Chảo Thị Ngọc

Giới thiệu về bản thân

Chào mừng bạn đến với trang cá nhân của Chảo Thị Ngọc
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
(Thường được cập nhật sau 1 giờ!)

Câu1

Bài thơ "Cảnh ngày hè" của Nguyễn Trãi là một bức tranh thiên nhiên tuyệt đẹp, thể hiện tâm hồn yêu đời, yêu nước và thương dân của tác giả. Với ngôn ngữ giản dị, hình ảnh sinh động, bài thơ đưa ta đến một cảnh ngày hè rộn ràng, tươi vui. Bức tranh thiên nhiên* Cây hòe xanh tốt, tán lá rộng che rợp Thạch lựu đỏ rực, hoa sen hồng tỏa hương ​Tiếng ve kêu dắng dỏi, chợ cá lao xao Tâm hồn tác giả Yêu thiên nhiên, yêu cuộc sống ​Mong muốn dân giàu, nước mạnh ​Ước mơ có cây đàn Ngu cầm để ca ngợi cảnh thái bình Bài thơ không chỉ là một bức tranh thiên nhiên đẹp mà còn thể hiện tâm hồn cao quý của Nguyễn Trãi, một nhà thơ yêu nước thương dân

Câu 2 ​ Cảm nhận ​​về văn bản sau: Rồi hóng mát thuở ngày trường. Hoè lục đùn đùn tán rợp trương. Thạch lựu hiên còn phun thức đỏ. Hồng liên trì đã tịn mùi hương. Lao xao chợ cá làng ngư phủ; Dắng dỏi cầm ve lầu tịch dương. Lẽ có Ngu cầm đàn một tiếng, Dân giàu đủ khắp đòi phương. ​​​​​​​​

Câu 1 ​ Thể thơ: Thất ngôn bát cú Đường luật (8 câu, mỗi câu 7 chữ). Câu 2 ​ Những hình ảnh nói về nét sinh hoạt hàng ngày đạm bạc, thanh cao của tác giả: Công cụ lao động giản dị: mai, cuốc, cần câu. Thức ăn dân dã theo mùa: măng trúc (mùa thu), giá (mùa đông). Sinh hoạt hòa hợp với thiên nhiên: tắm hồ sen (mùa xuân), tắm ao (mùa hạ). Câu 3 ​ Biện pháp tu từ liệt kê: mai, cuốc, cần câu. Tác dụng: Tạo nhịp điệu thong thả cho câu thơ, gợi tư thế ung dung, tự tại. Khắc họa hình ảnh một "lão nông" thực thụ với những vật dụng quen thuộc của nhà nông, cho thấy cuộc sống lao động chân tay giản dị, tách biệt khỏi những toan tính đời thường. Câu 4 ​ Quan niệm "dại - khôn" của tác giả rất đặc biệt vì nó đi ngược lại với lẽ thường của số đông: Cái "dại" của tác giả: Tìm nơi "vắng vẻ" (nơi tĩnh lặng, không cầu danh lợi) để bảo giữ cốt cách, tâm hồn trong sạch. Đây thực chất là cái "khôn" của bậc đại trí – biết dừng đúng lúc để tìm thấy sự bình an. Cái "khôn" của người đời: Tìm đến "chốn lao xao" (nơi cửa quyền, tranh giành danh lợi). Theo tác giả, đây thực ra lại là cái "dại" vì con người dễ bị cuốn vào vòng xoáy lợi lộc mà đánh mất bản ngã. Cách nói ngược (dùng cái dại để chỉ cái khôn) thể hiện thái độ mỉa mai với thói đời ham hố danh lợi và khẳng định bản lĩnh, trí tuệ của mình. Câu 5 ​​​ Qua văn bản, ta thấy hiện lên vẻ đẹp nhân cách cao cả của Nguyễn Bỉnh Khiêm. Đó là một con người luôn khao khát sống hòa hợp với thiên nhiên, tìm thấy niềm vui trong lao động bình dị và những thức quà dân dã của quê hương. Nhân cách ấy còn tỏa sáng ở bản lĩnh kiên định, sự tỉnh táo trước những cám dỗ của vinh hoa phú quý, coi tất cả chỉ như "một giấc chiêm bao". Sống giữa cuộc đời lao xao nhưng ông vẫn giữ cho mình một tâm hồn thanh cao, trí tuệ thông thái và một phong thái ung dung, tự tại. Chính triết lý "nhàn" ấy đã khẳng định một lối sống đẹp, lánh đục tìm trong của một bậc thức giả lớn.

Câu 1 ​ Thể thơ: Thất ngôn bát cú Đường luật (8 câu, mỗi câu 7 chữ). Câu 2 ​ Những hình ảnh nói về nét sinh hoạt hàng ngày đạm bạc, thanh cao của tác giả: Công cụ lao động giản dị: mai, cuốc, cần câu. Thức ăn dân dã theo mùa: măng trúc (mùa thu), giá (mùa đông). Sinh hoạt hòa hợp với thiên nhiên: tắm hồ sen (mùa xuân), tắm ao (mùa hạ). Câu 3 ​ Biện pháp tu từ liệt kê: mai, cuốc, cần câu. Tác dụng: Tạo nhịp điệu thong thả cho câu thơ, gợi tư thế ung dung, tự tại. Khắc họa hình ảnh một "lão nông" thực thụ với những vật dụng quen thuộc của nhà nông, cho thấy cuộc sống lao động chân tay giản dị, tách biệt khỏi những toan tính đời thường. Câu 4 ​ Quan niệm "dại - khôn" của tác giả rất đặc biệt vì nó đi ngược lại với lẽ thường của số đông: Cái "dại" của tác giả: Tìm nơi "vắng vẻ" (nơi tĩnh lặng, không cầu danh lợi) để bảo giữ cốt cách, tâm hồn trong sạch. Đây thực chất là cái "khôn" của bậc đại trí – biết dừng đúng lúc để tìm thấy sự bình an. Cái "khôn" của người đời: Tìm đến "chốn lao xao" (nơi cửa quyền, tranh giành danh lợi). Theo tác giả, đây thực ra lại là cái "dại" vì con người dễ bị cuốn vào vòng xoáy lợi lộc mà đánh mất bản ngã. Cách nói ngược (dùng cái dại để chỉ cái khôn) thể hiện thái độ mỉa mai với thói đời ham hố danh lợi và khẳng định bản lĩnh, trí tuệ của mình. Câu 5 ​​​ Qua văn bản, ta thấy hiện lên vẻ đẹp nhân cách cao cả của Nguyễn Bỉnh Khiêm. Đó là một con người luôn khao khát sống hòa hợp với thiên nhiên, tìm thấy niềm vui trong lao động bình dị và những thức quà dân dã của quê hương. Nhân cách ấy còn tỏa sáng ở bản lĩnh kiên định, sự tỉnh táo trước những cám dỗ của vinh hoa phú quý, coi tất cả chỉ như "một giấc chiêm bao". Sống giữa cuộc đời lao xao nhưng ông vẫn giữ cho mình một tâm hồn thanh cao, trí tuệ thông thái và một phong thái ung dung, tự tại. Chính triết lý "nhàn" ấy đã khẳng định một lối sống đẹp, lánh đục tìm trong của một bậc thức giả lớn.

Câu 1 ​ Thể thơ: Thất ngôn bát cú Đường luật (8 câu, mỗi câu 7 chữ). Câu 2 ​ Những hình ảnh nói về nét sinh hoạt hàng ngày đạm bạc, thanh cao của tác giả: Công cụ lao động giản dị: mai, cuốc, cần câu. Thức ăn dân dã theo mùa: măng trúc (mùa thu), giá (mùa đông). Sinh hoạt hòa hợp với thiên nhiên: tắm hồ sen (mùa xuân), tắm ao (mùa hạ). Câu 3 ​ Biện pháp tu từ liệt kê: mai, cuốc, cần câu. Tác dụng: Tạo nhịp điệu thong thả cho câu thơ, gợi tư thế ung dung, tự tại. Khắc họa hình ảnh một "lão nông" thực thụ với những vật dụng quen thuộc của nhà nông, cho thấy cuộc sống lao động chân tay giản dị, tách biệt khỏi những toan tính đời thường. Câu 4 ​ Quan niệm "dại - khôn" của tác giả rất đặc biệt vì nó đi ngược lại với lẽ thường của số đông: Cái "dại" của tác giả: Tìm nơi "vắng vẻ" (nơi tĩnh lặng, không cầu danh lợi) để bảo giữ cốt cách, tâm hồn trong sạch. Đây thực chất là cái "khôn" của bậc đại trí – biết dừng đúng lúc để tìm thấy sự bình an. Cái "khôn" của người đời: Tìm đến "chốn lao xao" (nơi cửa quyền, tranh giành danh lợi). Theo tác giả, đây thực ra lại là cái "dại" vì con người dễ bị cuốn vào vòng xoáy lợi lộc mà đánh mất bản ngã. Cách nói ngược (dùng cái dại để chỉ cái khôn) thể hiện thái độ mỉa mai với thói đời ham hố danh lợi và khẳng định bản lĩnh, trí tuệ của mình. Câu 5 ​​​ Qua văn bản, ta thấy hiện lên vẻ đẹp nhân cách cao cả của Nguyễn Bỉnh Khiêm. Đó là một con người luôn khao khát sống hòa hợp với thiên nhiên, tìm thấy niềm vui trong lao động bình dị và những thức quà dân dã của quê hương. Nhân cách ấy còn tỏa sáng ở bản lĩnh kiên định, sự tỉnh táo trước những cám dỗ của vinh hoa phú quý, coi tất cả chỉ như "một giấc chiêm bao". Sống giữa cuộc đời lao xao nhưng ông vẫn giữ cho mình một tâm hồn thanh cao, trí tuệ thông thái và một phong thái ung dung, tự tại. Chính triết lý "nhàn" ấy đã khẳng định một lối sống đẹp, lánh đục tìm trong của một bậc thức giả lớn.

Câu 1 ​ Thể thơ: Thất ngôn bát cú Đường luật (8 câu, mỗi câu 7 chữ). Câu 2 ​ Những hình ảnh nói về nét sinh hoạt hàng ngày đạm bạc, thanh cao của tác giả: Công cụ lao động giản dị: mai, cuốc, cần câu. Thức ăn dân dã theo mùa: măng trúc (mùa thu), giá (mùa đông). Sinh hoạt hòa hợp với thiên nhiên: tắm hồ sen (mùa xuân), tắm ao (mùa hạ). Câu 3 ​ Biện pháp tu từ liệt kê: mai, cuốc, cần câu. Tác dụng: Tạo nhịp điệu thong thả cho câu thơ, gợi tư thế ung dung, tự tại. Khắc họa hình ảnh một "lão nông" thực thụ với những vật dụng quen thuộc của nhà nông, cho thấy cuộc sống lao động chân tay giản dị, tách biệt khỏi những toan tính đời thường. Câu 4 ​ Quan niệm "dại - khôn" của tác giả rất đặc biệt vì nó đi ngược lại với lẽ thường của số đông: Cái "dại" của tác giả: Tìm nơi "vắng vẻ" (nơi tĩnh lặng, không cầu danh lợi) để bảo giữ cốt cách, tâm hồn trong sạch. Đây thực chất là cái "khôn" của bậc đại trí – biết dừng đúng lúc để tìm thấy sự bình an. Cái "khôn" của người đời: Tìm đến "chốn lao xao" (nơi cửa quyền, tranh giành danh lợi). Theo tác giả, đây thực ra lại là cái "dại" vì con người dễ bị cuốn vào vòng xoáy lợi lộc mà đánh mất bản ngã. Cách nói ngược (dùng cái dại để chỉ cái khôn) thể hiện thái độ mỉa mai với thói đời ham hố danh lợi và khẳng định bản lĩnh, trí tuệ của mình. Câu 5 ​​​ Qua văn bản, ta thấy hiện lên vẻ đẹp nhân cách cao cả của Nguyễn Bỉnh Khiêm. Đó là một con người luôn khao khát sống hòa hợp với thiên nhiên, tìm thấy niềm vui trong lao động bình dị và những thức quà dân dã của quê hương. Nhân cách ấy còn tỏa sáng ở bản lĩnh kiên định, sự tỉnh táo trước những cám dỗ của vinh hoa phú quý, coi tất cả chỉ như "một giấc chiêm bao". Sống giữa cuộc đời lao xao nhưng ông vẫn giữ cho mình một tâm hồn thanh cao, trí tuệ thông thái và một phong thái ung dung, tự tại. Chính triết lý "nhàn" ấy đã khẳng định một lối sống đẹp, lánh đục tìm trong của một bậc thức giả lớn.

Câu 1 ​ Thể thơ: Thất ngôn bát cú Đường luật (8 câu, mỗi câu 7 chữ). Câu 2 ​ Những hình ảnh nói về nét sinh hoạt hàng ngày đạm bạc, thanh cao của tác giả: Công cụ lao động giản dị: mai, cuốc, cần câu. Thức ăn dân dã theo mùa: măng trúc (mùa thu), giá (mùa đông). Sinh hoạt hòa hợp với thiên nhiên: tắm hồ sen (mùa xuân), tắm ao (mùa hạ). Câu 3 ​ Biện pháp tu từ liệt kê: mai, cuốc, cần câu. Tác dụng: Tạo nhịp điệu thong thả cho câu thơ, gợi tư thế ung dung, tự tại. Khắc họa hình ảnh một "lão nông" thực thụ với những vật dụng quen thuộc của nhà nông, cho thấy cuộc sống lao động chân tay giản dị, tách biệt khỏi những toan tính đời thường. Câu 4 ​ Quan niệm "dại - khôn" của tác giả rất đặc biệt vì nó đi ngược lại với lẽ thường của số đông: Cái "dại" của tác giả: Tìm nơi "vắng vẻ" (nơi tĩnh lặng, không cầu danh lợi) để bảo giữ cốt cách, tâm hồn trong sạch. Đây thực chất là cái "khôn" của bậc đại trí – biết dừng đúng lúc để tìm thấy sự bình an. Cái "khôn" của người đời: Tìm đến "chốn lao xao" (nơi cửa quyền, tranh giành danh lợi). Theo tác giả, đây thực ra lại là cái "dại" vì con người dễ bị cuốn vào vòng xoáy lợi lộc mà đánh mất bản ngã. Cách nói ngược (dùng cái dại để chỉ cái khôn) thể hiện thái độ mỉa mai với thói đời ham hố danh lợi và khẳng định bản lĩnh, trí tuệ của mình. Câu 5 ​​​ Qua văn bản, ta thấy hiện lên vẻ đẹp nhân cách cao cả của Nguyễn Bỉnh Khiêm. Đó là một con người luôn khao khát sống hòa hợp với thiên nhiên, tìm thấy niềm vui trong lao động bình dị và những thức quà dân dã của quê hương. Nhân cách ấy còn tỏa sáng ở bản lĩnh kiên định, sự tỉnh táo trước những cám dỗ của vinh hoa phú quý, coi tất cả chỉ như "một giấc chiêm bao". Sống giữa cuộc đời lao xao nhưng ông vẫn giữ cho mình một tâm hồn thanh cao, trí tuệ thông thái và một phong thái ung dung, tự tại. Chính triết lý "nhàn" ấy đã khẳng định một lối sống đẹp, lánh đục tìm trong của một bậc thức giả lớn.