Trần Minh Thuận
Giới thiệu về bản thân
.
Câu 1
Những phương thức biếu đạt trong bài thơ: Biếu cảm, miêu tả.
Câu 2
Đề tài: Nỗi buồn/ Sự đau khổ.
Câu 3
-xác định được một hình ảnh mang tính tượng trưng trong bài thơ. Chẳng hạn như một số hình ảnh:
mặt nhựt tan thành máu, hồn ( một nửa hồn tôi mất, một nửa hồn tôi bỗng dại khờ
), bông phượng nở trong màu huyết, giọt châu.
- Nhận xét: cảm nhận cá nhân về hình ảnh đó và đưa ra lí giải hợp lí Hình ảnh hồn
tượng trưng cho cái tôi cá nhân, cho sự cô đơn, tuyệt vọng của chính thi nhân gắn liền với mặc cảm chia lìa. Khát khao yêu và được yêu, nhưng tình yêu của Hàn Mặc Tử vẫn tan vỡ, người kia vẫn ra đi, khiến cho thi sĩ ngậm ngùi, đau đớn, thất vọng.
Câu 4
- biện pháp tu từ được sử dụng trong khố thơ cuối: Câu hỏi tu từ:
Tôi vẫn còn đây hay ở đâu?/ Sao bông phượng nở trong màu huyết,/ Nhỏ xuống lòng tôi những giọt châu?
- Tác dụng:
+ Thế hiện sự bơ vơ, lạc lõng của thi nhân giữa trần thế bao la, rộng lớn này.
+ Thế hiện sự nhạy cảm của thi nhân trước thiên nhiên, cuộc đời: Dường như thiên nhiên, cuộc đời cũng thương cho số kiếp đáng thương, hoàn cảnh lạc lõng của thi nhân mà xúc động, nghẹn ngào, khóc thương cho cuộc đời chàng Hàn Mặc Tử.
Câu 5
- mạch cảm xúc để rút ra nhận xét về cấu tứ.
- Trước hết, bài thơ đi từ nỗi buồn vì không thế hồi đáp lại hết tình thương yêu, quý mến của mọi người dành cho thi nhân. Nhà thơ rất muốn đền đáp nhưng bệnh tật khiến chàng không thể đền đáp nổi những điều trân quý ấy.
Tiếp đó là nỗi đau đớn, bất lực vì tình yêu không trọn vẹn. Và cuối cùng là nỗi khổ sở, bơ vơ, lạc lõng giữa cuộc đời mênh mông. Như vậy, bài thơ là sự vận động từ sự phiền muộn, khát khao yêu và được yêu sang nỗi khổ sở, bơ vơ, lạc lõng giữa trần thế bao la của thi nhân.