Dương Hải Hà
Giới thiệu về bản thân
Câu 1 :
Hàn Mặc Tử là chàng thi sĩ tài hoa được ví như "Ngôi sao xẹt qua bầu trời thi ca Việt Nam" nhưng đã kịp để lại vệt sáng lạ lùng và dữ dội. Nửa đời người chưa qua hết nhưng Hàn đã làm tròn sứ mệnh, để lại cho nền văn học việt một đời thơ giá trị. Trong kho tàng thi phẩm đặc sắc ấy phải kể đến tác phẩm "Những giọt lệ ", một tứ thơ đong đầy nghệ thuật và dạt dào cảm xúc của thi nhân, "Những giọt lệ "là tiếng lòng khắc khoải của một tâm hồn khi phải chia xa người thương mến.Thơ ca đã ra đời và song hành với nhân loại, như một phương tiện đắc lực và đầy xúc cảm, giúp con người bày tỏ nỗi niềm và đi sâu khám phá thế giới nội tâm sâu kín, bí hiểm. Thử hình dung Hàn Mặc Tử sẽ cô đơn biết bao nếu không thể trao gửi tâm tình vào nghệ thuật:
" Trời hỡi, bao giờ tôi chết đi?
Bao giờ tôi hết được yêu vì
Bao giờ mặt nhựt tan thành máu,
Và khối lòng tôi cứng tợ si? "
Hàn Mặc Tử đã thốt lên tiếng kêu đầy đau đớn, tiếng thở dài tự vấn ngay từ câu đầu tiên: " Trời hỡi, bao giờ tôi chết đi?" .Lạ thay khi một con người lại tự hỏi rằng bao giờ mình sẽ chết. Câu thơ đã phần nào làm lộ rõ tâm trạng lo âu, phấp phỏng của một con người luôn phải đối diện với nỗi ám ảnh bởi bệnh tật và cái chết - nỗi ám ảnh đã làm nên một phần thế giới nghệ thuật thơ Hàn. Câu thơ thể hiện sự tuyệt vọng khôn cùng. Không đơn thuần là những câu hỏi mà là dòng tự sự trào tuôn từ tâm hồn tác giả. Sự mất mát và nỗi đau trong tim đã khiến tác giả viết nên những câu thơ rớm máu, quằn quại nỗi tê tái, đớn đau. "Bao giờ" như một lời vang, như một tiếng hờn vang đang hòa tan trong "mặt nhựt" cuồng nộ- "mặt nhựt" đầy máu. Thực chất, ẩn đằng sau ngôn từ thẳng thừng lộ liễu ấy là mong mỏi, là khát vọng sống riết róng; ẩn đằng sau lời cự tuyệt tình yêu là trái tim rạo rực cháy bỏng vì yêu, và đằng sau sự tái tê, trơ lì về xúc cảm là một nỗi lòng đang tổn thương đến quắp queo, tàn héo. Có lẽ, lời thơ được bật ra khi tâm hồn thi sĩ đang vô cùng yếu ớt, run rẩy trong cơn tuyệt vọng. Tâm hồn thi sĩ đang chìm trong nỗi day dứt cùng cực bởi có lẽ là mình không thể sống trọn vẹn với một tâm hồn chan chứa tình yêu sôi nổi chân thành. Hẳn phải là Hàn Mặc Tử, một Hàn Mặc Tử trong lúc thống khổ dâng tràn diễn đạt thì mới viết ra được những vần thơ như thế. Dường như khi người ta đã cận kề cái chết thì khao khát sống càng mãnh liệt, và khao khát tình yêu cũng càng thêm mãnh liệt. Phép điệp "bao giờ" mở đầu cho hai câu thơ liên tiếp đã minh chứng cho điều đó. Tuy nhiên trong khao khát cũng đã ẩn chứa nỗi lo âu phấp phỏng, đau đớn và dự cảm không lành về cuộc đời ngắn ngủi. Hình ảnh trong thơ Hàn vẫn luôn thật độc đáo và ấn tượng, ta như được chiêm ngưỡng lớp ngôn từ được gọt giũa công phu: "Mặt nhựt tan thành máu". Hãy để ý một hình ảnh rất gợi trong khổ thơ: "Mặt nhựt tan thành máu" tại sao không phải sự ví von nào khác mà lại muốn mặt trời tan thành máu? Máu, hồn, trăng.. Những hình ảnh ấy ta bắt gặp với tần suất rất cao trong thơ của Hàn Mặc Tử. Phải chăng chỉ có hình ảnh của máu mới diễn tả hết nỗi đau của thi nhân? Nếu hai câu trên là những dòng trần thuật phảng phất tiếc nuối, hoài niệm thì hai câu còn lại là sự thú nhận của tác giả với chính mình về sự mất mát ấy, sự mất mát đã làm cho thi nhân yếu đuối, dại khờ, tràn lệ và ước sao cõi lòng có thể "cứng tợ si". Trong bệnh tật đớn đau và nghiệt ngã, trong tình cảnh phải cách li với cuộc đời và con người trong khi bản thân mang một lòng thiết tha với đời và với người một cách mãnh liệt, sẽ khó tránh khỏi những lần thi sĩ đau đớn vì phải chia xa. Hễ thi nhân tiễn một ai đến thăm mình về lại ngoài kia thì chẳng khác nào tiễn người từ chốn lưu đày vĩnh viễn về lại cuộc đời, thậm chí như tiễn từ cõi này về cõi khác. Một nửa hồn coi như đã chết theo, đây ắt phải là cội nguồn của những giày xéo tâm tư trong khổ thơ trước:
" Họ đã xa rồi khôn níu lại,
Lòng thương chưa đã, mến chưa bưa…
Người đi, một nửa hồn tôi mất,
Một nửa hồn tôi bỗng dại khờ."
"Họ" ở đây chính là người yêu của thi nhân, hai người đã chia tay và "họ" đã ra đi. Thế nhưng thi nhân không mong như thế, không thể an lòng mà cam chịu, Hàn vẫn muốn níu lại tình yêu. "Khôn" có ý nghĩa níu kéo, tiếc nuối (khôn nguôi), biểu cảm của một tâm tư xao động khác xa so với từ "không" vô cảm, hững hờ. Bằng tất cả sự tài năng vốn có, Hàn Mặc Tử đã diễn tả nỗi lòng của mình bằng tất thảy những câu từ đặc sắc nhất: "Thương chưa đã, mến chưa bưa". Phép điệp từ "chưa" được nhắc lại hai lần như muốn nói lên tất thảy những khắc khoải, mong chờ, tiếc nuối đến bơ vơ. Câu thơ vừa trần trụi, thực tế vừa hoài niệm khôn cùng, vừa thật thà, vừa tinh tế. Tác giả hai lần nhắc đến từ "một nửa" như muốn thể hiện sức ảnh hưởng mạnh bạo đến đời sống tâm hồn của sự mất mát, cuộc chia phôi. Đến đây, ta như tin chắc về khẳng định, những nỗi buồn cũng rất đẹp đẽ và đầy thi vị.
" Tôi vẫn còn đây hay ở đâu?
Ai đem bỏ tôi dưới trời sâu?
Sao bông phượng nở trong màu huyết,
Nhỏ xuống lòng tôi những giọt châu? "
Thi nhân bỗng trở nên băn khoăn, thảng thốt, cảm thấy như đôi chân mình đang lạc lối, vô định giữa dòng đời. Cảnh vật làm cho chúng ta thêm một lần hiểu hơn tâm hồn thi sĩ, thấu tỏ niềm khát khao kiếm tìm người tri kỷ. Nguồn cảm hứng rào rạt của thi nhân xuất phát từ tận trong đáy hồn đau khổ, tâm can giằng xé, và những vướng mắc trong lòng ấy đã được tuôn ra "khi máu cuồng rền vang dưới ngòi bút". Nó đưa ta vào một "vườn thơ rộng rinh, không bờ bến, càng đi xa càng ớn lạnh.." Đọc thơ Hàn khiến ta phải bất giác chạnh lòng thương cho một cuộc đời, cuộc tình ngang trái. Những câu hỏi tu từ được nhà thơ đặt ra liên tiếp như xoáy sâu vào tâm can người đọc, làm cõi lòng người thưởng thức như muốn quặn thắt theo từng con chữ. Cũng phải thôi! Trong lãnh cung của sự chia lìa, vốn "không có niềm trăng và ý nhạc", nên thi nhân luôn khao khát như một niềm tin cậy, một bám víu, một khát khao, một tri âm, một cứu tinh, cứu chuộc. Hình ảnh "những giọt châu màu huyết" làm lộ rõ sự u hoài, khắc khoải khiến cho ta nhận ra tất cả sự khẩn thiết của thi nhân. Khổ thơ cuối đích thị là sự diễn tả chi tiết và chân thực trạng thái thất tình của nhân vật trữ tình, từ cái nhìn thực thế đến trong cái nhìn chập chờn, mơ hồ, diệu vợi. Khổ thơ khép lại cũng là lúc khép lại bài thơ với hình ảnh "những giọt châu". Trong giờ phút đau thương ấy, tấm lòng trong thành thực nhất đã kết tinh thành những con chữ đong đầy nước mắt, thấm đẫm nỗi ám ảnh của những hạnh phúc đã xa và nỗi u hoài thực tại. Nó không còn là những giọt lệ thông thường nữa, nước mắt đã trở thành những hạt ngọc. Thi nhân quý trong những giọt nước mắt của mình, những giọt lệ cho mối tình dang dở mà người thi sĩ khổ đau ấy vẫn luôn tôn thờ. Thật đáng trân quý biết bao những giọt lệ như thế. Như vậy, với việc sử dụng nhiều biện pháp tu từ nghệ thuật đặc sắc cùng ngôn ngữ giàu sức gợi, hình ảnh thơ mang tính biểu tượng đặc sắc, Hàn Mặc Tử đã thành công khắc họa nối đau buồn tuyệt vọng khi phải chia xa người mình yêu.
Câu 2 :
Cuộc sống của chúng ta là một chuỗi những khó khăn và thử thách. Bản thân mỗi người cũng không ai là hoàn thiện cả. Nhưng dám nhìn thẳng vào sự thật, nhận ra những hạn chế của bản thân và cố gắng vươn lên, chắc chắn thành công sẽ mỉm cười với mỗi người. Ý chí mạnh mẽ và nghị lực kiên cường luôn là người bạn đồng hành trên hành trình đi đến thành công của chúng ta.
Ý chí là năng lực thực hiện những hành động có mục đích, là năng lực khắc phục những khó khăn, thử thách vươn đến thành công. Nghị lực là sức chịu đựng, sự kiên trì, bền bỉ của con người trong công việc và trong đời sống.Ý chí, nghị lực là bản lĩnh, sự dũng cảm và lòng quyết tâm cố gắng vượt qua thử thách dù khó khăn, gian khổ đến đâu để đạt được mục tiêu đề ra. Người có ý chí và nghị lực là người có ý chí sức sống mạnh mẽ, luôn kiên trì, nhẫn nại vượt qua những khó khăn, chông gai trong cuộc đời để vươn lên, khắc phục hoàn cảnh đi đến thành công.
Người có ý chí nghị lực là người có ý chí sức sống mạnh mẽ, luôn kiên trì, nhẫn nại vượt qua những khó khăn, chông gai trong cuộc đời để vươn lên, khắc phục hoàn cảnh đi đến thành công. Trong cuộc sống, chúng ta vẫn bắt gặp không ít người, không ít số phận có được nghị lực vươn lên như vậy. Hình ảnh cậu bé tàn tật vẫn lê la xung quanh khu chợ mỗi buổi chiều tà, ánh mắt cậu buồn rười rượi để bán vé số. Những bước đi nặng nề ấy giữa trưa trời nắng chang chang và tiếng rao vé số như xé lòng.
Sức mạnh của ý chí là vô cùng to lớn. Cùng với sự kiên cường của nghị lực, hai yếu tố chắp thêm đôi cánh cho ước mơ của mỗi con người. Có ý chí mạnh mẽ, lòng quyết tâm và nghị lực kiên cường, cùng với tinh thần lạc quan thì sẽ vượt qua mọi khó khăn gian khổ và dẫn đến thành công. Người có nghị lực luôn có thể chuyển rủi thành may, chuyển họa thành phúc, không khuất phục số phận và đổ lỗi thất bại do số phận. Họ luôn biết khắc phục hoàn cảnh khó khăn bằng cách tự lao động, mưu sinh, vừa học vừa làm, tự mở cho mình con đường đến tương lai tốt đẹp.Sống có ý chí và nghị lực mạnh mẽ sẽ giúp con người có đủ sức mạnh đương đầu với khó khăn, và vượt qua thử thách của cuộc sống một cách dễ dàng hơn. Người có ý chí và nghị lực luôn có niềm tin vào bản thân, tinh thần lạc quan để theo đuổi đến cùng mục đích, lí tưởng sống. Cuộc sống vốn có nhiều khó khăn, sống có nghị lực có thể làm thay đổi được hoàn cảnh số phận, cuộc sống có ích, có ý nghĩa hơn. Người có nghị lực vững vàng sẽ trở thành những tấm gương về ý chí, nghị lực vượt lên số phận. Họ luôn được mọi người ngưỡng mộ, cảm phục, đồng thời tạo được lòng tin ở người khác.
Nếu không có ý chí đủ mạnh mẽ và nghị lực bền bỉ thì làm sao Edison có thể kiên trì sáng tạo bóng đèn điện sau hàng nghìn lần thất bại; Bác Hồ Chí Minh bôn ba thế giới hơn 3 năm, vượt qua không biết bao nhiêu gian khổ m đường cứu nước; thầy Nguyễn Ngọc Ký luyện viết chữ bằng chân và trở thành nhà giáo ưu tú; Nick Vujicic người không tay không chân đã chiến thắng số phận khắc nghiệt, trở thành nhà truyền cảm hứng sống nổi ếng; Stephen Hawking, nhà khoa học nổi ếng nhất trong lịch sử nước Anh, người hầu như bị liệt toàn thân và phải giao tiếp qua một thiết bị hỗ trợ phát giọng nói trở thành thiên tài của thế kỷ. Tất cả những kì tích ấy đều nhờ vào ý chí kiên định, vững vàng, nghị lực phi thường mà có được.
Trong cuộc sống, vẫn còn có nhiều người không có ý chí, nghị lực. Họ là những người chưa làm nhưng thấy khó khăn đã nản chí, thấy thất bại thì hủy hoại và sống bất cần đời. Họ là những người có điều kiện đầy đủ nhưng không chịu học tập, buông thả, không nghĩ đến tương lai. Họ là những người khi gặp khó khăn là buông xuôi, nản chí, phó mặc cho số phận. Những người như thế thật đáng chê trách.
Cuộc sống luôn đặt ra gian nan, trở ngại để thử thách con người. Bởi vậy, không ngừng rèn luyện ý chí, nghị lực, luôn biết vươn lên, vượt qua khó khăn trong cuộc sống, bạn mới có thể vươn tới thành công. Biết chấp nhận những khó khăn, thử thách, coi khó khăn, thử thách là môi trường để tôi luyện để không bị cuộc sống đánh bại trước khi bạn kịp trưởng thành.Dù cuộc sống khó khăn có thế nào đi nữa thì chúng ta đừng nên nản lòng, hãy vững tâm bước tiếp về phía trước và khám phá bao điều còn đang chờ đợi chúng ta. Hãy dám nghĩ, dám quyết định và lựa chọn con đường đi cho chính bản thân mình, đừng nên nản lòng. Kiến thức, niềm tin, lòng nhiệt huyết và sự quyết tâm, kiên trì vượt khó sẽ là những người bạn đồng hành không thể thiếu của mỗi người chúng ta trên con đường đời ấy. “Hãy hướng về phía mặt trời, bóng tối sẽ ở phía sau lưng bạn”.Cuộc sống nhiều gian nan, thử thách thì nghị lực sống là rất quan trọng. Bạn cần phải học cách rèn luyện mình để có thể vững vàng và trưởng thành hơn sau mỗi lần vấp ngã. Hãy rèn luyện bản thân thành người có ý chí và nghị lực để vượt qua mọi chông gai và thử thách trên chặng đường dài. Không ngừng lên án, phê phán những người sống mà không có ý chí và nghị lực, không có niềm tin vào cuộc sống. Luôn học tập những tấm gương sáng để đi tới thành công.
Hầu hết những người thất bại là bởi họ thiếu ý chí chứ không phải thiếu sức mạnh. Chỉ cần có đủ ý chí, bạn sẽ vượt qua tất cả sự nặng nhọc có thể đạt được bất cứ mục tiêu nào. Hãy luôn giữ vững ý chí và nghị lực trong mọi hoàn cảnh. Lúc tâm hồn tràn đầy ánh sáng của một ý chí lớn, một nghị lực lớn, và những cái lớn này chi phối cả đời sống của mình, mọi ý nghĩ và việc làm của mình, thì tự nhiên người ta sẽ rời bỏ cái gì không xứng đáng, những cái nhỏ nhen, và sẽ thấy vui vẻ phấn chấn lạ thường.
Câu 1 :
- Những phương thức biểu đạt trong đoạn văn trên là : biểu cảm, miêu tả
Câu 2 :
- Đề tài : Nỗi buồn
Câu 3 :
- Một hình ảnh mang tính tượng trưng: hình ảnh ẩn dụ: " Mặt nhựt tan thành máu "
- Cảm nhận:
+ Đây là một hình ảnh ẩn dụ đầy sức gợi
+ Mặt trời tượng trưng cho sự sống, sự ấm áp nhưng ở đây lại " tan thành máu " - biểu tượng của sựu chết chóc, đau khổ.
+ Hình ảnh cho thấy sự tuyệt vọng đến tột cùng của tác giả, một nỗi đau đớn đến mức muốn hủy diệt cả thế giới
Câu 4 :
- Biện pháp tu từ được sử dụng trong khổ thơ cuối là:
+ Câu hỏi tu từ: Tôi vẫn còn đây hay ở đâu?/ Sao bông phượng nở trong màu huyết,/ Nhỏ xuống lòng tôi những giọt châu?
– Tác dụng:
+ Tăng sức gợi hình gợi cảm cho câu thơ.
+ Thể hiện sự bơ vơ, lạc lõng của thi nhân giữa trần thế bao la, rộng lớn này.
+ Thể hiện sự nhạy cảm của thi nhân trước thiên nhiên, cuộc đời. Dường như thiên nhiên, cuộc đời cũng thương cho số kiếp đáng thương, hoàn cảnh lạc lõng của thi nhân mà xúc động, nghẹn ngào, khóc thương cho cuộc đời chàng Hàn Mặc Tử.
Câu 5 :
- Nhận xét cấu tứ bài thơ :
+Trước hết, bài thơ đi từ nỗi buồn vì không thể hồi đáp lại hết tình thương yêu, quý mến của mọi người dành cho thi nhân. Nhà thơ rất muốn đền đáp nhưng bệnh tật khiến chàng không thể đền đáp nổi những điều trân quý ấy. Tiếp đó là nỗi đau đớn, bất lực vì tình yêu không trọn vẹn. Và cuối cùng là nỗi khổ sở, bơ vơ, lạc lõng giữa cuộc đời mênh mông. Như vậy, bài thơ là sự vận động từ sự phiền muộn, khát khao yêu và được yêu sang nỗi khổ sở, bơ vơ, lạc lõng giữa trần thế bao la của thi nhân.
Câu 1 :
" Nhà văn sáng tạo nhân vật là để gửi gắm những tư tưởng, tình cảm và quan niệm của mình về cuộc đời " - Sêkhốp. Nhân vật chính là linh hồn, là phương tiện quan trọng trong việc thể hiện giá trị của một tác phẩm văn học. Điều ấy được thể hiện rõ nét qua nhân vật bé Em trong truyện ngắn " Áo Tết" của Nguyễn Ngọc Tư. Bé Em được sinh ra trong một gia đình đầy đủ, khá giả, có điều kiện và cuộc sống an nhàn, hạnh phúc, được gia đình chiều chuộng hết mực. Tết đến, bé Em được mẹ sắm cho tới bốn bộ đồ để diện từ mùng một đến tận mùng bốn, trong đó có một bộ đầm hồng mới thắt nơ, bâu viền kim tuyến rất đẹp. Tuy gia đình khá giả nhưng Em rất khiêm tốn, hiểu chuyện. Bé mang tâm hồn của môt trẻ thơ nên rất thích khoe đồ mới. Nhưng dù còn nhỏ, bé Em đã là một cô bé nhạy cảm và tinh tế. Khi nghe Bích nói về hoàn cảnh của mình, bé Em đã khựng lại, hết hứng, nửa muốn khoe nửa muốn không. Bé muốn khoe vì cái nỗi sung sướng của trẻ con khi được may áo mới vẫn còn chộn rộn trong lòng, nhưng bé cũng không muốn khoe vì như thế sẽ khiến bạn cảm thấy tủi thân. Bé Em rất hiểu hoàn cảnh gia đình bé Bích – bạn mình rất khó khăn, vất vả, đông con, hiểu được Bích đã luôn phải chịu thiệt thòi, mặc lại quần áo cũ của anh trai, phải nhường quần áo mới cho em, ít khi được mặc một bộ quần áo mới dành cho riêng mình. Dù rất thích chiếc váy hồng, nơ hoa rất xinh mẹ tặng nhưng ngày mồng hai Tết đi thăm cô giáo bé Em lại không mặc, không khoe bộ quần áo mới đó mà chỉ vì nghĩ đến người bạn thân của mình. Em mặc bộ đồ gần giống bé Bích là áo thun có in hình mèo bự chứ không phải bộ váy lộng lẫy được mẹ mua tặng. Em đã hiểu được nếu em mặc bộ quần áo mới và đẹp, bạn không có sẽ buồn và tủi thân, mặc cảm và bé Em sẵn lòng bỏ đi niềm vui của mình vì bạn. Bên cạnh đó, ta còn cảm nhận được bé Em là cô bé giàu lòng nhân ái, đồng cảm với bạn, có tình bạn trong sáng, vô tư. Mặc dù bé Em và bé Bích có hai hoàn cảnh sống khác nhau nhưng bé Em không phân biệt giàu nghèo, không tính toán thiệt hơn, không coi thường mà chơi với Bích rất thân thiết từ nhỏ, ngồi cùng bàn học từ lớp một đến hết lớp năm, lúc nào cũng tíu tít như đôi chim sẻ, đi đâu cũng có nhau. Khi chứng kiến đôi mắt “xịu xuống, buồn hẳn” của bạn, và nghĩ đến hoàn cảnh của bạn, bé Em đã có một cách hành xử vô cùng đẹp, vô cùng nhân văn, đó là ngày đi chúc tết cô giáo, để bạn không bị mặc cảm, bé em đã mặc đồ hơi giống bạn. Một cách hành xử rất trẻ con, nhưng lại khiến ta xúc động vì cách hành xử đó xuất phát từ sự sẻ chia, lòng yêu thương, từ sự sâu sắc và tinh tế của tâm hồn của một đứa trẻ và cách hành xử ấy đáng cho người lớn phải học tập. Tình cảm mà bé Em dành cho bé Bình là một thứ tình cảm trong sáng, vô tư, hồn nhiên, tôn trọng lẫn nhau, đó là tình cảm không dễ gì có được trong xã hội hiện nay. Với tình huống truyện đơn giản, cách sử dụng ngôn ngữ tự nhiên, ngôi kể thứ 3, Nguyễn Ngọc Tư đã khéo léo khắc họa nhân vật bé Em qua từng chi tiết nhỏ nhưng đầy sức sống, từ ánh mắt mong chờ đến những cử chỉ, lời nói thuần khiết mà thấm thía. Em không chỉ là hình ảnh của một đứa trẻ, mà còn là tấm gương về sự lạc quan, chia sẻ và niềm tin vào những điều tốt đẹp. Từ đó, tác giả đã gửi gắm những thông điệp sâu sắc: dù cuộc sống có khó khăn, những ước mơ giản dị và tình yêu thương sẽ luôn là ngọn lửa sưởi ấm và làm đẹp tâm hồn con người Bé Em, với tâm hồn và trái tim đây yêu thương, đã để lại trong lòng người đọc một biểu tượng khó phai về vẻ đẹp của con người.
Câu 2 :
Cuộc sống hiện đại với nhịp độ hối hả và sự phát triển vượt bậc của khoa học công nghệ đã mang lại cho con người những thành tựu vật chất to lớn. Tuy nhiên, đằng sau sự giàu có ấy là những hệ lụy tinh thần như stress, cô đơn và trầm cảm. Vấn đề đặt ra là làm thế nào để cân bằng giữa giá trị vật chất và giá trị tinh thần, nhằm xây dựng một cuộc sống hài hòa, hạnh phúc thực sự. Đây không chỉ là yêu cầu của cá nhân mà còn là bài học xã hội sâu sắc.
Giá trị vật chất bao gồm tiền bạc, nhà cửa, xe cộ, những tiện nghi đáp ứng nhu cầu sinh lý và sự thoải mái hàng ngày. Ngược lại, giá trị tinh thần là sức khỏe tâm hồn, tình yêu thương, sự bình an nội tại, niềm vui từ mối quan hệ và sự đóng góp cho cộng đồng. Hai giá trị này không đối lập mà bổ trợ lẫn nhau. Vật chất là nền tảng để theo đuổi tinh thần, còn tinh thần là kim chỉ nam giúp sử dụng vật chất một cách ý nghĩa.
Trong thực tế, nhiều người hiểu được tầm quan trọng của việc cân bằng giữa vật chất và tinh thần. Họ chăm chỉ học tập, lao động để xây dựng cuộc sống ổn định, đồng thời dành thời gian quan tâm đến gia đình, nuôi dưỡng tâm hồn và tham gia các hoạt động ý nghĩa cho xã hội. Những người như vậy thường sống lạc quan, có trách nhiệm và nhận được sự tôn trọng từ người khác. Tuy nhiên, cũng có không ít người quá chạy theo vật chất, coi tiền bạc và danh vọng là thước đo duy nhất của thành công. Họ có thể làm việc quá sức, bỏ bê gia đình, thậm chí sẵn sàng đánh đổi đạo đức để đạt được lợi ích cá nhân. Ngược lại, một số người lại quá chú trọng đời sống tinh thần mà thiếu sự cố gắng trong lao động và học tập, khiến cuộc sống trở nên khó khăn, thiếu ổn định.
Trong xã hội ngày nay ta bắt gặp rất nhiều tấm gương sáng về việc cân bằng giữa giá trị vật chất và giá trị tinh thần. Bill Gates-ông là người sáng lập Microsoft và từng nhiều năm nằm trong nhóm người giàu nhất thế giới. Tuy đạt được thành công lớn về vật chất, Bill Gates vẫn dành phần lớn tài sản của mình cho các hoạt động từ thiện thông qua Bill & Melinda Gates Foundation. Quỹ này đã hỗ trợ hàng triệu người trên thế giới trong lĩnh vực y tế, giáo dục và chống đói nghèo. Điều đó cho thấy ông biết cân bằng giữa thành công vật chất và giá trị tinh thần, sống vì cộng đồng. Nguyễn Ngọc Ký dù bị liệt hai tay từ nhỏ, ông vẫn kiên trì luyện viết bằng chân để học tập và trở thành một nhà giáo, nhà văn. Cuộc đời ông cho thấy dù điều kiện vật chất hạn chế nhưng với ý chí và tinh thần mạnh mẽ, con người vẫn có thể vươn lên và sống có ích. Ông là tấm gương về sức mạnh tinh thần và nghị lực sống.
Việc cân bằng giữa giá trị vật chất và giá trị tinh thần mang lại nhiều ý nghĩa quan trọng. Trước hết, nó giúp con người có cuộc sống ổn định và hạnh phúc hơn. Vật chất đảm bảo điều kiện sống, còn tinh thần giúp con người cảm thấy vui vẻ, bình an và có động lực để vươn lên. Bên cạnh đó, sự cân bằng này còn góp phần hình thành nhân cách tốt đẹp, giúp con người sống có trách nhiệm với bản thân, gia đình và xã hội. Khi mỗi cá nhân biết sống hài hòa giữa vật chất và tinh thần, xã hội cũng sẽ trở nên tốt đẹp và nhân văn hơn. Đồng thời nó giúp con người tiến đến thành công một cách nhanh chóng và dễ dàng hơn, vượt qua được những khó khăn, thách thức và trở ngại mà không nản chí hay chùn bước, e ngại bởi " lửa thử vàng gian nan thử sức ". Ta sẽ trở thành phiên bản hoàn hảo nhất mà ta luôn mong muốn và sống trong những năm tháng rực rỡ để không phải tiếc nuối, hối hận với bất cứ điều gì mà bản thân mình đã vô tình bỏ lỡ một cách hoài phí.
Tuy nhiên, trong xã hội vẫn tồn tại những người sống thực dụng, quá coi trọng vật chất mà xem nhẹ các giá trị tinh thần. Họ dễ rơi vào lối sống ích kỉ, lạnh lùng, thậm chí làm những việc trái với đạo đức để đạt được lợi ích cá nhân. Bên cạnh đó, cũng có những người sống thụ động, thiếu ý chí phấn đấu, chỉ quan tâm đến cảm xúc cá nhân mà không nỗ lực xây dựng cuộc sống vật chất ổn định. Những cách sống này đều khiến con người khó đạt được hạnh phúc thực sự.
Mỗi người cần nhận thức rằng cả giá trị vật chất và giá trị tinh thần đều có vai trò quan trọng trong cuộc sống. Vật chất giúp con người có điều kiện sống ổn định, còn tinh thần giúp cuộc sống trở nên ý nghĩa và hạnh phúc hơn. Vì vậy, chúng ta cần biết cân bằng giữa hai yếu tố này, không nên quá chạy theo tiền bạc mà quên đi những giá trị tốt đẹp của tâm hồn. Về hành động, mỗi người cần chăm chỉ học tập, lao động để tạo dựng cuộc sống vật chất đầy đủ, đồng thời nuôi dưỡng đời sống tinh thần bằng cách sống nhân ái, yêu thương gia đình, trân trọng các mối quan hệ và biết giúp đỡ những người xung quanh. Bên cạnh đó, cần tránh lối sống thực dụng, ích kỉ, chỉ coi trọng vật chất mà xem nhẹ đạo đức và tình cảm. Khi biết sống hài hòa giữa vật chất và tinh thần, con người sẽ có cuộc sống cân bằng, hạnh phúc và ý nghĩa hơn.
Tóm lại, giá trị vật chất và giá trị tinh thần đều là những yếu tố cần thiết đối với cuộc sống của con người. Chỉ khi biết cân bằng giữa hai yếu tố này, chúng ta mới có thể đạt được hạnh phúc trọn vẹn và phát triển toàn diện. Vì vậy, mỗi người cần biết trân trọng cả vật chất lẫn tinh thần để xây dựng một cuộc sống hài hòa, tốt đẹp và giàu ý nghĩa.
Câu 1:
- Văn bản trên thuộc thể loại : truyện ngắn.
Câu 2 :
- Đề tài của văn bản " Áo Tết " : tình bạn ( sự sẻ chia và thấu hiểu )
Câu 3 :
- Sự thay đổi điểm nhìn trong đoạn trích :
+ Trong đoạn trích, điểm nhìn có sự chuyển dịch từ người kể chuyện ( điểm nhìn khách quan bên ngoài ) sang điểm nhìn của nhân vật bé Em ( điểm nhìn nội tâm bên trong )
- Tác dụng của việc thay đổi điểm nhìn trong văn bản " Áo Tết " :
+ Tăng tính hấp dẫn cho câu chuyện, tạo sự hứng thú, lôi cuốn với người đọc.
+ Làm nổi bật được suy nghĩ, cảm xúc tinh tế, tấm lòng nhân hậu của nhân vật bé Em
+ Làm cho câu chuyện trở nên chân thực, cảm động và giàu tính nhân văn hơn khi người đọc đươc trực tiếp nhìn thấy sự đấu tranh tâm lí và quyết định chọn tình bạn thay vì sở thích cá nhân.
+ Qua đó, ta thấy được tình bạn thắm thiết, thân thương, luôn thấu hiểu và biết nghĩ cho nhau.
Câu 4 :
- Ý nghĩa của chi tiết chiếc áo đầm hồng trong việc thể hiện, bộc lộ tính cách các nhân vật :
+ Bé Em: Chiếc áo là niềm ao ước, là biểu tượng của niềm vui ngày Tết. Tuy nhiên, việc bé Em quyết định không mặc nó để đồng điệu với bộ cũ của bạn-Bích cho thấy sự tinh tế, lòng trắc ẩn và một tình bạn chân thành, thắm thiết, luôn thấu hiểu cho nhau.
+ Bích: Sự tương phản giữa chiếc áo đầm hồng trong suy nghĩ của bé Em và bộ đồ cũ của Bích làm nổi bật hoàn cảnh khó khăn của Bích, qua đó ca ngợi sự tự trọng và hồn nhiên của em.
=> Chiếc áo trở thành " thước đo " lòng tốt và sự trưởng thành trong suy nghĩ trẻ thơ, qua đó ngợi ca tình bạn cao quý.
Câu 5 :
Từ câu chuyện của bé Em và bé Bích, em rút ra bài học quý giá rằng tình bạn chân chính không xây dựng trên vật chất mà dựa trên sự thấu hiểu, đồng cảm và sẻ chia, yêu thương. Sự sẻ chia không nhất thiết phải là những món quà đắt tiền, mà đôi khi chỉ là sự tinh tế để không làm bạn tổn thương, là việc sẵn sàng gạt bỏ cái tôi cá nhân vì niềm vui của người khác. Trong cuộc sống, chúng ta nên học cách quan tâm đến cảm xúc của những người xung quanh, biết trân trọng và giữ gìn tình bạn bằng tấm lòng chân thành và vị tha. Chỉ khi biết nghĩ cho nhau thì tình bạn mới thực sự lâu bền theo thời gian và sưởi ấm tâm hồn mỗi con người.
♦ Ảnh hưởng của chế độ thực dân với các thuộc địa
- Ảnh hưởng tiêu cực:
+ Về kinh tế: nền kinh tế các nước Đông Nam Á đều yếu kém, lạc hậu, phụ thuộc vào kinh tế tư bản chủ nghĩa phương Tây.
+ Về chính trị - xã hội: chính sách “chia để trị” của thực dân đã khoét sâu mâu thuẫn vùng miền, sắc tộc, tôn giáo. Mâu thuẫn giữa các giai tầng trong xã hội gay gắt.
+ Về văn hoá: chính sách đồng hoá văn hoá của thực dân phương Tây đã làm mai một không ít những giá trị văn hoá bản địa Đông Nam Á.
- Ảnh hưởng tích cực: xuất phát từ mục tiêu khai thác thuộc địa, các nước thực dân phương Tây đã phát triển hệ thống giao thông vận tải, cầu cảng, nhà máy, hầm mỏ, đồn điền và du nhập phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa vào Đông Nam Á. Vì thế, diện mạo các quốc gia Đông Nam Á cũng có những biến đổi mang tính tích cực.
♦ Liên hệ Việt Nam: Ở Việt Nam, hơn 80 năm cai trị của thực dân Pháp đã để lại những hậu quả nặng nề trên mọi lĩnh vực. Ví dụ như:
- Về chính trị: từ một quốc gia thống nhất, dưới sự thống trị của thực dân Pháp, Việt Nam bị chia thành 3 xứ với 3 chế độ khác nhau: Bắc Kì là xứ bảo hộ; Trung Kỳ là xứ nửa bảo hộ; Nam Kỳ là xứ thuộc địa. Tên nước Việt Nam bị xóa trên bản đồ chính trị thế giới.
- Về kinh tế: sự của du nhập phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa tuy đem lại một số chuyển biến tích cực, tuy nhiên, đó chỉ là sự chuyển biến mang tính cục bộ ở một số ngành nghề, một số địa phương. Về cơ bản, kinh tế Việt Nam vẫn nghèo nàn, lạc hậu, phát triển thiếu cân đối và lệ thuộc nặng nề vào kinh tế Pháp;
- Về xã hội: hầu hết các giai cấp, tầng lớp nhân dân ở Việt Nam bị áp bức, bóc lột nặng nề, lâm vào cảnh nghèo khổ, bần cùng. Mâu thuẫn dân tộc giữa nhân dân Việt Nam với thực dân Pháp xâm lược bao trùm xã hội, làm bùng nổ nhiều cuộc đấu tranh yêu nước.
- Về văn hóa: đại bộ phận dân cư vẫn trong tình trạng nghèo đói, lạc hậu, trình độ dân trí thấp (hơn 90% dân số Việt Nam mù chữ); nhiều giá trị văn hóa truyền thống của Việt Nam bị xói mòn; trong xã hội tồn tại phổ biến nhiều hủ tục, tệ nạn xã hội, như: cờ bạc, mại dâm, hút thuốc phiện,…
Quá trình xâm lược và cai trị của thực dân phương Tây ở Đông Nam Á hải đảo
- Từ sau các cuộc phát kiến địa lí, các nước tư bản phương Tây tăng cường tìm kiếm thị trường và thuộc địa; trong khi đó, các quốc gia phong kiến ở Đông Nam Á đang suy yếu, khủng hoảng. Nhân cơ hội này, các nước tư bản phương Tây tiến hành xâm lược và cai trị các nước ở Đông Nam Á.
+ Ở Indonesia, từ thế kỉ XV - XVI, các thế lực thực dân Bồ Đào Nha và Hà Lan cạnh tranh ảnh hưởng. Đến thế kỉ XIX, Hà Lan hoàn thành việc xâm chiếm và thiết lập ách thống trị thực dân trên đất nước này.
+ Ở Philíppin: Từ thế kỉ XVI, Philíppin bị thực dân Tây Ban Nha thống trị. Sau khi thất bại trong cuộc chiến tranh với Mỹ (1898), Tây Ban Nha đã nhượng quyền quản lí thuộc địa Philíppin cho Mỹ. Từ năm 1899, Philíppin trở thành thuộc địa của Mỹ.
+ Ở Mã Lai, năm 1826, thực dân Anh đẩy mạnh xâm chiếm các tiểu quốc như Kêđa, Pênang,... và thành lập Mã Lai thuộc Anh vào năm 1895.
- Các nước thực dân phương Tây đã thực thi chính sách chính trị hà khắc, đàn áp phong trào đấu tranh của các tầng lớp nhân dân, vơ vét bóc lột cạn kiệt nguồn tài nguyên thiên nhiên. Hầu hết các nước Đông Nam Á hải đảo đều rơi vào tình trạng lạc hậu, phụ thuộc nặng nề vào nền kinh tế của các nước phương Tây.