Hoàng Ngọc Hiếu

Giới thiệu về bản thân

Chào mừng bạn đến với trang cá nhân của Hoàng Ngọc Hiếu
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
(Thường được cập nhật sau 1 giờ!)
Liên kết kim loại: Là loại liên kết được hình thành giữa các nguyên tử và ion kim loại trong mạng tinh thể do sự tham gia của các electron tự do. Các electron này chuyển động tự do trong toàn bộ mạng tinh thể, gắn kết các ion dương kim loại lại với nhau.
Đặc điểm tinh thể kim loại:
Cấu tạo từ các nguyên tử và ion kim loại nằm ở các nút mạng.
Các electron hóa trị liên kết yếu với hạt nhân nên dễ tách ra khỏi nguyên tử và chuyển động tự do trong mạng tinh thể (gọi là electron tự do).
Có ba kiểu mạng tinh thể phổ biến: Lập phương tâm khối, lập phương tâm diện và lục phương

Câu 1: Từ hiện tượng "tiếc thương sinh thái" trong văn bản đọc hiểu, ta nhận ra bảo vệ môi trường không còn là một khẩu hiệu xa vời mà đã trở thành nhiệm vụ sống còn để bảo vệ chính sự sống và tâm hồn con người. Môi trường tự nhiên chính là cái nôi nuôi dưỡng và cung cấp mọi điều kiện thiết yếu cho sự tồn tại của nhân loại: từ không khí để thở, nước để uống đến tài nguyên để phát triển kinh tế. Khi thiên nhiên bị tàn phá, con người không chỉ đối mặt với thảm họa thiên tai, dịch bệnh mà còn chịu tổn thương sâu sắc về mặt tinh thần, rơi vào trạng thái khủng hoảng hiện sinh khi mất đi sợi dây kết nối với nguồn cội. Bảo vệ môi trường, vì vậy, chính là bảo vệ nền tảng sức khỏe thể chất và cân bằng tâm lí của chúng ta. Hơn thế nữa, hành động này còn thể hiện trách nhiệm đạo đức của thế hệ hôm nay đối với tương lai mai sau, nhằm giữ lại một hành tinh xanh nguyên vẹn thay vì một đống hoang tàn. Đã đến lúc chúng ta cần chấm dứt thái độ thờ ơ, thay bằng những hành động thiết thực từ việc nhỏ nhất như giảm thiểu rác thải nhựa đến những chiến dịch lớn như trồng cây gây rừng. Đừng để nỗi "tiếc thương" muộn màng trở thành bản án cho nhân loại, bởi cứu lấy môi trường chính là cứu lấy chính mình.

Câu2 :

Lịch sử văn học Việt Nam từng chứng kiến những giai đoạn đầy biến động, nơi các bậc trí thức chọn cách lui về ẩn dật để giữ trọn cốt cách thanh cao. "Nhàn" của Nguyễn Bỉnh Khiêm và "Thu vịnh" của Nguyễn Khuyến là hai bức tranh tiêu biểu khắc họa hình tượng người ẩn sĩ ở hai thời đại khác nhau. Qua việc so sánh hai thi phẩm, ta không chỉ thấy vẻ đẹp của lối sống lánh đục tìm trong mà còn cảm nhận được nỗi niềm u uẩn của các nhà thơ trước thời cuộc.

Trước hết, hình tượng người ẩn sĩ ở cả hai bài thơ đều gặp nhau ở lối sống gắn bó tha thiết với thiên nhiên và thái độ khước từ danh lợi. Ở bài "Nhàn", trạng trình Nguyễn Bỉnh Khiêm hiện lên với dáng vẻ mộc mạc, tự tại: "Một mai, một cuốc, một cần câu". Ông chọn cuộc sống thuần hậu của một lão nông, ăn những thức quà dân dã của bốn mùa (măng trúc, giá, hồ sen), tự tách mình ra khỏi vòng xoáy “lao xao” của chốn quan trường để tìm về “nơi vắng vẻ”. Tâm thế ấy thể hiện một trí tuệ triết lí uyên thâm, coi phú quý chỉ như một giấc chiêm bao. Đến với "Thu vịnh", người ẩn sĩ Nguyễn Khuyến lại xuất hiện trong một không gian thu tĩnh lặng, thanh sơ mang đậm phong vị làng quê Bắc Bộ. Từ màu “xanh ngắt” của trời thu, “cần trúc lơ phơ” đến mặt nước mờ sương như “tầng khói phủ”, tất cả đều thể hiện một tâm hồn tinh tế, nhạy cảm, hòa nhịp tuyệt đối với thiên nhiên. Cả hai ông đều giữ cho mình sự tự do nội tại, không bị ràng buộc bởi bả vinh hoa.

Tuy nhiên, do hoàn cảnh lịch sử và vị thế cá nhân khác nhau, sắc thái tâm trạng của hai người ẩn sĩ có sự khác biệt rõ nét. Ở "Nhàn", người ẩn sĩ mang phong thái ung dung, tự tại và có phần ngạo nghễ. Cái "nhàn" của Nguyễn Bỉnh Khiêm là sự chủ động lựa chọn sau khi đã thấu triệt quy luật hưng phế của cuộc đời. Ông cười cái "khôn" của người đời và tự nhận cái "dại" về mình với niềm kiêu hãnh ngầm. Ngược lại, ẩn sĩ trong "Thu vịnh" lại mang một nỗi u hoài, mặc cảm trĩu nặng. Bài thơ khép lại bằng cái giật mình thảng thốt trước tiếng ngỗng kêu và cái thẹn dâng đầy: "Nghĩ ra lại thẹn với ông Đào". Nguyễn Khuyến thẹn vì tự thấy mình không có được khí phách mạnh mẽ, dứt khoát như Đào Tiềm (người dũng cảm treo ấn từ quan chỉ sau hơn 80 ngày). Cái thẹn ấy thực chất là nỗi đau của một nhà nho yêu nước thương dân nhưng bất lực trước cảnh nước mất nhà tan dưới gót giày thực dân Pháp. Nếu Nguyễn Bỉnh Khiêm ẩn dật trong tư thế của một bậc tiên phong đạo cốt đứng ngoài thế sự, thì Nguyễn Khuyến lại ẩn dật trong nỗi dằn vặt, đau xót khôn nguôi của một "vị thần gắn bó với mảnh đất quê hương".

Sự khác biệt này xuất phát từ bối cảnh thời đại. Nguyễn Bỉnh Khiêm sống ở thế kỉ XVI khi triều đình phong kiến suy thoái nhưng đất nước vẫn độc lập. Còn Nguyễn Khuyến sống trong cảnh bi thương của thời kì đầu mất nước. Dù mang sắc thái khác nhau, cả hai hình tượng đều là những viên ngọc sáng về nhân cách, thể hiện phẩm giá cao thượng của người trí thức phong kiến Việt Nam.

Tóm lại, qua "Nhàn" và "Thu vịnh", Nguyễn Bỉnh Khiêm và Nguyễn Khuyến đã đóng góp cho văn học dân tộc những bức chân dung bất hủ về người ẩn sĩ. Đó không phải là sự trốn chạy hèn nhát, mà là một cách kháng cự thầm lặng để giữ gìn nhân cách trong sạch giữa một thời đại nhiễu nhương.