thơ đặc sắc để phác họa những chiêm nghiệm sâu sắc về kiếp người và sự bất diệt của tâm hồn.
Khép lại những dòng "đồng dao" đầy trăn trở, ta chợt nhận ra cuộc đời dù đầy rẫy nghịch lý và những "cái chớp mắt" vô thường, nhưng tình yêu và sự bao dung vẫn là sợi dây níu giữ con người với cuộc sống. Đúng như cố nhạc sĩ Trịnh Công Sơn từng viết: "Sống trên đời sống cần có một tấm lòng/ Để làm gì em biết không? Để gió cuốn đi...". Những vần thơ của Nguyễn Trọng Tạo cũng vậy, chúng như cơn gió của tâm hồn, cuốn đi những phù phiếm để để lại trong ta sự tĩnh lặng, thấu hiểu và một cái nhìn nhân hậu hơn với cuộc đời đầy biến động này.